ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 7
Cái nặng là cục sắt; cục sắt nặng nên nằm yên một chỗ và không dễ gì di chuyển nó được. Cái nặng là cục vàng; cục vàng thì cũng nằm yên một chỗ; cục vàng còn được người ta cất kín trong két sắt và chẳng mấy khi được chu du giữa trời đất mênh mông. Cái nặng lúc nào cũng có tình trạng “an vị”, tự tại với chính mình và đòi cái gì khác phải đến với nó chứ nó không tự đến với cái khác được. Người “nặng ký” thì cũng vậy, người nặng ký thì được bảo vệ kỹ lưỡng, trong vòng an ninh chặt chẽ, vòng trong vòng ngoài… Người “nặng ký” chẳng dễ gì có thể đến được những nơi vùng sâu vùng xa, chẳng dễ gì gặp được những người “đầu đường xó chợ”, chẳng dễ gì thông cảm hay chia sẻ được với những phận người đau khổ. Lâu lâu người nặng ký làm một cuộc xuất du thì cuộc xuất du ấy cũng được dàn dựng với tất cả sự cồng kềnh của một bộ máy an ninh và “điếu đóm”. Cái nặng thì đầy oai phong và luôn giương oai với cái khác, nhưng cái oai phong ấy lại làm cho nó khó gắn với cái khác. Cái nặng luôn có khuynh hướng đơn độc một mình, oai phong một mình, mình với mình mà thôi. . .
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
7. Lòng mến : Hy sinh và tha thứ
7a. Huyền nhiệm tình yêu
* Cái “nặng” và cái “nhẹ”
Cái nặng là cục sắt; cục sắt nặng nên nằm yên một chỗ và không dễ gì di chuyển nó được. Cái nặng là cục vàng; cục vàng thì cũng nằm yên một chỗ; cục vàng còn được người ta cất kín trong két sắt và chẳng mấy khi được chu du giữa trời đất mênh mông. Cái nặng lúc nào cũng có tình trạng “an vị”, tự tại với chính mình và đòi cái gì khác phải đến với nó chứ nó không tự đến với cái khác được. Người “nặng ký” thì cũng vậy, người nặng ký thì được bảo vệ kỹ lưỡng, trong vòng an ninh chặt chẽ, vòng trong vòng ngoài… Người “nặng ký” chẳng dễ gì có thể đến được những nơi vùng sâu vùng xa, chẳng dễ gì gặp được những người “đầu đường xó chợ”, chẳng dễ gì thông cảm hay chia sẻ được với những phận người đau khổ. Lâu lâu người nặng ký làm một cuộc xuất du thì cuộc xuất du ấy cũng được dàn dựng với tất cả sự cồng kềnh của một bộ máy an ninh và “điếu đóm”. Cái nặng thì đầy oai phong và luôn giương oai với cái khác, nhưng cái oai phong ấy lại làm cho nó khó gắn với cái khác. Cái nặng luôn có khuynh hướng đơn độc một mình, oai phong một mình, mình với mình mà thôi. . .
Cái nhẹ là cục bông gòn, bay theo làn gió nhẹ, bồng bềnh lên xuống theo cơn gió. Cái nhẹ là hạt bụi, hạt bụi bị xua đuổi khỏi những nơi sang trọng, bị tống khứ ra những nơi tồi tệ và bẩn thỉu nhất. Cái nhẹ thì không có gì để an vị, tự tại với chính mình cả. Cái nhẹ suốt đời là kẻ viếng thăm cái khác mà lại chẳng mấy khi được cái khác viếng thăm. Cái nhẹ luôn khao khát đáp xuống một cái gì đó, luôn cần gắn với một cái khác, nhưng lại chẳng được những nơi sang trọng đón nhận. Người nhẹ “tép riu” cũng giống như cục bông gòn, giống như hạt bụi, họ có thể phiêu lưu như kẻ không nhà. Họ không có hành lý cồng kềnh, họ không có sự an toàn bao bọc, họ không có những vật quí giá cần phải bảo vệ, họ không sợ bị xầy xước khi giao tiếp, …Họ nhẹ bồng trên đường phiêu lưu và có thể đến được với ai khác, nhất là những nơi cùng khổ.
