ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 6

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Khi đi ra đường, mọi sự đều là đổi chác, từ những đồ vật cho đến thân xác con người; từ những những tại năng cá nhân cho đến vị thế xã hội; và cuối cùng là cả đức độ của một con người. tất cả đều được đưa vào kinh tế thị trường, nghĩa là được đặt lên một bàn cân của đức công bằng để cân nhắc lời lỗ của một cuộc trao đổi. Nét đặc trưng của việc buôn bán này là làm sao hai bên cùng có lợi, nghĩa là bên nào cũng phải thu lời được cho mình. Điều thứ hai là việc mua bán đổi chác ấy là chuyện thời vụ, hiểu theo nghĩa là trong từng “hợp đồng” có tính ngắn hạn, bởi vì đó không phải là giao ước đụng chạm đến bản thân.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

6. Lòng mến : trân trọng giá trị bản thân lẫn nhau

6a. Sống như là cuộc đối thoại

* Thế giới “ngoài đường” và thế giới “trong nhà”

Khi đi ra đường, mọi sự đều là đổi chác, từ những đồ vật cho đến thân xác con người; từ những những tại năng cá nhân cho đến vị thế xã hội; và cuối cùng là cả đức độ của một con người. tất cả đều được đưa vào kinh tế thị trường, nghĩa là được đặt lên một bàn cân của đức công bằng để cân nhắc lời lỗ của một cuộc trao đổi. Nét đặc trưng của việc buôn bán này là làm sao hai bên cùng có lợi, nghĩa là bên nào cũng phải thu lời được cho mình. Điều thứ hai là việc mua bán đổi chác ấy là chuyện thời vụ, hiểu theo nghĩa là trong từng “hợp đồng” có tính ngắn hạn, bởi vì đó không phải là giao ước đụng chạm đến bản thân.

Trong khi đó, khi về đến gia đình, người ta sống trong một bầu không khí khác, bầu không khí của một sự chấp nhận bản thân của nhau. Khi đó, những tương quan hằng ngày không phải là đổi chác, không phải là những trao đổi theo nguyên lý của sự công bằng.

Cuộc trao đổi của thế giới ngoài đường không đụng đến được bản thân của con người, chỉ là những trao đổi những sự vật (sự vật là tất cả những gì không phải là bản thân của con người). Trong thế giới trao đổi sự vật đó, nếu người ta có xúc phạm đến phẩm giá, có từ chối đón nhận bản thân của mình, thì thật ra đó cũng chỉ là chuyện “lễ nghĩa” mà thôi. Hoặc nếu người ta tôn trọng bạn thì đó cũng là cách sống tôn trọng nhau để “đường ai nấy đi” thôi, chứ không phải là một sự trân trọng đến độ có khả năng đón nhận và liên đới với một bản thân khác. Trong nền tảng ấy, cuộc đối thoại ngoài đường thật ra cũng chẳng phải là cuộc đối thoại thoả mãn được khát vọng sống với của con người.

Ở trong gia đình, người ta chấp nhận bản thân của nhau, cuộc đối thoại hướng mở tới một sự liên kết sâu hơn, làm dày lên nghĩa tình trong hành trình cuộc sống. Trong gia đình, mọi “sự vật” chỉ là một cách diễn tả của bản thân cho nhau; trong khi đó, nơi thế giới ngoài đường, chính bản thân lại có nguy cơ bị giản lược vào “sự vật” để đổi chác.

* Cuộc đối thoại ngôi hai

Khi ta nói chuyện trược tiếp với một người khác, ta đang nói với người khác như là ngôi thứ hai; còn khi ta nhận định về một người vắng mặt, ta nói về một ai khác ở ngôi thứ ba. Khi ta nói vói chính ta, ta thực hiện một cuộc “đối thoại” như là những lời tự nhủ của chính mình, đó là ta chỉ sống trong ngôi thứ nhất mà thôi.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là một quy tắc văn phạm trong việc sử dụng từ ngữ. Ý nghĩa thực của “mức độ đối thoại” không luôn luôn đồng nhất với việc sử dụng quy tắc văn phạm, nhưng do chính thái độ của lòng mình. Người ta có thể nói chuyện trực tiếp với ai khác, người ta sử dụng từ ngữ “anh”, “chị” để nói với người ấy, và người “anh/chị” ấy cũng có những lời đáp lại lời nói của ta. Nhưng rất có thể, trong thực chất, ta nói và không nghe, ta nói và nghĩ về người khác như một ngôi thứ ba, nghĩa là không bao giờ nhận được một sự phản hồi, không đáp lại những ý nghĩ, những ước muốn của người khác, mà chỉ là một kẻ “trút xuông đầu” người khác những suy nghĩ của chính mình.

