ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 4
Sự vật vật chất thì “lù lù” ra đó, nó là nó. Nó chẳng bao giờ ra khỏi bản thân, nên cũng chẳng đổi ra khác được. Nó sống hay chết cho một mình nó. Sự sống thì có một cơ chế đặc biệt hơn, sự sống có thể tự gạn lọc để thu nhận những gì thích hợp, tiêu hóa những gì mình thu nhận để biến trở nên chính xương thịt của mình. Sự sống cũng “tìm cách” ra khỏi bản thân mình để muốn sống “trường tồn” bằng sự sinh sản. Thế nhưng sự sống của con vật, thì dù tiêu hóa cao lương mỹ vị gì, thì vẫn chỉ là nó; và khi nó “ra khỏi bản thân” qua sự sinh sản, thì cũng chỉ là một sự kéo dài thêm sự sống của nòi giống. Cá thể của sinh vật chỉ là phương tiện cho giống nòi, và chính giống nòi của con vật thì cũng không có cứu cánh tự thân. Con người cũng là một sự sống, nhưng sự sống của con người thì khác hẳn. Đó là một sự sống có phẩm chất tinh thần, nó có thể ra khỏi bản thân mình để đạt đến một sự hiệp thông sâu xa với ai khác, nó có khả năng “trường tồn” khi chuyển sự sống của mình sang người khác. Sự chuyển thông này không phải chỉ là chuyển thông sự sống sinh vật của giống nòi, mà là sự sống độc đáo với những mơ ước và những giá trị cá nhân của mình. Con người như một cá thể độc đáo, mơ ước trường tồn, khát vọng tuyệt đối, có khả năng ra khỏi bản thân mình, bằng ngõ ra của tình yêu; để đến với ai khác, phó cả sự thành đạt đời mình cho ai khác.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
4. Lòng Mến dấn thân
4a. Tình yêu thể hiện trong sự dấn thân
* Tình yêu giúp con người ra khỏi bản thân
Sự vật vật chất thì “lù lù” ra đó, nó là nó. Nó chẳng bao giờ ra khỏi bản thân, nên cũng chẳng đổi ra khác được. Nó sống hay chết cho một mình nó. Sự sống thì có một cơ chế đặc biệt hơn, sự sống có thể tự gạn lọc để thu nhận những gì thích hợp, tiêu hóa những gì mình thu nhận để biến trở nên chính xương thịt của mình. Sự sống cũng “tìm cách” ra khỏi bản thân mình để muốn sống “trường tồn” bằng sự sinh sản. Thế nhưng sự sống của con vật, thì dù tiêu hóa cao lương mỹ vị gì, thì vẫn chỉ là nó; và khi nó “ra khỏi bản thân” qua sự sinh sản, thì cũng chỉ là một sự kéo dài thêm sự sống của nòi giống. Cá thể của sinh vật chỉ là phương tiện cho giống nòi, và chính giống nòi của con vật thì cũng không có cứu cánh tự thân. Con người cũng là một sự sống, nhưng sự sống của con người thì khác hẳn. Đó là một sự sống có phẩm chất tinh thần, nó có thể ra khỏi bản thân mình để đạt đến một sự hiệp thông sâu xa với ai khác, nó có khả năng “trường tồn” khi chuyển sự sống của mình sang người khác. Sự chuyển thông này không phải chỉ là chuyển thông sự sống sinh vật của giống nòi, mà là sự sống độc đáo với những mơ ước và những giá trị cá nhân của mình. Con người như một cá thể độc đáo, mơ ước trường tồn, khát vọng tuyệt đối, có khả năng ra khỏi bản thân mình, bằng ngõ ra của tình yêu; để đến với ai khác, phó cả sự thành đạt đời mình cho ai khác.
Thật ra, bản thân tự tại của con người thì rõ ràng là một sinh vật tương đối. Tất cả thành công hay thất bại của tôi chỉ là cái hết sức tương đối. Tôi thành công thì có người thành công hơn tôi; tôi đau thì cũng có người còn đau hơn tôi; cuối cùng cuộc đời tôi đụng chạm vào cái chết, và mọi sự dính dáng đến tôi cũng tỏ hiện tất cả tính tương đối căn bản của nó trong cái chết của tôi. Mặt khác, trong thế giới sự vật, con người chẳng là gì cả; đứng trước con cọp, một con người không hơn gì một con nai.