Tình yêu thương thường không phải là “cái nặng” nhưng chính là “cái nhẹ”; người biết yêu thương cũng thường là những con người “nhẹ ký”, không quá quan tâm bảo vệ cái tôi sang trọng của mình và như thế nên có thể đến được với người khác.
Người ta thường thích nổi tiếng, thường thích trở nên quí giá, thường thích là nhân vật quan trọng, thường thích được người khác chú ý đến mình… những cái thích như thế không mở đường đi vào tình yêu được, nhưng chúng là những tảng đá ngăn chận nẻo đường tình yêu. Thứ yêu thương của những người như thế là những bước đi khệnh khạng, những “đám rước” rầm rộ, những biểu ngữ huyênh hoang, những thứ trình diễn tình yêu mà rất khó đi vào sự thân mật.
* Cái “thấm nhập” và cái “cưỡng bức”
Cái “cưỡng bức” thì đè bẹp, trấn áp, xô đẩy từ bên ngoài; cái cưỡng bức thì có sức mạnh để có thể bắt cái khác phải ở đúng vị trí mình muốn, vận hành theo đúng cách thức mình muốn. Cái cưỡng bức làm chủ được thân thể của cái khác, những lại không tạo được một sự hòa hợp sâu xa. Cái cưỡng bức thường làm nên một trật tự bên ngoài, nó có khả năng uốn nắn cái khác theo ý mình, sắp xếp để mọi sự ăn khớp với nhau theo một quy hoạch tổng thể … Nhưng cái cưỡng bức không thể làm nên được cái “duyên” nội tại, cái “hòa” một cách kỳ lạ và cái kỳ diệu một cách sáng tạo. Cái cưỡng bức thường làm nổi bật cái tổng thể, nhưng lại làm chìm mất cái cá biệt độc đáo. Con người có khả năng cưỡng bức là một kẻ độc tài, là người thống trị người khác bằng sức mạnh của cơ bắp, hoặc quyền bính, tạo nên nơi người khác một nỗi sợ; là người chinh phục người khác bằng tại năng làm cho người khác phải lép vế và rơi vào tình trạng khúm núm, e dè; là người “loé sáng” bằng đức độ khiến người khác phải chói mắt, lùi xa như một thứ “kính nhi viễn chi”, và mất tự tin để có thể tự mình sống cuộc đời của mình.
Cái “thấm nhập” thì thường là cái nhẹ nhàng, nó “chinh phục” không phải bằng một sự cưỡng bức bên ngoài, nhưng là một sự hòa hợp từ bên trong. Cái thâm nhập không phải là một dị vật trong cơ cấu hữu cơ của điều nó thâm nhập, nhưng tan biến và trở nên một với cái nó thâm nhập. Cái thâm nhập thì không còn giữ nguyên hình dáng của mình, nhưng biến hóa để thấm nhập và cấu tạo nên một cơ cấu hữu cơ với cái khác. Người có khả năng “thấm nhập” là người được người khác đón nhận một cách tự nguyện, được yêu bằng chính ý muốn tự do của người khác. Người thấm nhập là người để lại một chút vấn vương, một chút thi vị, một chút thăng hoa trong tâm tình của người khác.
Cái cưỡng bức không thể mang lại tình yêu được. Cái cưỡng bức chỉ có thể làm nên tình trạng “đồng nhi bất hòa”. Ngược lại, tình yêu thì phải được thấm nhập, một cách nhẹ nhàng, một cách thi vị, một cách an hòa. Tình yêu làm nên một nét duyên riêng của cấu trúc “hòa nhi bất đồng”.
* Cái “hiệp lực” và cái “đối lực”
Cái cưỡng bức thì phải mạnh để có thể đàn áp. Cái cưỡng bức thì coi sức mạnh của cái khác như một đối lực. Cái khác mạnh thì có nguy cơ làm cái cưỡng bức bị suy yếu, nên cần phải tiêu diệt sức mạnh của cái khác bằng tất cả mọi biện pháp cưỡng bức. Cái khác ấy là một “đối lực” làm trì trệ vận hành của cái cưỡng bức. Cái cưỡng bức luôn có khuynh hướng nghi ngờ, luôn tăng gia biện pháp đề phòng, luôn đặt ra thật nhiều đòi hỏi, đòi hỏi của luật lệ chi ly, đòi hỏi của phép tắc khó khăn, đòi hỏi cứ càng ngày càng gia tăng thêm nhiều quy định.
