ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 5

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Ngõ ra của bản thân là chính tình yêu, và ngõ vào bản thân người khác cũng không là gì khác hơn nẻo đường của tình yêu. Không có tình yêu, người ta mãi mãi đi vòng quanh, phán đoán nhận định ra như một cách “khách quan”, nhưng đúng hơn đó là cách nhận định là một cách chủ quan. Cần phải đi từ trái tim để đi vào “cái ở trong”.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

5. Lòng mến :huyền nhiệm “Ở trong nhau”

5a. Ở trong và ở ngoài

Ngõ ra của bản thân là chính tình yêu, và ngõ vào bản thân người khác cũng không là gì khác hơn nẻo đường của tình yêu. Không có tình yêu, người ta mãi mãi đi vòng quanh, phán đoán nhận định ra như một cách “khách quan”, nhưng đúng hơn đó là cách nhận định là một cách chủ quan. Cần phải đi từ trái tim để đi vào “cái ở trong”.

* “Cái ở trong”

“Cái ở trong” có thế giới riêng của nó. Giống như khi ta mang một cây hoa Đà Lạt về Sàigòn, ta không làm cho nó ra hoa được, vì ta đã không hiểu thế giới riêng của loại hoa ấy. cũng vậy và sâu xa hơn nhiều, một con người có cả một thế giới riêng mà không ai có thể thấu hiểu trọn vẹn được. Chẳng những “cha mẹ sinh con trời sinh tính”, những suốt hành trình cuộc đời của một con người, tất cả những sự việc xẩy ra đều ghi lại một cách sâu xa, âm thầm… nhưng không bao giờ biến mất. Chúng ảnh hưởng vào cuộc đời người ấy và làm nên một thế giới riêng. Những hành vi, những lời nói, những chọn lựa của một con người… bao giờ cũng xuất hiện ra ta thế giới riêng ấy mà người ngoài chỉ phỏng đoán một phần rất nhỏ.

Cái bên trong có “lô-gích” phát triển riêng của nó. Lựa chọn của một con người không phải chỉ là cân nhắc lợi ích bên ngoài, những điều mà người khác cũng thấy được, nhưng chính yếu phát xuất từ những suy tính dựa trên những cảm nhận từ bên trong. Do đó, nhiều khi ta thấy có những lựa chọn “ngu dốt”, hoặc “điên rồ”, nhưng đó lại là những lựa chọn không thể khác hơn được của chính đương sự. Khi tôn trọng lô-gích bên trong, người ta tìm được một sự an hòa của mình với chính mình. Ngược lại, có những người quá quan tâm đến việc thích ứng, người đó có nhiều nguy cơ đánh mất sự thống nhất hữu cơ trong chính bản thân mình. Sự sống của “người thích ứng” là một sự sống thiếu mạch lạc trong nẻo đường dài hơi, thiếu sự liên tục như một dòng sự sống, thiếu nhất quán trong cuộc đời… thì chính những người ấy lại là người mất quân bình hơn hết. Cũng thế, một xã hội có nhiều đe dọa, thúc bách con người sống trong đó phải phát triển “bản lãnh đối phó”, là một xã hội làm khủng hoảng nhân cách và là xã hội thiếu “bản lãnh sáng tạo” hơn hết.

Thế giới bên trong có thời điểm sinh hoa trái riêng của nó. Khi theo dõi cuộc đời các vị thánh chẳng hạn, ta thấy có những gì rất đơn sơ, thuận theo chân lý một cách êm ái, nhẹ nhàng và trổ sinh hoa trái. Nhưng cũng có nhiều vị khác ra như cứng lòng, ra như lao mình vào con đường tội lỗi; thế nhưng, một khi tâm hồn bùng vỡ, thì đó lại là những vị thánh mạnh mẽ theo Chúa, hết lòng yêu mến Chúa và hăng say loan báo Tin Mừng hơn ai hết. Có thời điểm riêng để sinh hoa trái, nghĩa là cái bên trong có nét đẹp riêng, có một lối diễn tả các đẹp của mình một cách riêng. Đôi khi một người nào đó, khi đã xuôi tay nhắm mắt, thì người ta mới nhận ra được nét đẹp không thể thay thế được của một con người.

