ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 3

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Cuộc sống xã hội ngày hôm nay có thật nhiều biến chuyển. Xã hội con người tiến bộ thật mau, nhưng cũng làm đảo lộn cuộc sống của nhiều người. Ngày nay, không còn chuyện “con vui thì lại làm vua, con sãi chùa lại quét lá đa”. Người ta có nhiều cơ hội để đổi đời, nhưng cũng có nhiều nguy cơ đánh mất cuộc đời. Con người ngày nay luôn sống trong tâm trạng “cuộc đời như chưa có đáp số”. Người ta luôn phải thăng tiến và luôn phải bảo vệ vị thế của mình; người ta chẳng thể yên ổn với cuộc sống hiện tại vì “nhìn lên thấy mình chẳng bằng ai”. Cuộc chạy đua thăng tiến ấy không bao giờ đủ và lòng con người cũng chẳng thể bình an…

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

3. Lòng mến thể hiện trong “Sống - Với”

3a. Con người cần một “quê nhà”

* Hậu phương và tiền tuyến

Cuộc sống xã hội ngày hôm nay có thật nhiều biến chuyển. Xã hội con người tiến bộ thật mau, nhưng cũng làm đảo lộn cuộc sống của nhiều người. Ngày nay, không còn chuyện “con vui thì lại làm vua, con sãi chùa lại quét lá đa”. Người ta có nhiều cơ hội để đổi đời, nhưng cũng có nhiều nguy cơ đánh mất cuộc đời. Con người ngày nay luôn sống trong tâm trạng “cuộc đời như chưa có đáp số”. Người ta luôn phải thăng tiến và luôn phải bảo vệ vị thế của mình; người ta chẳng thể yên ổn với cuộc sống hiện tại vì “nhìn lên thấy mình chẳng bằng ai”. Cuộc chạy đua thăng tiến ấy không bao giờ đủ và lòng con người cũng chẳng thể bình an…

Bầu khí chung của thời đại như thế làm cho người ta dễ rơi vào tình trạng luôn phải tìm cách thích ứng. Nhu cầu thích ứng trở nên quan trọng hơn là nhu cầu sống an hòa với chính mình. Thích ứng nghĩa là giải quyết vấn đề trước mắt, là đối phó “theo thời vụ” chứ không phải là giải quyết tận căn bản của vấn đề. Đó thường là những giải phát tạm thời chứ không phải một sự giải quyết tận căn; nó không bao gồm sự biết mình rõ rệt hơn, không phải là một kinh nghiệm sâu xa, để lại một bài học nhớ đời cho chính bản thân mình. Cuộc sống ngay nay “chạy” quá nhanh, nên người ta không còn cảm nhận được chính niềm vui của cuộc sống. Cuộc sống “chạy” quá nhanh nên người ta không còn đọng lại một giá trị nhân bản, hoặc một ý nghĩa thân thương, hay một một giá trị “thiêng liêng” nào cho tâm hồn mình.

Ta có thể thấy khá rõ lối sống của con người ngày nay là lối sống của một “người đi đường” chứ không phải là lối sống của một “người ở nhà”. Người ta giải quyết tạm thời những trục trặc để đi qua chứ không phải là một sự sửa đổi cẩn trọng và kỹ lưỡng của bản thân mình. Con người trong xã hội này không còn được an ổn và thanh thản như xưa.

Chính vì thế, trong sâu xa của tâm hồn, con người hiện nay cần đến một “hậu phương”, cần đến một chỗ “ở nhà”, cần một mái ấm cho tâm hồn được nghỉ ngơi thực sự. Henri Nouwen, trong cuốn “Những Dấu Chỉ Của Sự Sống” nói rằng :

“…trong phần lớn thời gian, người công dân thế kỷ XX sống trong nỗi sợ. Nó trở thành căn hộ thường trú của chúng ta, trở thành nền tảng của những quyết định và hoạch định của chúng ta. Cuộc sống có quá nhiều nỗi sợ; người ta hầu như lúc nào cũng có một cái gì đó làm cho sợ; chúng ta gần như không tìm thấy được một người không sợ. . . .” (Xc. Tr.11-12)