Cái “hiệp lực” thì lại đón nhận được sức mạnh của cái khác, sức mạnh được gia tăng trong sự hiệp thông, tình nghĩa được bền chặt trong mối giây tình nghĩa. Cái hiệp lực cần nhờ đến nhau như một “tiêu cực tính”, hai bên cần đến nhau như sức hút của nam châm khác cực, nghĩa là có khả năng đón nhận, có khả năng thấm nhập, có khả năng hiệp nhất sức mạnh của hai bên.
Người sống với người khác như một đối lực là người có khuynh hướng trở thành bạo Chúa, luôn có những người để mình loại trừ, luôn bắt người khác làm theo ý mình, luôn đề cao trật tự bên ngoài, luôn coi sự phát triển của người khác là mối đe dọa cho chính mình. Ngược lại, người sống trong tinh thần “hiệp lực” thì lại có thể nhờ đến người khác; coi sự phát triển của người khác là điều tốt đẹp cho chính mình.
Tình yêu thương mới chiến thắng sự chết. Nhưng tình yêu thương chân chính có một kiểu phát triển “ngược đời” và nó thường khác với những suy nghĩ của con người. Con người khao khát yêu thương, nhưng con người thường không có đủ sự sẵn sàng để đón nhận quy luật của tình yêu. Đây điều có tầm quan trọng lớn. Không có đủ dũng khí để đi vào nẻo đường của tình yêu thương, người ta bứng cây tình yêu vào trong “mảnh đất” khác lạ của mình, uốn nó theo cách của mình, biến chất nó thành một thứ ích kỷ. Nói một cách tổng quát, tình yêu thương chân chính đi theo chiều hướng hy sinh bản thân mình, trở nên nhẹ, có khả năng thấm nhập và trở thành một sự hiệp lực với người mình yêu. Trong khi đó, khuynh hướng sinh vật, khuynh hướng đàn áp và thống trị lại thúc con người đi vào nẻo đường ngược lại. Trên nẻo đường yêu thương, người ta có thể trầy trật, ì ạch, nhưng nó vẫn ở một nẻo đường khác, một bầu khí khác với nẻo đường, khác với bầu khí của “thế gian”. Trên nẻo đường yêu thương đích thực, thật ra, không có sự hiện diện của “thần ác” như một nguyên lý tuyệt đối; mà chỉ là một thế giới thuần sự thiện. Các trở lực chỉ làm cho người ta chậm hơn trên con đường yêu thương, chứ không có ngõ cụt và không có trạm dừng, không có một tảng đá hay ngọn núi nào có thể ngăn chặn cản đường của tình yêu. Khó khăn của đường đời, sự phản bội hay sự vô ơn, sự dửng dưng hay chống đối… lại chính là lời mời gọi yêu thương hơn nữa; và tảng đá cuối cùng là cái chết lại chính là phương cách thể hiện tình yêu trọn vẹn nhất. Hay nói một cách khác, tình yêu là một vực thẳm, một “thung lũng tình yêu” mà không một sự ác nào có thể lấp đầy. Còn trên nẻo đường tình yêu giả, người ta sợ thử thách, người ta né tránh và khi không vượt qua được thì người ta đánh mất hết tình yêu.
Sức mạnh của tình yêu thương không cùng loại với sức mạnh của sự chết. Phương cách của tình yêu thương ngược với phương cách của sự chết.