* Ở trong nhờ “có cảm tình”

Người ta kể tiểu sử một con người, người ta thường ghi dấu những chặng đường bằng những xác định không gian và thời gian : sinh ra ngày nào, ở đâu, thi đậu ngày nào, và lên chức gì… Đó là những ghi nhận “khách quan” về một con người. Nhưng ghi nhận ấy có vẻ như cho người ta biết rõ về một con người. Nhưng thật ra, bình thường, những ghi nhận ấy chỉ là những lớp vỏ bên ngoài, không cho thấy được mạch sống của một con người. Ngày ấy anh ta gia nhập dòng tu… nhưng động lực nào, cảm nghĩ nào, lý tưởng nào đưa anh ta đến dòng tu… thì khó mà mô tả từ bên ngoài được. Chỉ người nào đã được đón nhận lời chia sẻ thân tình, chỉ người nào cùng trăn trở với anh ta trong công việc, chỉ người nào cảm được nỗi lòng của anh ta,… thì mới có thể thực sự “hiểu” được hành trình anh ta đã đi. Đây là lối hiểu từ bên trong. Triết gia Henry Bergson nói rằng cách hiểu từ bên ngoài là cách hiểu của khoa học, cách nhìn lệ thuộc vào không gian, cách nhìn của lý trí. Trong khi đó, muốn đi vào bên trong thì phải dùng trực giác, trong một thái độ “có cảm tình” với người khác, thì mới đi vào bên trong được. Cách nhìn từ bên trong sẽ thấm vào tính liên tục của dòng sống, của dòng ý thức, chứ không phải cắt dứt, chia khúc của dòng sự sống của người khác như lối nhìn từ bên ngoài.

Như thế, khi ta nhận định về một người khác một cách khách quan, nghĩa là ta ở ngoài, không dính dáng, không thân quen, không bị lụy phiền hoặc được lợi lộc gì về những tính xấu hay tính tốt của người khác. Đó là cách nhìn về người khác có vẻ đúng, nhưng thật ra là không công bằng; bởi vì mỗi người có một hành trình riêng, có những tâm tình, những hoàn cảnh, những khó khăn, những di sản riêng… mà người khác hoàn toàn không giống như thế để hiểu được.

“Ở trong người khác” chỉ có thể thực hiện được khi người ta “có cảm tình” với nhau, nghĩa là bước vào bình diện của tình yêu. Có những điều ta có thể yêu được, hoặc cảm thông được nơi người yêu của mình, nhưng ta lại không thể chấp nhận được nơi một người mà ta không ưa thích. Ta cũng đừng tưởng rằng người mà ta ghét thì cũng chẳng ai yêu được người ấy. Sự thật cuộc đời khác hẳn, người nào cũng có những người khác thương yêu, ít nhất là mẹ của người ấy chẳng hạn. Và khi yêu thương, người ta yêu cả tông ty họ hàng; ngược lại, ghét nhau thì ghét cả đường đi lối về….

Quan điểm khách quan có lẽ là lối suy nghĩ thông thường trong xã hội hiện nay, nhưng thực ra, trong trào lưu triết học xã hội hiện nay, hầu hết người ta chấp nhận không thể bỏ chủ thể ra ngoài cuộc, nhưng phải tính đến quan điểm của từng chủ thể trong khi nhận định vấn đề...

* Ở trong là đón nhận những những biến chuyển nhỏ của nhau

Một người mẹ, khoe với hàng xóm rằng đứa con của mình mọc hai cái răng. Người hàng xóm dửng dưng, với sự kiện đó, vì mọc hai cái răng có gì quan trọng đâu. Người hàng xóm không cùng sống, cùng chia sẻ từng bước phát triển của một đứa bé, đứa bé đó không phải là con của mình. Chỉ người mẹ, nâng niu bú mớm cho con từng ngày, mới có thể vui được vì con mọc răng. …

Ta có thể nói được rằng sự hiệp thông được thể hiện rõ nhất khi người ta hiệp thông được trong những điều nhỏ nhất của người khác. Những biến cố lớn thì thường dính dánh đến nhiều người, và người ta “hiệp thông” với nhau nhưng thật ra chỉ vì cả hai bên cùng được hưởng lợi, hay cả mọi người cùng bị thiệt hại… cách hiệp thông ấy thật ra vẫn chỉ là vui buồn vì chính bản thân mình mà thôi. Ngược lại, sự hiệp thông trong những “tiểu tự sự” mới cho thấy thực chất của sự hiệp thông chân chính.