Nỗi sợ khắp nơi làm cho người ta không còn là mình, không còn có khả năng tìm lại chính nét độc đáo thân thương của mình. Người ta giống như một kẻ đi học, nhưng học là để đối phó với thời cuộc chứ không phải vì niềm vui của bản thân; phải học đề làm bài, phải học để thi cử, phải học để thăng chức… mà không còn thấy niềm vui được học biết những điều mình thích thú. Nỗi sợ làm cho người ta phát triển bản lãnh đối phó chứ không làm phát triển được bản lãnh sáng tạo. Sáng tạo bản thân, đó là tiêu chuẩn cho sự phát triển lành mạnh của con người… nhưng sự phát triển bản thân chỉ có được khi người ta có đủ thời gian “ở nhà”.

Ở nhà là nơi ta có thể làm những chuyện “vô ích”, nghĩa là những chuyện không nhằm đổi chác mua bán với ai, không để đạt được những đánh giá tốt của ai khác, của xã hội hay của các phong trào… Làm được những chuyện “vô ích” nghĩa là vui chơi, nghĩa là sống thôi chứ không để làm một cái gì. Điều đó cần thiết để con người “biết” được mình, biết được nhu cầu sâu xa và chân thật của chính mình. Điều đó cần thiết để con người khám phá lại nhu cầu “sống với” ai khác, chứ không phải làm được cái gì; nhu cầu được gặp gỡ và được đón nhận một cách căn bản, tức là đón nhận và được đón nhận chính bản thân. Điều đó cần thiết để bù đắp sự trống rỗng do phải lao mình vào đời sống đấu tranh do đòi buộc thích nghi của xã hội. Sinh vật phát triển theo qui luật cạnh tranh sinh tồn, hoặc thích ứng để tồn tại. Nhưng sự thích nghi ấy không phải là phương cách phát triển chính yếu của con người. Nơi con người, thích ứng sẽ làm cho con người không có một căn tính, một thứ căn tính được thể hiện, được diễn tả, được trải mình ra trong hành trình cuộc đời. Điều quan trọng chính yếu của con người là hình thành nên bản thân mình trong dòng lịch sử, diễn giải bản thân mình trong những gặp gỡ và thách đố của cuộc sống, và nhất là khám phá bản thân mình trong tương quan yêu thương. Môi trường thích hợp để thể hiện được điều chính yếu ấy là được sống với ai khác trong bầu khí nghĩa tình, được “ở trong nhà”.

Henri Nouwen cho thấy từ ngữ “ở nhà” có một tầm quan trọng lớn trong đời sống của con người. “Ở nhà” nghĩa là sống trong một sự an hòa từ trong tâm, nghĩa là sống một sự hiệp thông trong chiều sâu ở mức độ bản thân. Ở nhà là nơi ta thoát khỏi tính phòng vệ, được giải phóng khỏi mọi lo lắng, mọi áp lực như một điều kiện để được chấp nhận… Ở nhà là nơi “chúng ta có thể khóc cười, ôm nhau và nhảy, thanh thản mơ mộng hay ngủ say sưa, nơi chúng ta ăn, chơi đọc sách, ngồi bên lò sưởi, nghe nhac, tiếp đón bạn bè. Nhà mình, nơi chúng ta có thể nghỉ ngơi và chữa lành. Nhà mình nơi làm sống lên bao nhiêu tình cảm và xúc cảm, xây trên một hình ảnh duy nhất, đó là căn nhà vui sống; căn nhà của tình yêu” (tr. 21).