Cuộc đối thoại ngôi hai đích thực đòi hỏi người ta phải nhận ra người khác “có thể trả lời”, nghĩa là sẵn sàng để đón nhận khả năng trả lời, sẵn sàng nhận ra sự biến chuyển của người khác, sẵn sàng chấp nhận người khác như là người mà ta chưa thể hiểu hết, sẵn sàng theo đuổi “cuộc đối thoại” đang tiếp diễn. Cuộc đối thoại ngôi hai là một cuộc đối thoại sống động, phiêu lưu, trong tự do bay lượn và trong khả năng sáng tạo bản thân.

Ta có thể dùng một hình ảnh hình học để diễn tả một cách khái quát cuộc đới thoại ngôi hai như sau :

Nếu chúng ta có hai điểm A và B bên cạnh nhau, thì từ hai điểm đó chúng ta có thể có những “vectơ” khác nhau :

- Hoặc là A và B chạy đến với nhau và sát nhâp thành một;

- Hoặc là A và B chạy theo hai chiều hướng đối nghịch và càng ngày càng xa nhau;

- Hoặc là hai điểm ấy luôn gĩư mãi khoảng cách đúng và cố định bằng cách tuân theo một trục thẳng để trở thành hai dường song song chạy dài mãi.

- Cuối cùng, ta có thể cho hai điểm ấy vẫn chạy song song, nhưng không phải là dựa theo một định luật cố định nào để thành hai đường thẳng song song, mà là một sự thuận tình trong “sáng tạo nghệ thuật”, để trở thành hai đường song song bay lượn, vòng lên và vòng xuống, qua phải và qua trái mà vẫn giữ được một sự liên đới đúng đắn.

+ Trường hợp thứ nhất là lập trường của những người muốn thống trị người khác, tạo nên sự hiệp nhất bằng cách chinh phục và loại bỏ cái tôi của người khác. Nhưng đó thật sự không phải là hiệp nhất mà là độc nhất. Khi ta muốn người khác làm theo ý mình mà không đếm xỉa gì đến cảm nghĩ của họ, không cần biết đến sự thăng tiến bản thân họ, không tôn trọng phẩm giá của họ… thì ta đã, vô tình hay hữu ý, chọn giải pháp độc tài. Giải pháp đó xúc phạm đến phẩm giá con người, vì đã hy sinh một con người, hoặc hy sinh ý nghĩa làm người để ưu tiên cho một “sự vật” nào đó. Rất nhiều khi người ta, nhân danh ích chung, vì lý tưởng cao đẹp, hoặc tìm mọi cách để đạt được hiệu năng công việc nào đó. . . mà lại đánh mất chính ý nghĩa làm người của mình và người khác. Con đường trở thành bạo chúa là con đường khởi sự từ chỗ chỉ lấy mình làm tiêu chuẩn duy nhất đúng, không muốn trao đổi ý nghĩ với người khác, không muốn sửa đổi lập trường của mình. Trên con đường ấy, người ta muốn coi người khác chỉ là tay sai, phải làm và cứ việc làm một cách máy móc những điều mình ra lệnh. Bình thường nẻo đường đó sẽ vấp phải những trục trặc, vì tha nhân không phải là một cục đất sét. Tha nhân là người, là kẻ có suy nghĩ và có tự do,… những điều ấy thế nào rồi cũng trở thành những lực cản cho tiến trình thực hiện ý định riêng của chính mình. Thế là người ta lại phải tiếp tục đàn áp cái riêng tư và độc đáo của tha nhân cho đến khi tận diệt chính “mạng sống” của họ. Hành trình trở nên bạo Chúa cũng có thể “thành đạt” ở chỗ tiêu diệt phẩm chất hiện hữu của tha nhân khi ta vui thích với sự vâng phục tối mặt, khoái chí với thực trạng : tao có mấy thằng lính mà tao nói gì nó cũng làm răm rắp . . ..