* Ở trong nhau nhờ quá trình lịch sử

“Ở trong nhau”, bình thường điều đó được thành hình nhờ một quá trình. Khi người ta cùng chia sẻ với nhau một ưu tư, cùng liên lụy với nhau trong một hành trình gian khó, cùng đón nhận những thành công hay thất bại như một kết quả chung,… khi đó, dần dần, như hai sợi giây bện vào nhau, tâm tình của hai người có thể trở thành một.

Yêu thương là đón nhận được những điều bé nhỏ của nhau. Điều đó chỉ có được khi người ta “ở trong” nhau, nghĩa là liên lụy với nhau trong một quá trình lịch sử. Cùng đồng hành trong một quá trình lịch sử người ta mới có thể đón nhận được những thành quả của nhau và chia sẻ những khó khăn của nhau. Thái độ đứng ngoài, cũng là thái độ không đồng hành, nghĩa là thái độ không cùng đi trên hành trình lịch sử. Lối nhìn vấn đề một cách khách quan không bao giờ có thể giúp con người hiệp thông với nhau trong lòng mến được.

Yêu thương là sống như con chiên, biết đón nhận và đi sâu hơn vào sự hiểu biết để đón nhận nhiều hơn chứ không phải là ở bên ngoài để phán xét.

* Ở lại trong là đón nhận huyền nhiệm cuộc đời của nhau

Khi ta đứng ngoài ta thường rơi vào cám dỗ giải thích cuộc đời của người khác một cách minh bạch, hợp lý; nhưng đó là cách nhìn không chính đáng, vì cuộc đời của một con người là một huyền nhiệm. Huyền nhiệm không phải là điều có thể giải thích rõ ràng, nhất là không bao giờ có thể được giải quyết như một vấn đề. Một vấn đề là một tảng đá to, nhưng là tảng đá trước mặt ta, ta có thể bị choáng ngợp, nhưng rồi ta sẽ vượt qua. Khi vượt qua rồi, thì ta bỏ lại đàng sau ta cái tảng đá, cái vấn đề ấy. Trái lại, huyền nhiệm là cái gì bao bọc bản thân ta, không bao giờ ta có thể ra khỏi nó để nhìn thấu đáo về nó, và cũng không bao giờ ta có thể giải quyết nó cho xong. Huyền nhiệm như một bầu khí bao bọc, như một môi trường ta sống, như chính cái ở trong của mình… … Huyền nhiệm chỉ sáng tỏ một chút khi ta khám phá thêm những ngõ ngách trong ngôi nhà ấy, khám phá thêm những mùi vị những âm thanh những mầu sắc của không khí của môi trường ta đang sống. Chỉ có sự tôn trọng tha nhân như một huyền nhiệm ta mới có thể nhận ra được những điều kì diệu trong một con người và trong một cuộc đời. Bởi vì khi ta giải quyết, ta luôn luôn mường tượng sẵn một đáp án, luôn có sẵn một khuôn mẫu mà ta cho là lý tưởng; trong khi đó, cuộc đời một con người thì không có đáp án sẵn, không có khuôn mẫu, chỉ có một sự hài hòa nội tại và có một sự độc đáo riêng biệt. Khi chiêm ngắm tha nhân như một huyền nhiệm, ta có thể khám phá ra muôn vàn điều kỳ diệu hơn ta tưởng.