Ở nhà là nơi ta là ta, ta được là mình ở trong cái thâm sâu nhất của mình. Ở nhà là nơi ta sống mối tương quan ngôi vị chứ không phải tương quan kinh tế hay tài năng. Trạng thái “ở nhà” thì giống như một nữ tu, về nhà với mẹ, vươn vai khoái chí, thở dài thoải mái, và, một cách tự nhiên, xin mẹ mua cho hai tô phở ăn cho sướng… Ở nhà là nơi mà ta được nâng đỡ “ở bên dưới”, được đón nhận bản thân một cách căn bản, chứ không phải bị xách đầu từ bên trên để rồi tay chân phải quờ quạng để bơi theo… Đỡ nâng “ở bên dưới” nghĩa là một sự chấp nhận toàn vẹn để người khác có thể thực sự là chính họ, là sự hỗ trợ để phát triển bản thân, một sự phát triển gắn liền với gốc rễ của bản thân, chứ không phải một sự uốn nắn từ bên ngoài, làm cho sự phát triển bị lệnh lạc.

* Tìm được sự an hòa

Trong cuốn Tìm Được Đường Về, Henri Nouwen có kể về một thiếu niên 15 tuổi, bị bại não, sống trong cộng đoàn L’Arche, đó là Adam. Adam “không nói được, không tự mình thay quần áo, không tự mình đi được mà cũng chẳng tự mình ăn được nếu không có người giúp đỡ. Anh không khóc, không cười và họa hoằn lắm mới dám nhìn vào người đối diện”… Thế nhưng khi sống và phục vụ cho Adam, tác giả nhận ra được một món quà quí giá từ con người khuyết tật ấy, đó là sự bình an, một sự bình an bén rễ sâu trong con người, bén rễ sâu trong tâm hồn và một sự bình an có khả năng qui tụ thành nên một cộng đoàn xung quanh anh. Con người đầy những khổ đau và mất mát như Adam vẫn trọn vẹn là một món quà quí báu cho người khác; vì anh là một ngôi vị, và lối sống của anh đã “giảm trừ” được mọi thiên kiến giả tạo về một con người.

Có hai người bạn thân, khi người này dến nhà người kia, thì chỉ chào một tiếng, rồi rút quyển sách trong túi ra, nằm đọc sách bên cạnh bạn của mình. Thỉnh thoảng quèo chân nhau một cái, rồi lại im lặng đọc sách. . . Để làm gì ? không để làm gì cả, chỉ để ở với nhau thôi. Điều đơn giản đó, thật ra không phải là một sự nghèo nàn nhưng là một sự phong phú. Trong căn phòng đơn giản đó, có sự chấp nhận của cha mẹ, có sự thanh thản của mọi người trong nhà…. trong căn phòng đó, có người “ở với” mình. Chỉ có thế thôi, nhưng đó lại là một bầu khí quý báu thân thương mà anh không dễ tìm được ở nơi khác.

Xã hội hiện nay luôn thúc người ta đặt câu hỏi “để làm gì?”, “được cái gì ?”… Đó là thế giới “duy hiệu năng”, bị thúc đẩy do mối lo tìm được một thành quả. Đó là thế giới đánh mất cái “ở với”. Thật ra, không phải là người thanh niên ấy không có nhà để ở, không có nhà để đọc sách, nhưng anh ta cảm được một bầu khí nào đó ở bên cạnh người bạn của mình, một bầu khí làm cho anh ta tìm thấy được một sự bình an sâu xa nào đó. Chính những giây phút an bình đó giúp sức cho anh ta trên hành trình cuộc đời.