+ Trường hợp thứ hai là tình trạng “cá đối bằng đầu”, tình trạng vô chính phủ, mạnh ai nấy sống, mạnh ai nấy làm, không ai “mắc mớ” gì tới ai. Khi người ta đề cao một thứ tự do hoàn toàn cá nhân chủ nghĩa, người ta cũng rơi vào tình trạng tự phá hủy chính phẩm giá của mình. Con người của thứ tự do ấy cũng lấy mình làm tiêu chuẩn duy nhất đúng, đóng kín trong bản thân mình để cũng “tận diệt” tha nhân, không phải bằng cách áp đặt ý muốn của mình, không phải bằng bạo lực trên tha nhân, nhưng bằng phương cách loại trừ tha nhân ra khỏi mối quan tâm của chính mình và “bạo lực” trên chính khát vọng yêu thương của bản thân mình. Một thứ tự do cá nhân mà không thể tạo nên được gặp gỡ, hiệp thông, chia sẻ với người khác, thì theo tinh thần Kitô giáo, đó không bao giờ là tự do thực sự, bởi vì thứ tự do đó không phải là môi trường thanh thản và chân thật để con người sống đúng khát vọng yêu thương sâu xa của mình, mà chỉ là một thứ nô lệ cho thế lực của ác thần.

+ Trường hợp thứ ba diễn tả một sự “hiệp nhất”, nhưng lại là một sự hiệp nhất do một áp lực ở bên trên và bên ngoài. Người ta có thể an tâm khi A vẫn là A; và B vẫn là B; không có sự tận diệt sự hiện hữu của nhau như giải pháp thứ nhất. Người ta cũng có thể khoái chí vì A vẫn ở gần bên B như thể có một sự liên đới, hiệp thông nào đó chứ không phải sự xa lạ như giải pháp thứ hai. Thế nhưng đó cũng chỉ là một sự hiệp nhất bên ngoài. Có một thế lực khác kềm gĩư A và B để chúng không tiêu diệt nhau và cũng không xa nhau. Giải pháp này cũng không phải là hoàn hảo, vì một khi không còn áp lực nào, thì tình trạng cũ sẽ lại đâu vào đấy. Hơn nữa, cái áp lực làm cho A và B vẫn đi theo hai đường thẳng song song cũng lại là một thứ bạo lực, loại trừ tự do của con ngừơi và đánh mất phẩm giá chân chính của con người. Có người nhận xét rằng Nước Mỹ là một nước tự do, người ta dùng cả một hệ thống pháp luật tinh vi, kỹ lưỡng để bảo đảm cho tự do của người dân; nhưng cuối cùng, người dân lại phải làm nô lệ cho chính luật pháp. Phải chăng nước Mỹ chính là hình ảnh tiêu biểu của trường hợp thứ ba ?

+ Trong trường hợp thứ tư, ta thấy những giá trị căn bản của phẩm giá con người đựơc bảo vệ : tôn trọng cá nhân mỗi người, để cho mỗi cá nhân sống trọn vẹn bản sắc riêng của mình. Nơi đây, người ta tìm thấy sự hòa hợp cộng đoàn trong một tinh thần tự nguyện, trong bầu khí tự do và rộng mở cho việc phát huy khả năng sáng tạo bản thân của mỗi người. Nơi đây, mối giây căn bản để nối kết A và B không là gì khác hơn đức ái. Đức ái chỉ có thể sống và phát triển thực sự trong bầu khí tự do, đó là khi người ta được tôn trọng, khi người ta được tin tưởng. Sự hiệp nhất như thế chỉ có được như một thành quả “thuần chất người”, vì nơi đó chỉ có nhân vị, chỉ có tự do, chỉ có tình nghĩa chân thành và tự nguyện chứ không có một thứ “tạp chất” của sự vật nào

Có lẽ điều làm cho người ta ngại với giải pháp thứ tư, đó là vì giải pháp này có vẻ phiêu lưu. Người ta sợ một kết cục không tốt sẽ xẩy ra khi trao trọn chìa khóa của vấn đề vào ý chí tự nguyện của cá nhân. Đó là căn bệnh nhát sợ, không dám tin vào con người, nhưng đặt niềm tin vào các phương pháp kỹ thuật, tin vào các biện pháp kỷ luật, tin vào các phương thức khoa học.