Một con người cần phải được đón nhận như một huyền nhiệm, nghĩa là cần được trầm tư để chiêm ngắm, cần biết chờ đời để con người ấy mỗi ngày lại bộc lộ huyền nhiệm cuộc đời một cách tỏ hiện hơn. Như thế, cuộc đời con người mới thực sự được đối xử xứng đáng với phẩm giá một con người thực sự.

Cuộc đời không phải luôn luôn là những điều phải giải quyết, và càng không phải là giải quyết theo cách nghĩ của mình. Trong cuộc đời con người, có những điều đi theo ta suốt cuộc đời, ta không giải quyết những chỉ nhận ra nó mỗi ngày mỗi bộc lộ cách lạ lùng. Điều quan trọng là phải biết trầm tư một chút để khám phá ra huyền nhiệm, để chiêm ngắm huyền nhiệm cuộc đời của mình cũng như cuộc đời của ai khác. Khi ở trong ai khác, ta cảm nhận ra được những điều mà không thể nào ta biết được nếu như ta chỉ đứng ở ngoài; ta đón nhận huyền nhiệm cuộc đời con người trong niềm kính trọng và chờ đợi.

Giống như người ta nói, khi thăm bệnh nhân, hoặc đứng trước một hoàn cảnh đau thương của ai khác, thì đừng dễ dàng đưa ra những lời khuyên, tốt hơn hết là cầm tay để diễn tả sự liên đới, hiệp thông, chia sẻ với bệnh nhân; tốt nhất là sống tâm tình chia sẻ, hiệp thông với người đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn.. vì chỉ người bệnh, người trong cuộc mới hiểu hết nỗi đau, nỗi lo, nỗi khổ của chính họ mà thôi.

Như thế, khi ở trong nhau, người ta đón nhận tha nhân như một ngôi vị chứ không phải như một sự vật hay như một bài toán. Chỉ có tình yêu trân trọng như thế mới xứng đáng để đến với tha nhân; không phải chỉ là một sự “tôn trọng” theo những của lý trí siêu hình, hoặc theo lễ nghĩa “ngoài đường” theo kiểu “đời ai nấy lo”, “ai có linh hồn thì biết giữ”. Thấm nhập vào huyền nhiệm, đó là một sự trân trọng huyền nhiệm một cuộc đời. Dĩ nhiên, đây không phải là thái độ “tôn trọng”, hiểu theo nghĩa “đường ai nấy đi”, những là một sự hiệp thông sâu xa, là đón nhận huyền nhiệm cuộc đời của nhau.

5b. Ở lại trong tình thương của Thầy…

* Ở lại trong

Chúa Giêsu, trong Tin Mừng Gioan, nhiều lần nói đến việc “ở trong”, hay “ở lại trong”. Chúa Giêsu cho thấy nguồn mạch của sự hiệp nhất là sự kiện chính Ngài ở lại trong tình thương của Chúa Cha; để rồi Ngài cũng mời gọi các tông đồ ở lại trong tình thương của Ngài.

“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”. (Ga 15,9; Xc. Ga 6,56; 8,31; 15, 4-7.10…)

Từ ngữ của thánh Gioan có phần của một kinh nghiệm riêng, kinh nghiệm thần bí; nhưng cũng là một cách loan báo cho người Kitô hữu một huyền nhiệm ở trong Chúa, huyền nhiệm dành cho mọi người Kitô hữu.

“Ở lại trong” tức là sống trong dòng sự sống yêu thương của Chúa Cha, tràn xuống Chúa Con và tràn đến với bản thân mình. Trong dòng tình yêu như sự sống của Thiên Chúa, ta được sống chính bản thân mình trong tình yêu, chứ không chỉ cậy dựa vào Chúa để giải quyết một vài vấn đề gì. Đó là đừng chống cưỡng lại tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình, nghĩa là biết lãnh nhận và dám buông cuộc đời trong bình diện ân phúc mà mình đã được lãnh nhận. “Ở lại trong” nghĩa là đừng trở thành đứa con đi hoang không muốn về nhà cha, mặc dù người cha vẫn hằng trông chờ, vẫn mở lòng ra để đón nhận một cách vô điều kiện bản thân mình.