Người sống trong nỗi lo thì dễ đi tìm sự an toàn bằng cách gia tăng chiếm hữu; tìm “cái có”, tìm cái “sử dụng được” để gia tăng sự an toàn cho bản thân. Nhưng cái “có” không đến được tới ngôi vị của con người, cái “có” chỉ xuê xoa một chút khát vọng sâu xa của con người. Người tìm cái “có” là người quên mất “niềm vui ở với”. Khi mà người ta tìm thành quả, khi mà người ta tìm hưởng thụ, hoặc khi người ta tìm an toàn cho chính mình, người ta chỉ giải quyết chuyện vụn vặt của bản thân mình; và cũng không nhận ra được sự cao qúi của bản thân người khác. Khi đó, người ta chỉ tìm tính hữu dụng của những sự vật, coi người khác như những sự vật, sử dụng người khác, hoặc lạm dụng người khác… Khi tôi đi vào siêu thị, tôi tìm một đồ vật để mình sử dụng; người khác đối với tôi không là gì cả. Còn khi tôi đi đến nhà một người bạn, tôi tìm gặp một con người chứ không phải tìm một đồ dùng để giải quyết chuyện nào đó của tôi. Nhưng cuộc đời con người thì cũng luôn có những cái tréo ngoe : có khi tôi đến với người bạn, tôi chỉ tìm được nơi đó một người giúp đỡ tôi, một người giải quyết dùm tôi một chuyện khó khăn, một người mà tôi sử dụng tốt cho tôi. Lối sống đó chính là một sự lạc đường.

* Một cõi đi - về

Tạm dùng từ ngữ của Trịnh Công Sơn để diễn tả một ý khác, đó là kinh nghiệm rằng cách sống của cuộc đời con người thật ra không phải là một hành trình mải miết, không phải là một nẻo đường thẳng tiến, không phải là kẻ lúc nào cũng đối đầu với những thách đố trên đường đời, nhưng là một hành trình có chốn đi về. Lối sống của cuộc đời, đúng hơn, giống như một người ở nhà và đi làm, đi làm rồi lại trở về; nghĩa là một cuộc đi-về không ngừng. Để có thể dấn bước trên đường đời, người ta luôn phải có nhà, nghĩa là có chỗ để trở về; trở vể để có thể tiếp tục đi. “Tim mỗi người là quê nhà nhỏ” lời hát của Trịnh Công Sơn cũng nhắc nhở ta rằng, ngoài những cuộc đấu tranh giành giật trong cuộc sống, ta vẫn cần có một “quê nhà” trong tim, cần được “ở trong nhà”, cần được sống trong một bầu không khí thân thương, an hòa. Chính sự an hòa trong tim như một hậu phương hùng mạnh có thể giúp con người tìm được sức mạnh bước trên đường đời.

* Thoát nỗi sợ để sống với

Kinh nghiệm cho thấy con người, trong cuộc sống hằng ngày, vẫn thường phải sống trong một tâm trạng phòng vệ; mỗi lần gặp gỡ không chân chính là mỗi lần người ta phải chiến đấu, phải suy tính cách nói, phải tìm thái độ thể hiện… và vì thế, người ta không thực sự thanh thản để có thể sống với. Khi nào con người không còn bận tâm về việc khẳng định trước mặt người khác, nghĩa là khi được thoát khỏi nỗi sợ thì con người mới có thể hiện diện với người khác một cách thanh thản và chân thật.

Quả thật, con người chỉ là mình trong tương quan, nhưng đó là tương quan hiệp thông chứ không phải tương quan cạnh tranh. Tương quan cạnh tranh dễ làm cho người ta đánh mất ý nghĩa bản thân mình, vì lo khẳng định mình “theo đuổi” người khác; tương quan hiệp thông lại giúp ta khám phá khát vọng bên trong và giúp ta khẳng định mình trong hoàn cảnh riêng của chính mình.

Trong tương quan cạnh tranh, ta nhìn tha nhân như một người đe dọa và ta đi vào cuộc đời như một cuộc đấu tranh; trong đó, sự vươn lên của tha nhân làm cho ta sợ hãi, và sự sụp đổ của tha nhân lại làm ta khoái chí. Khi ấy, lòng ta luôn bất an, vì ta giỏi thì có người giỏi hơn ta : ta sợ người đẹp hơn ta, ta sợ người giỏi hơn ta, ta sợ người tài hơn ta, ta sợ người giàu hơn ta…; khi ấy người ta rơi vào căn bệnh “đứng núi này trông núi kia cao”, luôn thấy người khác có điều hơn mình khiến mình phải thèm thuồng; khi ấy, ngấm ngầm trong ta là một ý nghĩ ghen tỵ, cái tình cảm nhỏ nhen ấy làm cho ta buồn với sự lành và vui với sự ác nơi người khác, chứ không phải là “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15). Người ta dễ chia buồn và khó chia vui là như vậy.