Nhưng khi tôi yêu, tôi mong điều tốt cho người tôi yêu, tôi quan tâm đến người khác hơn là về tôi, và tôi bắt đầu biết di chuyển trọng tâm đời tôi ra khỏi cái tôi ích kỷ và giới hạn của tôi để đặt trọng tâm cuộc đời nơi người tôi yêu. Với một trọng tâm khác thì ý nghĩa của thành công hay thất bại cũng khác. Cái thành công của tôi có thể lại trở nên xấu, nếu nó mang lại điều không hay cho người tôi yêu. Ngược lại cái đau của tôi lại có thể trở nên tốt khi nó được đánh giá từ trọng tâm là điều tốt cho người tôi yêu. Với tình yêu thương, cuộc đời có thể thay đổi hoặc đảo ngược ý nghĩa; vì trong tình yêu, cuộc đời, thay vì là vun quén cho bản thân, lại trở thành như một hành vi cho đi; và cho đi trọn vẹn nhất chỉ có thể là cho đi chính bản thân.
Nơi đây, tính chất tuyệt đối của con người mới ló dạng. Phẩm giá tuyệt đối của con người chỉ xuất hiện khi được đưa vào bình diện giá trị, nghĩa là trong sự đánh giá của tự do con người trong bình diện nhân văn (và do đó nó cũng có thể bị chối từ nếu như người ta không bước vào bình diện nhân văn của con người). Những cái giới hạn tự tại của con người sẽ tan biến đi khi người ta biết trao tặng và trao tặng bản thân cho nhau. Khi ta trao tặng bản thân mình cho người khác, nghĩa là ta đã nhận ra giá trị tuyệt đối của người khác; và khi ta trao tặng bản thân cho người khác thì cũng có nghĩa là ta đưa bản thân mình vào thế giới tuyệt đối. Cũng vậy, khi một người lãnh nhận bản thân dâng tặng của người khác như một tuyệt đối, không thể lấy điều gì khác thay thế được cho bản thân của người khác, nghĩa là người đó biết nhận ra giá trị tuyệt đối của bản thân ai đó, giá trị không có gì có thể đổi chác hay mua bán được. Nếu cả hai chiều hướng đó đều thể hiện được một cách chân chính, nghĩa là không đánh giá sự vật như con người hay hơn con người, nghĩa là không giản lược con người thành một sự vật, nghĩa là tính tuyệt đối của một con người được đón nhận trong tự do chân chính, thì thế giới của tuyệt đối được khai mở…
Quả thật, người ta không thể ra khỏi bản thân mình được nếu không có cánh cửa của tình yêu thương; vì chính tình yêu mới có thể là động lực giúp con người trao tặng bản thân, cũng như chính tình yêu mới có thể mở rộng tấm lòng để đón nhận bản thân người khác như một tuyệt đối.
Con đường hoàn thành vận mạng của đời người, cuối cùng, lại chính là gom góp trọn cuộc đời mình để cho đi. Đó không là gì khác hơn con đường dấn thân; và đó là phương cách duy nhất để ra khỏi cái tôi giới hạn, tương đối, bất tất, chóng qua, để đi vào bình diện tuyệt đối. Chính tình yêu mới có thể là cánh cửa cho con người ra khỏi chính mình, và chính tình yêu mới có thể giúp cho con người hoàn thành vận mạng tương đối của mình. Tình yêu như thế là cánh cửa mở ra với tuyệt đối.
“Con người là tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lai chính bản thân mình nhờ thành thực hiến dâng” (MV 24c).
Dĩ nhiên, trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta hiểu rằng gốc gác sâu xa và trọn vẹn của phẩm giá con người phải do từ Chúa; và thật sự nếu không có Chúa, nếu phẩm giá con người chỉ là một thành tựu của văn minh con người thì chính phẩm giá con người cũng không thể thực sự có một nền tảng bền vững ngay trong chính thế giới của con người được. Trước mặt Chúa, một người bé mọn nhất cũng không thể bị coi thường.
* Con người chỉ có thể dấn thân vì ai khác
Triết gia G. Marcel cho rằng người ta không thể dấn thân vì mình, không thể dấn thân vì sự vật, ngay cả với một lý tưởng, nhưng chỉ có thể dấn thân vì một ai khác. Khi người ta lao vào cuộc để củng cố, để thăng tiến bản thân mình, người ta dễ rơi vào kiêu ngạo hoặc ích kỷ, đó là thái độ đóng kín trong chính mình. Tất cả vẫn chỉ là làm phình to lên cái tôi của mình mà thôi. Khi người ta dấn thân vì sự vật, vì một thứ chân lý khách quan nào đó, vì một công trình tuyệt vời nào đó, thậm chí vì một lý tưởng cao đẹp nào đó mà không hướng đến ai khác, thì thật sự ra đó cũng chỉ là một sự dấn thân vì mình mà thôi. Dấn thân chỉ có thể là dấn thân vì ai khác.