“Ở lại trong” có thể có nghĩa là sống chìm ngập trong tình thương của Chúa để có thể bơi lội trong khung trời tự do của con cái Chúa Cha. Có những mói tương giao làm cho ta không còn là mình, đó là khi ta bị đặt vào trong một cuộc chạy đua nhằm so sánh mình với người khác, khi “cái có” của người khác làm gợi lên lòng ham muốn được “có nhiều” hơn mà đánh mất cái “là”. Tình thương của Chúa, không phải một tình thương ràng buộc, chiếm hữu, mà là một tình thưong hỗ trợ để ta được là mình một cách trọn vẹn. Tình thương của Chúa không phải là một sự phê phán nhận định bên ngoài nhưng là nguồn sức mạnh giải thoát những ràng buộc từ bên trong, để ta có thể thênh thang trong hành trình cuộc đời. Chính vì thế, thánh Âu Tinh nói rằng, ở gần Chúa, con người lại càng tìm thấy sự tự do đích thực, tự do bên trong chứ không phải thứ tự do “làm điều mình muốn”.

“Ở lại trong” có thể có nghĩa là được Chúa đón nhận bản thân mình chứ không chỉ là đòi buộc những điều phải làm. Một sự đón nhận từ bên trong, nghĩa là thông chia được hết những khó khăn, liên lụy được hết những tính xấu, mang vác được hết cả cuộc đời… để ta có thể được đồng hành trọn vẹn bằng cả vận mạng một cuộc đời.

“Ở lại trong” có thể có nghĩa là đón nhận “những gì của cha là của con”, nghĩa là cùng vui, cùng buồn với kế đồ của Chúa, cùng đón nhận ưu tư làm cho Nước Chúa lớn lên, cùng góp phần làm cho cho Danh Chúa cả sáng, đón nhận Thánh Ý Chúa như là chính ý nghĩa của cuộc đời mình…

“Ở lại trong” nghĩa là đón nhận huyền nhiệm của Thánh ý Chúa Cha bao bọc bản thân mình, dẫn dắt cuộc đời mình một cách huyền nhiệm không dễ dàng giải thích hay giải quyết.

Thật sự mối tương quan của chúng ta với Chúa không thể bị coi như một mối tương quan buôn bán trả vay như quy luật của đường phố. Mối tương quan của chúng ta với Chúa chỉ có thể rõ lên một chút khi qui chiếu vào đời sống gia đình; nơi đó, người ta đón nhận nhau từ chính bản thân, thông chia vui buồn, thành công và thất bại của nhau, sống trọn một cuộc đời vì nhau. Niềm tin Kitô giáo muốn vươn tới những người bé mọn nhất và đưa tất cả đến sự thánh thiện của Chúa Cha, niềm tin ấy chỉ có thể khả thi khi người ta không sống luân lý, nhưng sống ơn cứu độ; khi người ta không biến đời sống đức tin thành một sự so sánh mà người ta cố đi tìm một thứ “trung bình cộng”; khi ngời Kitô hữu được ở trong dòng tình yêu của Thiên Chúa để khám phá một Đức Kitô dám liên lụy vào trọn vẹn cuộc đời mình, và từ đó có khả năng sống phong phú chứ không phải một cuộc sống dúm dó/

* Tính cách hiệp nhất của Thần Khí

Khi người ta muốn lồng vào nhau hai món đồ vật chất, người ta phải cắt xén cho vừa vặn; đẽo gọt và gò ép để chúng có thể ăn khớp với nhau. Nhưng rồi, tuy ở trong nhau, hai sự vật vật chất ấy, cái nào vẫn là cái ấy. chúng ở trong nhau, nhưng thật ra chúng chỉ ở bên cạnh nhau. Chúng ở bên cạnh nhau, dính vào nhau, nhưng thật ra chúng ở ngoài nhau, vì không có một sự chuyển thông gì giữa chúng với nhau.