Có lẽ điều làm cho người ta ngại với giải pháp thứ tư này, đó là vì người ta mong có được một kết quả. Đó là căn bệnh “thực dụng”. Xin tạm hiểu từ ngữ thực dụng theo một nghĩa riêng ở đây : thực dụng là khi người ta tìm đạt tới một kết quả nào đó mà lại bỏ rơi mất phẩm giá con người; thực dụng là khi người ta hy sinh tự do của con người để có được một điều gì không phải là sự phát triển thực sự của con người; thực dụng là người ta sử dụng con người như một phương tiện để đạt đến một mục đích nào khác.

Có lẽ điều làm cho người ta ngại với giải pháp thứ tư là người ta không dám tin vào tình yêu, không dám tin vào sức mạnh của tình yêu, và người ta thay thế tình yêu bằng một nguyên lý khác cho mối tương quan của con người với nhau.

* Tình yêu là cửa đi vào cuộc sống tương giao ngôi vị

Trong cuộc đối thoại ngôi hai, ta không biến tha nhân thành một đồ vật, thành một bài toán, thành một khuôn khổ nào đó. Tha nhân phải được coi như một ngôi vị độc đáo mà tôi chỉ có thể lắng nghe và khám phá như một huyền nhiệm, chứ không phải giải quyết như một vấn đề. Gabriel Marcel cho chúng ta thấy mỗi người là một huyền nhiệm. Thái độ tôn trọng tha nhân như một huyền nhiệm nghĩa là không biến tha nhân thành một vấn đề để giải quyết, nhưng là trân trọng một con người và chiêm nghiệm huyền nhiệm của một đời người. Khi đó, chính bản thân của tha nhân mới được đưa vào cuộc và ta đối thoại thật sự như là một cuộc gặp gỡ ngôi vị.

Tình yêu chân chính bao hàm thái độ căn bản là chấp nhận bản thân của ai khác. Chấp nhận bản thân nghĩa là không đặt điều kiện tiên quyết nào dính dáng đến chính bản thân, nghĩa là “cởi mở” từ chính thái độ căn bản của bản thân mình trong tương giao, để có thể đón nhận ai khác một cách căn bản. Trên nền tảng của thái độ chấp nhận bản thân của ai khác, cuộc tương giao của con người với nhau có thể có được một khung trời bao la để diễn tả bản thân mình và đón nhận ai khác. Khi đó, nói hay im lặng, chất vấn hay hỏi han, cười đùa hay nghiêm trang… vẫn là những sinh hoạt làm dày thêm tình nghĩa chứ không phải là điều kiện để đạt được một sự vật nào đó. Người có khả năng đón nhận bản thân của ai khác là người có “tâm từ bi”, hay có “tai bồ Tát” để có thể lắng nghe được điều gì sâu xa nhất trong bản thân của ai khác.

6b. Thiên Chúa trân trọng con người

* Thiên Chúa cứu độ con người bằng tình yêu

Thiên Chúa dấn thân vào hành trình cứu độ con người, nhưng đó là một hành trình gian khổ của tình yêu. Cứu độ bằng tình yêu vừa có nghĩa là Thiên Chúa tỏ tình yêu thương, vừa có nghĩa là Thiên Chúa tin rằng tình yêu có khả năng đổi mới con người từ bên trong, vừa có nghĩa là Thiên Chúa chọn con đường chờ đợi đáp trả của tinh yêu. Thay vì dùng quyền bính, thay vì dùng của cải vật chất, thay vì dù lý thuyết chặt chẽ…. Thiên Chúa chỉ muốn ban bố tình yêu lớn lao nhất, và chờ đợi sự đáp trả của con người.

Thiên Chúa đã từ chối không áp dụng những phương thức chinh phục con người hiệu nghiệm hơn, mau mắn hơn, ổn định hơn. Nhưng Ngài lại muốn đến với con người bằng tình yêu, qua ngả đường của tình yêu. Nẻo đường của tình yêu luôn luôn là một nẻo đường bấp bênh, vì nó được “phó thác” sự tự do của con người, vì nó không có những điều kiện vật chất hữu hình, hoặc những lý lẽ khả niệm bảo đảm. Con đường tình yêu có dính dáng đến tính thẩm mỹ, xét như một giá trị phổ quát không có những khái niệm đi kèm, chỉ là một lời mời gọi thăng tiến…Con đường tình yêu là con đường có khả năng gợi lên sự khao khát và động lực lên đường của chính người được yêu, chứ không phải là một sự áp đặt nào ở bên ngoài.