Người đi vào đời sống hôn nhân hoặc đời sống tu trì đều một cách nào đó là những người “điếc không sợ súng”, nghĩa là không thấy hết được những khó khăn trong ơn gọi và sứ vụ mà mình lựa chọn. Điếc không sợ súng, một cách nào đó, là “tưởng bở” hóa ra là “dai”. Thế nhưng cái hay của hành trình “điếc không sợ súng” là : chính trên hành trình không được duyệt chính do lý trí, con người vẫn có thể đi cho trọn vẹn được. Đúng hơn, chính hành trình điếc không sợ súng thật ra lại tỏ lộ rõ rệt hơn động lực của hành trình : chính những tương giao trên hành trình dấn thân vì ai khác, chính những nghĩa tình được xây dựng trên hành trình dấn thân mới có thể nuôi dưỡng và trở nên động lực của hành trình dấn thân. Điếc không sợ súng, điều đó cũng có nghĩa là động lực để người ta đi trên đường đời, sâu xa hơn, không phải là lý trí lựa chọn một chương trình, không phải là một lý tưởng đẹp được mơ ước… nhưng chính bề dày nghĩa tình, nghĩa là chính những tình nghĩa, chính vì tha nhân mà ta gặp trên hành trình dấn thân làm cho người ta tìm được sức sống mới, liên tục phát sinh sức mạnh để đi trên hành trình ơn gọi và sứ vụ. Điếc không sợ súng, đó cũng là điều cần thiết, vì khi đó, người ta lao vào cuộc, có thể vì tưởng bở, nhưng không phải đi vào cuộc với sức mạnh và chương trình của mình, mà là nhờ sức mạnh của tình liên đới cụ thể, càng đi thì càng “tự sạc” điện cho mình bằng những kinh nghiệm của sống-với. Điều đó cũng cho thấy con người chỉ có thể dấn thân thực sự và dấn thân đến cùng vì ai khác, chứ không phải vì một chương trình hay vì bất cứ một sự vật nào khác.
* Yêu thương là dấn thân đến cùng
Đi vào nhịp bước tình nghĩa, người ta được mời gọi ra khỏi bản thân, dấn thân vì tha nhân và dấn thân cho đến cùng. Tiếng gọi của tình yêu chân chính bao giờ cũng thôi thúc con người đến một cách sống yêu thương trọn vẹn, triệt để, yêu thương đến cùng. Hành trình của tình yêu không phải nhằm đạt đến một sự an hòa cho bản thân, nhưng là vượt quá bản năng bảo vệ bản thân. Đó luôn luôn là một cuộc “vượt qua”. Tình yêu thương, trong khía cạnh dính dáng đến vận mạng con người, không thể được giải quyết bằng thái độ “đi giầy cao gót”, thái độ “đi cà khêu” trong cuộc đời. Để đến với ai khác trong tình yêu, ai khác như một bản thân có giá trị tuyệt đối, ai khác như vận mạng một đời người, ai khác với tất cả sự phức tạp của cuộc đời, người ta cũng phải hy sinh cả một đời.
Những người làm cha làm mẹ, những người có kinh nghiệm “cưu mang” một cuộc đời, “mang vác” một phận người,… có lẽ dễ hiểu được điều đó. Mang vác một cuộc đời là cả một hành trình gian nan, khốn cực mà người nào nhát đảm, an thân không thể nào đi trọn được. Để đồng hành với một phận người, người ta không thể đứng bên lề cuộc đời để khỏi vướng bùn nhơ, không thể đứng xa xa, cầm cây khều khều, gẩy gẩy… nhưng là xắn quần lên, là lội vào bùn, là ngụp lặn trong bùn. Có lẽ chính vì con người cần được cưu mang, cần được mang vác như thế mà Chúa cho con người có cha có mẹ.