Khi con người khám phá ra mình trong tương quan hiệp thông, người ta khám phá ra nét đẹp của bản thân mình, người ta vui thích với chính mình, và nhận ra mình có thể cống hiến cho người khác phẩm chất của riêng mình. Biết chính mình, biết hoàn cảnh và con người của mình, biết khát vọng và ý nghĩa thực sự của bản thân mình, người ta không cảm thấy tha nhân như một người đe dọa, nhưng như một người nâng đỡ; và khi đó, sự hiệp thông mới có thể bắt đầu.

3b. Thiên Chúa làm người, sống kiếp phàm nhân như con người

* Con người được sáng tạo để sống với

Mặc khải Sách Thánh cho chúng ta biết con người được dựng nên được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa; nghĩa là, theo nghĩa chính xác nhất, con người chỉ có niềm vui và sự bình an thực sự khi ở với Chúa, sống với Chúa. Đó là cuộc sáng tạo để cuối cùng hết, con người được “lên thiên đàng”, dĩ nhiên không phải để hưởng “mọi sự vui vẻ”, nhưng là được ở bên Chúa. Nền tảng của “hữu thể người” theo Kinh Thánh là như thế. Sự sống và sống với là nền tảng của mọi giá trị, mọi sinh hoạt, mọi việc làm, mọi thành quả của cuộc sống. Con người hình thành đời mình trong dòng lịch sử, nhưng điều đó không có nghĩa là mức độ hình thành cuộc đời mình lệ thuộc vào những thành quả đạt được, mà lệ thuộc vào mức độ xây dựng được bề dày nghĩa tình trong sống-với.

Tiếng reo vui của Adam khi gặp được Eva cùng cho thấy sự thành đạt của phận người đã được bắt đầu trong niềm vui sống với :

“Con người nói : "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi !” (St 2,23)

Trong lịch sử ơn cứu độ, thái độ lệnh lạc nguy hiểm nhất chính là thái độ “thực dụng”, nghĩa là chỉ dừng lại ở mức độ sự vật, nghĩa là chỉ “sử dụng” Chúa và người khác như những phương tiện cho bản thân mình. Thái độ “thực dụng” khiến cho người ta giữ luật không còn phải là trung tín với Chúa mà là để tự hào về bản thân, dâng lễ vật trong đền thờ không còn là phượng thờ Chúa, mà là để an tâm và để tiếp tục sống bất công với người nghèo…(Xc sứ điệp của Amos). Cũng thế, trong đời sống Giáo Hội, khi người ta không còn nhận ra mạc khải của Chúa là mạc khải chính bản thân Chúa mà chỉ còn biết mạc khải là tỏ bày những chân lý “khách quan” nào đó; không còn nhận ra giao ước với Chúa là giao ước bản thân, ta thuộc trọn về Chúa và Chúa cho Con của Ngài chịu chết cho ta…

Đánh mất mối tương quan sống với, con người có cơ nguy đánh mất chính bản thân mình, vì đã đánh mất hình ảnh Thiên Chúa đã được ghi khắc sâu xa trong tâm hồn mình.

* Thiên Chúa làm người, trước tiên là để ở-với

Lời tựa trong Tin Mừng Thánh Gioan là một trình thuật tóm gọn bản thân và sứ vụ của Ngôi Lời Thiên Chúa, lời tựa ấy nói :

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cự ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14)

Trước đó, sách Châm Ngôn đã nói về sự khôn ngoan được nhân cách hóa mà truyền thống Giáo Hội coi như những lời tiên báo về Ngôi Lời Thiên Chúa, trong đó, đức khôn ngoan là niềm vui của Thiên Chúa và vui chơi với con cái loài người :

“Ngày ngày ta là niềm vui của Người

Trước mặt Người ta không ngớt vui chơi

vui chơi trên mặt đất

vui với con cái loài người” (Cn 8,30-31)