Con đường cứu độ bằng tình yêu như thế đòi hỏi Thiên Chúa trao ban chính bản thân mình, chứ không phải chỉ là trao ban một đồ vật, một món hàng nào đó. Điều đó giống như một người “nắm đàng chuôi”, chỉ có niềm tin vào tình yêu được đáp trả là sức mạnh duy nhất để đợi chờ. Tình yêu trao bao cần phải được chờ đợi, để lãnh nhận chính bản thân của người tín hữu tự do trao tặng, Thiên Chúa đã muốn chọn con đường yêu thương như thế. Bản thân của Chúa được trao ban trong tự do, tự nguyện; và ngài cũng chờ đợi một sự trao tặng lại bản thân, được người tín hữu trao ban trong tự do và tự nguyện. Đó quả là một thế giới của huyền nhiệm : Chúa là một huyền nhiệm, huyền nhiệm lớn nhất của Ngài là huyền nhiệm tình yêu. Con người cũng là một huyền nhiệm, vì mang hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa để phát triển cuộc đời mình theo một “lô-gích” huyền nhiệm, khác hẳn “lô-gích” của lý luận cũng như khác hẳn qui luật tất yếu của thế giới tự nhiên.

Tình yêu thể hiện một lòng trân trọng đối với người mình yêu, đó là cách đối xử với nhau như những huyền nhiệm mà người ta không thể giải thích bằng lý lẽ. Tình yêu chân chính đối với một con người có thể giúp ta nhận ra huyền nhiệm một con người; bởi vì tình yêu thiết yếu bao hàm một sự trân trọng bản thân của người khác.

Huyền nhiệm của tình yêu bao bọc nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa, ở đó không có sự giải quyết mạch lạc mà là sự chiêm ngắm và chờ đời. Chính vì thế mà tình yêu thiết yếu bao hàm thái độ trông cậy, hy vọng, chờ đợi trong niềm xác tín.

* Thiên Chúa đưa con người vào giao ước trong tim

Cựu ước đã là một sự dấn thấn độc đáo của của Thiên Chúa mạc khải. Nhưng sự dấn thân để đi vào một giao ước cũ vân còn nhiều giới hạn : Giao ước cũ khắc trên bia đá; Giao ước cũ là giao ước với một tập thể đoàn lũ; giao ước cũ không bình đẳng, giao ước cũ vẫn còn có phần được tính toán theo lẽ công bằng… Chính vì thế mà Thiên Chúa dẫn đến một giao ước mới trọn vẹn hơn như một giao ước của tình yêu thuần khiết. Đó là một giao ước trọn vẹn hơn, thân tình hơn và sâu xa hơn, mang những hình ảnh như ”mục tử với đàn chiên”,”cha với con”,”vợ với chồng”…

* Hs 2.21-24: “Ta sẽ lập với người một hôn ước vĩnh cữu. Ta sẽ lập hôn ước với người trong công minh và chính trực, trong ân tình và thương xót. Ta sẽ lập hôn ước với người trong tín thành và ngươi sẽ được biết Đức Chúa”.

* Gr 31,34: “Này sẽ đến những ngày,sấm ngôn của Đức Chúa, Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giuda một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập; chính chúng đã hủy bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa tể của chúng, sấm ngôn của Đức Chúa. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó, sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là Dân của Ta. Chúng không cần phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia :”hãy học cho biết Đức Chúa”, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta, sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ tha thứ tội cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr31,34)

* Ed 36, 26.34: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi, và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính Thần Khí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo Thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thực hành”.

Đức Tin Kitô giáo luôn khẳng định, chính Đức Giêsu Kitô, cụ thể là hiến tế thập giá và sự Phục Sinh của Ngài trở thành một nhiệm cục mới, một giao ước mới được ký bằng máu Đức Giêsu Kitô. Biến cố Đức Giêsu Kitô. Biến cố Đức Giêsu chịu chết vào dịp lễ Vượt Qua đã nói lên Ngài chính là”Con Chiên mới” có thể mang lại sự giải thoát khỏi án chết và cho con người được tự do.

“Người bảo các ông: đây là Máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người…” (Mc 1424).