Trong một mức độ khác của sự ở trong nhau, chúng ta có thể thấy mô hình của sinh vật. Sinh vật là một sự sống, kỳ diệu và cao cấp hơn sự vật vật chất nhiều. Sự sống có khả năng lọc lựa những gì thích hợp với mình để tiêu hóa vào chính bản thân mình. Chất đất, chất phân không còn là phân là đất nữa khi được cây cỏ hút vào trong chúng. Đất và phân ấy trở thành chính nhựa cây, trở thành hoa, thành lá, thành cành cây. Sự ở trong nhau này tuyệt vời hơn nhiều nhưng vẫn có giới hạn của chúng. Vì tuy cây biến chất phân thành chính sự sống của cây, nhưng cây không bao giờ có thể trở thành một điều gì khác. Nó chỉ là cây, dù có hút được chất dinh dưỡng cao cấp đến đâu.

Trong tình yêu, ta có thấy một sự hiệp nhất ở mức độ cao nhất. Một đứa con, đón nhận tình yêu của cha mẹ, có thể không còn là con nữa, nhưng đảm nhận trách nhiệm của cha mẹ, sống như là có chính sự sống của cha mẹ trong bản thân mình. Người con được “nâng cấp” để trở thành chính sự sống của cha mẹ trong bản thân mình. Tình yêu không chỉ có khả năng biến đổi người khác nên chính họ, nhưng còn có khả năng biến đổi người khác thành chính điều ở trong họ, tức là trở nên chính người yêu của họ.

Như thế, ta có thể hiểu được một chút sự biến đổi của Thần Khí đối với các người Kitô hữu.

“Người lại nói với các ông : "Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (Ga 20, 21-23).

Từ ngữ “thổi hơi” ở đây là một sự nhắc lại hành động sáng tạo của Thiên Chúa đối với Adong, và nó có ý nghĩa một sự sáng tạo lại đối với các tông đồ. Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta thấy, các tông đồ, khi được biến đổi, được sinh lại trong Thánh Thần, trở thành những con người khác hẳn bản chất của các ông trước đó; các ông nói bằng Thánh Thần, chữa bệnh hay truyền lệnh cho ma quỉ bằng sức mạnh của Thánh Thần…

Thánh Thần của tình yêu là nguồn của sự hiệp nhất trong tình yêu của con người với nhau, và nhất là nguồn hiệp nhất của con người với Thiên Chúa.

* Giữ giới răn của Thầy

Còn một lãnh vực của sự hiệp nhất trong điều kiện sống của con người, đó là hiệp nhất trong dòng lịch sử. Thật sự mối hiệp nhất trong Thần Khí không phải để đưa con người vào con đường xuất thần, nhưng là để đưa con người đi trên hành trình lịch sử. Hành trình lịch sử là một con đường phiêu lưu mà không ai có thể tiên đoán trước hoàn toàn, không ai có thể có những công thức giải quyết có sẵn để làm như chìa khóa vạn năng. Nhưng chính trong hành trình lịch sử, người tín hữu được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, nghĩa là ơn phúc được hiệp thông trong Thần Khí mới tỏ lộ hết sức mạnh, tỏ lộ rõ nét hơn cả. Đi vào đời với Chúa không phải là đi vào đời với một phương pháp ăn sẵn, với một vũ khí có sẵn, với một chương trình đã lên,… nhưng là luôn luôn lắng nghe, luôn luôn đón nhận, luôn luôn hiệp thông với Thần Khí Chúa, Thần Khí của đổi mới và sáng tạo; Thần Khí của thích ứng và trung tín trọn vẹn nhất…

“Đức Giê-su đáp : "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”. (Ga 14,23; xc. Ga14,15;14, 21;14,24)

5c. Có cảm tình để có thể hiểu nhau

* Gợi ý suy niệm

1. Thực sự tôi khao khát được yêu thương hay tôi chỉ cần Chúa như một phương thuốc chữa trị ?

2. Tôi có thể làm gì để hiểu chị em tôi nhiều hơn ? Tôi có hay rơi vào thái độ nhận xét bên ngoài và nói xấu không ?

* Gợi ý thực hành

1. Thử chiêm ngắm huyền nhiệm một cuộc đời.

Xem lại Phần 4

Xem tiếp Phần 6