Ý nghĩa đó thật đơn giản nhưng cũng thật căn bản. Ý nghĩa ấy có lẽ cũng góp phần bổ túc cho một bầu khí Kitô giáo hơi quá thiên về “hành động”. Ơn cứu độ là một lịch sử, điều đó đã có phần làm cho ơn cứu độ Kitô giáo được nhìn như một sức năng động, vượt qua những biến động thăng trầm trong dòng lịch sử. Đặc biệt là biến cố đức Giêsu chịu chết, đó là cả một bản hùng ca có nhiều máu và nước mắt. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên bỏ qua môt giá trị khác của ơn cứu độ, đó là sự trầm lắng bình dị hang đá Bêlem, đó là 30 năm Chúa Giêsu sống thầm lặng tại Nagiaret, đó là những giây phút Chúa Giêsu lánh đi cầu nguyện một mình, và đó là những tâm tình lắng động của Chúa Giêsu được trình bày trong Tin Mừng Gioan :

“Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi." (Ga 14,1-4)

Chúa Giêsu nói đến chỗ ở trong nhà Cha. Đó chẳng phải là một không gian nhưng là phẩm chất của một đời sống; là sự an vui, thân mật, ngọt ngào của đời sống thân tình. Chúa Giêsu nói: "Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy", để cho thấy một ngôi nhà thân thương đang chờ đón. Nhà của Cha có nhiều chỗ ở, đó bầu khí mà người ta không còn bận tâm để đấu tranh, để giành giựt, để loại trừ…vì nhà Cha có thể đón nhận những yếu đuối của con người, có thể bao dung những tầm thường của con người, tấm lòng của Chúa Cha "có nhiều chỗ" cho những con người khác nhau, cho những tính khí khác nhau, cho những mảnh đời khác nhau. Đó là chỗ trong tấm lòng quảng đại của Chúa Cha, chỗ của một tình yêu phụ tử giữa Cha với Con.

Chúa Giêsu nói “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” : Chúa Giêsu nói với chúng ta về việc “ở với”, đó là cuộc sống đích thực, vì ở với là vận mạng của con người và là niềm vui của con người; ở với là tất cả bản chất, tất cả ơn gọi mà Chúa trao tặng cho con người. Con người giống hình ảnh Chúa là con người được ở với Chúa. Chúa muốn các môn đệ ở với Người, và ở với người là “thấy Chúa Cha” là thoả mãn được khát vọng sâu xa nhất của con người. Chính sự trầm mặc, an hòa của một tương lai như thế có thể giúp các môn đệ vượt qua được sự sợ hãi và xao xuyến.

* Chúa Giêsu mời ta bước vào đời sống thân mật

Trong Tân Ước, Thiên Chúa bầy tỏ khuôn mặt của Ngài bằng ngôn ngữ của tình yêu. Chúa Giêsu không tỏ mình ra một cách oai nghiêm như Gioan Tẩy Giả, nhưng trong một cung cách bình dân, xuề xoà, gần gũi và có thể đến được với những người nghèo khổ tầm thường nhất. Chúa Giêsu nói với các môn đệ, và cũng là nói với mỗi người Kitô hữu :

“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.(Ga 15,15).

Có lẽ, trong quá khứ, nhiều hình ảnh, nhiều quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa được suy diễn từ hình ảnh một triều đình, khiến cho nhiều phẩm tính đặc biệt của Thiên Chúa, đặc biệt là những phẩm tính của một sự thân mật, được mạc khải trong đức Giêsu, đã không thể hiện được. Trong Đức Giêsu, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa muốn mời gọi con người vào sống trong sự thân mật với Ngài. Thiên Chúa ở với người tín hữu trong tính thân mật.