Công Đồng Vatican II, sau khi trích dẫn Gr 31,31-34, nói rằng:

“Giao Ước Mới này, chính Đức Kitô đã thiết lập, đó là Giao Ước Mới bằng Máu của Người [Xc.lCr 11, 25], Người triệu tập một dân từ người Do Thái cũng như từ người ngoại, họp lại thành một khối duy nhất, không phải theo xác thịt nhưng trong Thần Khí, và thành dân mới của Thiên Chúa” (GH 9).

Nói chung, người ta thấy rằng, trong nền tảng của giao ước cũ là luật pháp, thì ngược lại, chính tình yêu [agapè] là lối diễn tả mới của giao ước mới. Nơi đây, Thiên Chúa thực hiện những đường nét của nhiệm cục cứu độ, một cách chính yếu, không chỉ là để gìn giữ Dân Chúa được tồn tại, nhưng là để cho Dân và từng người trong Dân Chúa được sống sung mãn phận người cũng như phẩm giá làm con cái Chúa trong tình yêu.

* Vượt quá tình yêu vô điều kiện

Trong Giao Ước Mới, tình yêu thương của Thiên Chúa, trước tiên, là một tình yêu vô điều kiện. Thiên Chúa vẫn luôn đi bước trước, nhưng ở đây, Ngài đi đến cùng, đến tận những người ở cùng đáy xã hội; Ngài cất bước đi tìm con chiên lạc, Đức Giêsu khẳng định bệnh nhân mới cần tới thầy thuốc (x. Mt 9,12), Ngài tha thứ cho người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình mà không cần một điều kiện nào khác hơn là “đừng phạm tội nữa”. . . Thánh Phaolô quả quyết Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và cho con của Ngài chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (Xc. Rm 5,8). Chính vì thế, trong Tân Ước, nguyên lý cứu độ không còn là công đức của con người nhưng là hành động cứu độ của Thiên Chúa; và sự công chính không còn là một bài toán đổi chác công đức và phần thưởng như trong Cựu Ước, cho dù là đổi chác mà phần lợi vẫn luôn ở phía con người, nhưng là một sự lãnh nhận trong lòng tri ân.

Hơn nữa, đức Benedicto XVI, trong thông điêp Thiên Chúa là tình yêu, còn nói rằng : tình yêu Thiên Chúa vượt quá mức độ của tình yêu vô điều kiện, đạt tới mức độ của tình yêu tha thứ. Mức độ “vô điều kiện” dừng lại chỗ Thiên Chúa tặng không tình yêu của Ngài. Nhưng tình yêu tha thứ còn cho thấy Thiên Chúa sẵn sàng đón nhận những sự xúc phạm và sẵn sàng tha thứ cho tội nhân biết ăn năn sám hối. Tình yêu tha thứ tỏ bầy sự nhập cuộc, sự liên lụy của Thiên Chúa vào cuộc đời tội lụy của con người; tình yêu tha thứ bày tỏ mầu nhiệm “hóa ra không” của Thiên Chúa trong tình yêu. Con người được mời gọi để Tin, tin vào ơn cứu độ lớn lao của Thiên Chúa để đón nhận tình thương vô điều kiện, và nhất là tình yêu tha thứ của Ngài và nhờ tình thương ấy mà được lớn lên trong tình nghĩa cũng như vững bước trên đường đời.

Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người không phải là một cuộc đổi chác, mua bán trả vay như “thế giới ngoài đường”; nhưng thể hiện những tính chất của một giao ước ngôi vị, nghĩa là “thế giới trong gia đình”. Tình yêu đó diễn tiến theo qui luật của một cuộc “đối thoại ngôi hai”.

6c. Cộng đoàn như một cộng đồng ngôi vị

* Gợi ý suy niệm

1. Có bao giờ tôi nhận ra Thánh ý Chúa cho tôi như là một cách ngài diễn tả tình yêu của Ngài cho bản thân tôi?

2. Có bao giờ tôi khám phá ra được một chút huyền nhiệm của ngừoi chị em tôi ?

* Gợi ý thực hành

1. Suy niệm cuộc đối thoại của đức Maria với Thiên Chúa qua việc sứ thần truyền tin (ngắm thứ nhất mùa Vui).

Xem lại Phần 5

Xem tiếp Phần 7