* Hành trình làm cha mẹ
Có lẽ ít người, khi lập gia đình, hiểu được hết sự gian khổ cũng như sự cao quí của hành trình mà mình sắp đi vào. Hai người nam nữ cưới nhau vì yêu nhau, hai người ấy tưởng rằng mình sống đời hôn nhân để được hạnh phúc trong tình yêu của chính mình. Thế nhưng hành trình hôn nhân lại dẫn người chồng người vợ ấy đi đến nhửng chân trời siêu vời khác. Khi người ta muốn có một đứa con, người ta tưởng rằng mình sẽ được vui với con cái dù phải mất một số thu nhập của gia đình. Thế rồi, khi nuôi con, người ta lại hiểu ra rằng không phải chỉ là tiêu tốn một số tiền bạc, nhưng còn phải cực thân rất nhiều. Thế rồi khi con lớn lên, người vợ, người chồng lại khám phá ra rằng, nuôi con không phải chỉ là mất tiền,cũng không phải chỉ là mất sức, nhưng còn là hao tốn tâm trí vì con, phải lo nghĩ, phải tính toán, phải ưu tư vì con. Hành trình làm cha mẹ chưa chấm dứt. Đến một lúc nào đó trong cuộc đời, người làm cha/ mẹ sẽ lại hiểu ra rằng : thôi thì đời mình làm sao cũng được, miễn là con mình được nên người. Cảm nghĩ ấy là một bước biến chuyển để người cha/mẹ hiểu ra rằng, mình cho con trọn cả cuộc đời. Hành trình làm cha/mẹ là hành trình trao tặng chính bản thân mình. Đó là hành trình “dẫn dụ”của một thứ tình yêu cứ mời gọi thệm mãi, thúc bách cho đi nhịều hơn nữa, và cho đi cho đến cùng. Quả thật, mức độ của tình yêu là tình yêu không mức độ. Quả thật, chính vì tình yêu của cha/mẹ đối với con cái là thứ tình yêu có khả năng vươn lên tới mức độ cho đi chính bản thân mà hình ảnh người mẹ người cha trở thành hình ảnh đẹp nhất trên trần gian.
Hành trình cuộc đời của một con người hết sức phức tạp, gian nan và đầy những điều không ngờ. Đức Khổng tử nói rằng : Làm người khó lắm ! Trên hành trình cuộc đời, đứa con không chỉ cần có tài năng, của cải, tìền bạc… nhưng còn cần có người khác chia sẻ cuộc đời với mình. “Người khác” ở đây không phải chỉ là những người bạn vui chơi, cũng không phải là những “người thầy” dạy bảo; nhưng trên hết, đứa con cần có người “đồng hành” trọn vẹn trên suốt cả cụộc đời, trong mọi hoàn cảnh… điều mà khó có ai khác có thể cho được hơn là những người làm cha làm mẹ. Điều mà con cái cần hơn hết chính là bản thân của cha mẹ, chúng cần có cha mẹ ở trong và gắn bó trọn vẹn cuộc đời với mình. Chữ hiếu không phải chỉ là đức tính làm đẹp cho bản thân của đứa con, nhưng còn là động lực mạnh mẽ giúp chúng có thể vững bước trên đường đời. Quả thật, nhu cầu lớn nhất của con người là tình yêu; nhưng không phải chỉ là một thứ tình yêu lãng mạn, bấp bênh mà là một thứ tình yêu dám đồng hành trọn vẹn, đó là thứ tình yêu trao tặng bản thân.
7b. Thập giá : tình yêu thương đến cùng
* Huyền nhiệm tình yêu nơi Chúa Giêsu
Nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài giống như ”cái nhẹ”. Giống như hạt bụi để cho ngọn gió của quyền lực thổi tung :
“Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giu-se từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít tức là Bê-lem, miền Giu-đê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ”. (Lc 2,1-7)
“Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói : Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. (Mt 4, 12-16).
Nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài từ chối sức mạnh cưỡng bức để chinh phục người khác. Chúa Giêsu từ chối mọi cám dỗ của Satan để thi hành được lối cứu độ bằng bánh mì, bằng sự lạ và bằng quyền bình (x. Trình thuật Cám dỗ).