Cha H. Nouwen cho rằng tính thân mật vượt qua thái độ quá gần và quá xa. Có lẽ chúng ta có thể hiểu được rằng, thái độ của người Kitô hữu đối với Chúa Giêsu không phải là một bài toán lấy điểm trung bình giữa quá gần và quá xa, giữa “gần chùa gọi bụt bằng anh” và “kính nhi viễn chi”; nhưng tính thân mật thuộc về một bình diện khác, không thuộc bình diện lễ nghĩa, nhưng thuộc bình diện tình nghĩa. Trong tính thân mật, người ta vượt qua được những quan niệm lễ nghĩa, và cũng vượt qua được nguy cơ quá gần hoặc quá xa. Tính thân mật không còn là một khoảng cách “không gian”, dù là không gian của lễ nghĩa, những là một hiệp nhất đặc biệt của Kitô giáo : hoà nhi bất đồng; chứ không phải đồng nhất hay dị biệt. Ta có thể khám phá một vài nét của tính thân mật :

- Thân mật là “biết” về nhau : biết ở đây không phải là biết như một tri thức của lý trí, nhưng như một sự thân quen; như người mục tử biết chiên, chứ không phải như người chủ tính toán số chiên của mình.

- Thân mật là qúi trọng bản thân của nhau : sự quí trọng này không phải là được đo đếm theo một tiêu chuẩn tốt đẹp khách quan nào đó, những là do thực tại thuộc về nhau; không phải như người ta đề cao sắc đẹp của một cô hoa hậu, nhưng như người chồng quí trọng bản thân của vợ mình.

- Thân mật là dành riêng cho nhau : Trong đời sống thân mật, người ta dành riêng cho nhau những điều qúi trọng nhất của bản thân mình. Tình nghĩa vợ chồng chẳng hạn, không thể san sẻ cho người khác, vì để bảo vệ sự thân mật của tình yêu giữa hai người.

- Thân mật là hồn nhiên trước mặt nhau : nơi dây, người ta thoát được sự ngại ngần, và cũng thoát được hình thức lễ nghĩa để có thể sống thật, tỏ bày thật bản thân mình cho người mình yêu.

Có thể nói được rằng, khi đánh mất tính thân mật mà Chúa Giêsu mời gọi bước vào, Giáo Hội cũng đánh mất tính chất “ở với” để rơi vào một thứ “đạo sinh hoạt”.

* Bình an Kitô giáo, bình an được ở với

Như thế, chúng ta hiểu được niềm bình an đặc biệt của Kitô giáo, niềm bình an không đặt nền trên một sự an toàn của sự vật, của sự cân bằng những thế lực chính trị… nhưng là sự bình an của tình nghĩa. Khi người ta tưởng sự bình an đến từ môt thế giới sự vật, người ta lo giải quyết vấn đề, dẹp bỏ chướng ngại, thậm chí phải trấn áp những thế lực đối nghịch. Thứ bình an ấy chỉ có thể là sự bình an bên ngoài, bình an của “ngôi nhà sự vật” bao bọc bên ngoài con người. Trong khi đó, bình an Kitô giáo gắn liền với tình yêu, giải đáp nỗi xao xuyến sâu xa trong lòng con người, giải đáp niềm khát vọng sống với của con người. Bình an Kitô giáo, có thể nói vắn gọn, là được Thiên Chúa ở cùng, là cùng đi với Chúa trên nẻo đường sóng gió; nghĩa là vẫn ở với Chúa ngay cả lúc ta đang đi trên nẻo đường gian nan của cuộc đời; bình an Kitô giáo là “ngôi nhà tình nghĩa”, nơi ta được ở với Chúa.

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi”.(Ga 14,27).

3c. Sống linh đạo hiện diện trong đời sống cộng đoàn

* Gợi ý suy niệm

1. Tôi có sống hồn nhiên được trước mặt Chúa không ?

2. Tôi có quá để ý đến “lễ nghĩa” trong đời sống cộng đoàn không ?

* Gợi ý thực hành

1. Hãy thử đến với Thánh Thể Chúa, không bận tâm làm gì, nói gì, mà chỉ thanh thản để cho sự thân mật của ta với Chúa được dâng lên.

Xem lại Phần 2

Xem tiếp Phần 4