“Đức Giêsu bảo người ấy : "Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52)
Ngài chọn con đường của Chúa Cha, con đường hy sinh mạng sống cho bạn hữu. Chúa Cha luôn xác nhận “nẻo được thấm nhập” nơi hành trình của Đức Giêsu; mỗi khi Chúa Giêsu đi theo lộ trình thấm nhập như thế, thì lại có tiếng của Chúa Cha “Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng”. Ngài trở nên tấm bánh và ly rượu để thấm nhập trọn vẹn vào người môn đệ…
Nhìn vào Chúa Giêsu, ta thấy Ngài chữa lành bệnh tật, Ngài tha thứ tội lỗi, Ngài đón nhận được những người bị loại trừ, Ngài sống trọn vẹn như một người “mang Tin Mừng cho những người nghèo khó”. Tin Mừng của Ngài không làm cho cuộc sống con người sợ hãi và dúm dó, nhưng mở đường cho các môn đệ được lớn lên, được vững mạnh. Lời Thánh Irênê diễn tả thật tuyệt nét “hợp lực” của tình yêu ấy “vinh quang Thiên Chúa là con người được sống”.
“Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. (Ga 10,10)
Thiên Chúa là Tình yêu, và tình yêu Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu được thể hiện trong tất cả những đường nét huyền nhiệm mà ta không thể thấy được nơi đâu khác. Tình yêu của Thiên Chúa thì nhẹ bồng để đến với mọi người; tình yêu Thiên Chúa thì biết chờ đợi để thấm nhập sâu xa vào con tim của con người; tình yêu Thiên Chúa mở ra con đường cứu độ, con đường sống, sống phong phú dồi dào.
* Yêu bằng nẻo đường “hóa ra không”
Cám dỗ của Satan chính là : dụ Chúa Giêsu chiến thắng, nhưng chiến thắng bằng chính phương cách của Satan. Chúa Giêsu chiến thắng, trước tiên là chiến thắng chính phương cách Satan để thẳng tiến trên nẻo đường tình yêu. Phương cách chiến thắng của Thiên Chúa lại là để cho satan chiến thắng bên ngoài, để rồi dùng chính tình yêu để cải tạo chiến thắng của Satan…
Hy sinh là dấu hiệu của tình yêu thương chân chính, và yêu thương theo chiều hướng của Đức Giêsu lại là “hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu”. Ai đành mất mạng sống mình thì tìm lại được; còn ai dành sự sống mình thì lại mất.
Cách thức Thiên Chúa đập tan sự ác lại chính là làm cho nó “đánh vào không khí” nghĩa là cho nó bày tỏ hết sức mạnh của nó, cho nó đi đến cùng cường lực của nó, cho sự dữ giở ra hết mọi chiêu thức độc đáo của nó, mà chiêu thức cuối cùng chính là lấy cái chết để đe dọa con người. Cách thức Thiên Chúa chiến thắng sự ác là “lấy nhu thắng cương”, lấy nhẫn nhục và chịu đựng để đánh tan sức mạnh của sự ác. Chiêu thức này tỏ ra “cao hơn một bậc” so với trình độ của sự ác. Với tội lỗi, con người đã ích kỷ chọn lấy con đường không yêu thương, nhưng lại là con đường của sự chết; thì với Chúa Kitô, Ngài chọn chính con đường của sự chết vì yêu thương. Chúa Giêsu đi lại con đường của Adam với một sức mạnh mới, sức mạnh vượt qua sự chết bằng tình yêu thương.
“Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.” (Pl 2,6-7)
Tình yêu của Thiên Chúa thể hiện trong hình ảnh con chiên, sẵn sàng chịu đừng và luôn tỏ ra thân thiện; hình ảnh hạt lúa, có khả năng ươm mầm sự sống trong bản thân mình, để dám thối đi mà sinh nhiều bông hạt,…Tình yêu, theo kiểu của Thiên Chúa, một cách nào đó, chính là “lỗ rò” của sự sống, để sự sống có thể chuyển đến cho người khác; tình yêu đó là “tấm lòng”, như cánh để có thể bị gió cuốn đi…
7c. Làm sao có được một cộng đồng sự sống
* Gợi ý suy niệm
1. Ta có khám phá ra được một sức sống phong phú dồi dào khi nhận biết tình yêu của Thiên Chúa không ?
2. có bao giờ ta thấy vui khi nhận ra sự sống của mình đang chuyển thông cho người khác ?
* Gợi ý thực hành
1. Mỗi lần rước lễ, xin Chúa cho ta xác tín được sự sống của Chúa trong bản thân mình.