4b. Thiên Chúa là Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử
* Con người được kêu mời dấn thân và cần đến một Thiên Chúa dấn thân
Trong nhiệm cục sáng tạo và cứu độ, con người được mời gọi dấn thân. Có lẽ chúng ta cần hình dung tiến trình sáng tạo khác, trong đó, con người không phải phát xuất từ Thiên Chúa, đi ra khỏi Ngài như một đam mê vô vọng trong cuộc đời; cho đến khi khám phá ra nẻo đường sai lạc mà quay trở về thì được hoà nhập vào Thiên Chúa. Đó là mô hình “ngoại đại”, không bao hàm chiều hướng dấn thân chân chính. Mô hình sáng tạo cần được nhìn theo chiều hướng con ngưòi được sáng tạo từ hư vô để tiến đến với Thiên Chúa; và hành trình tiến đến ấy chính là lịch sử cuộc đời mình. Hành trình lịch sử như thế không phải là nẻo đường đi lạc cho bằng là nẻo đường cần thiết để đến với Chúa, để thể hiện mình như một lời đáp, thể hiện mình với tất cả tính độc đáo, riêng biệt và trường tồn mãi như là chính mình. Mỗi một con người, dấn mình trong lịch sử, sẽ mãi mãi là thằng tôi ấy, “đời đời kiếp kiếp” là thằng tôi độc đáo ấy, để đi vào một tình yêu “hoà nhi bất đồng” của Thiên Chúa.
Con người là người và làm người. Đời sống con người là một hành trình và phải dấn thân đi vào lịch sử; cái chính yếu của đời người là dấn thân chứ không phải giác ngộ; là một hành động chứ không phải lý thuyết, là chọn lựa và lao vào cuộc chứ không phải là bảo vệ một tình trạng nào. Dấn thân vào hành trình lịch sử, đó là một vận mạng vô cùng phức tạp chứ không phải chỉ là một bài học lý thuyết có thể được hiểu một lần là xong. Cuộc đời có muôn vàn tình huống mà không thể dễ dàng giải quyết bằng một nguyên tắc đã có. Do đó, con người không phải chỉ cần một Thiên Chúa soi sáng, dạy bảo cho bằng cần một Thiên Chúa đồng hành.
Con người được sáng tạo nên do tình yêu Thiên Chúa và được mời gọi sống trọn hành trình cuộc đời mình trên nẻo đường đi về cùng Thiên Chúa. Được sáng tạo cũng chính là được mời gọi, lời mời gọi ra khỏi hư vô để đi đến tình yêu trọn vẹn. Đó là một hành trình thực sự mang tính cách dấn thân. Đi vào đời và sống trọn cuộc đời trung tín với Chúa trong dòng lịch sử, đó chính là lời đáp thiết yếu của con người. Lời gọi và lời đáp cũng đều là tình yêu. Lời gọi hiện hữu cũng nhất thiết gắn liền với lời đáp thể hiện mình trong dòng lịch sử. Con người không thể hoàn thành vận mạng của mình như một sinh vật sống trong vòng tử sinh, không thể hoàn thành với những thành tựu dù rất cao cả của con người. Những người đứng trước cái chết, nhất là những người trải qua một cuộc đời lầm lũi khổ đau, thường sẽ nhận ra tính vô vọng, tính vô nghĩa tự tại của cuộc đời. Tính vô nghĩa ấy chỉ có thể được vượt qua khi người ta hiểu cuộc đời mình là lời đáp. Ý nghĩa trọn vẹn của đời sống con người chính là nhận ra mối liên hệ ý nghĩa của đời mình với Thiên Chúa, và đời sống ấy trở thành một lời đáp. Do đó, điều quí trong nhất của đời sống con người chính là được nhận ra Thiên Chúa là Cha, là bạn đồng hành, là Đấng liên lụy vào đời sống giới hạn của con người; và như thế, đời sống con người chỉ còn là đáp lại, là dấn thân và phó dâng …
* Thiên Chúa của mặc khải là một Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử
Thiên Chúa của Abraham, Isaác và Giacóp không phải là Thiên Chúa của các nhà bác học, B.Pascal đã nói như thế. Điều đó trước tiên diễn tả một Thiên Chúa của Lời Hứa trong dòng lịch sử ơn cứu độ, một Thiên Chúa khác hẳn Thiên Chúa của các triết gia Hy Lạp. Thiên Chúa của người Hy Lạp an vị trong thế giới riêng và không biết gì đến con người, lại càng không bao giờ chịu phiền lụy vì cuộc sống con người. Một Thiên Chúa được muôn vật yêu mến nhưng chính Ngài chẳng yêu mến ai ngoài chính bản thân mình. Trong khi đó, Thiên Chúa của Lời Hứa là một Thiên Chúa dấn thân, đến độ trao ban chính Con Một của Ngài để chịu chết cho con người. Điều đó, người Hy lạp cho là điên rồ.
“… chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ”.(1 Cr 1,23)
Thiên Chúa bắt đầu dính dáng vào lịch sử của nhân loại ngay khi sáng tạo con người, đặc biệt khi Ngài hứa ban một “giòng dõi người nữ” (x. St 3,15); và lời hứa ấy được thực hiện chính thức trong dòng lịch sử khi Ngài chọn và gọi Abraham… Thiên Chúa cũng đi vào dòng lịch sử thăng trầm trên hành trình dấn thấn, mà một cách nào đó, ta tạm nói như Chúa “tưởng bở”. Thiên Chúa của Kinh Thánh là Thiên Chúa dính dáng vào cuộc sống con người đến độ cuối cùng “đành” trao ban chính Con Một duy nhất của mình.
Việc dính vào lịch sử, nói một cách con người, dã đưa Thiên Chúa vào cuộc thăng trầm của đời sống con người, gánh chịu những phiền lụy của cuộc lịch sử; nhưng đồng thời cũng là nơi Thiên Chúa thể hiện trọn vẹn bản chất yêu thương của Ngài. Tình yêu bao hàm dấn thân, nên Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa dấn thân, và yêu thương đến cùng thì cũng là dấn thân đến cùng.
Càng dấn thân vào hành trình lịch sử của con người, thì Thiên Chúa như càng “hiểu ra”, hay đúng hơn càng bộc lộ khả năng cho đi nhiều hơn nữa… đến độ cho đi chính Con Một của Ngài. Thiên Chúa nhập thể và nhập thế. Mầu nhiệm nhập thể không dừng lại ở việc hiệp nhất “siêu hình” của bản tính Thiên Chúa với bản tính con người, nhưng là bước dứt khoát để đi vào hành trình nhập thế; nghĩa là đi vào hành trình lịch sử thăng trầm của đời sống con người. Khi cho đi chính Con Một, Thiên Chúa không còn là người ở ngoài vận mệnh của con người nữa. Thiên Chúa đã cho đi chính bản thân, nghĩa là Ngài công nhận tính tuyệt đối của bản thân, của vận mạng con người. Điều đó được diễn tả trong nhiều dụ ngôn, chẳng hạn dụ ngôn người chăn chiên dám từ bỏ chín mươi chín con chiên để đi tìm một con chiên lạc, dụ ngôn những người tá điền bất lương…. Khi dâng tặng bản thân, dù là một ngôi vị tuyệt đối tự thân, Thiên Chúa đã đi vào con đường thể hiện tuyệt đối trong trao tặng và lãnh nhận; nghĩa là trong bình diện giá trị nhân văn, hay giá trị siêu việt. Đúng hơn chính việc Thiên Chúa, từ một phẩm giá tuyệt đối tại thân của Ngài, đã yêu thương và dấn thân vì con người, đã làm nên tính tuyệt đối của phẩm giá con người. Phẩm giá con người, trong tình yêu của Thiên Chúa, có được một nền tảng vững chắc và siêu việt ….
"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt 18,10.)
Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử con người, và đó là lịch sử của một dân cứng đầu cứng cổ… Có phải đó chính là thái độ của cha mẹ chăm sóc đến đứa con bướng bỉnh nhất của mình ??? Ta không thể chắc dân Israel là dân cứng đầu nhất, nhưng điều ta có thể thấy chắc chắn là, chính khi dấn thân và một dân “cứng cổ” như Sách Thánh nói, Thiên Chúa lại tỏ ra là Thiên Chúa hơn hết. Ngài tỏ ra Ngài chính là Thiên Chúa chứ không phải người phàm (x. Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu). Đó chính là thái độ dấn thân đến cùng. Dấn thân vì con người, vì ai khác là một con đường dấn thân đến cùng, vì không thể bỏ một tuyệt đối, không thể phản lại chính sự công nhận tuyệt đối nơi ai khác, điều mà tình yêu thương đã “tiên báo” ngay từ đầu của hình trình yêu thương. Đã đi vào hành trình yêu thương, là đi vào hành trình tuyệt đối, và hành trình đó luôn luôn là dấn thân đến cùng.
Tất cả ý nghĩa của việc dân thân đến cùng đó được biểu lộ trong dụ ngôn những tá điều bất lương. Thiên Chúa không ngừng nẻo đường dấn thân khi mà đã có nhiều người đầy tớ bị đánh đập, bị giết… nhưng tiếp tục đi đến hành vi quyết liệt nhất là sai chính người con duy nhất của mình đến…
Chúa Giêsu chịu chết cho con người, đó là kết luận “phải đến” của một hành vi dấn thân vì yêu thương. Trên nẻo đường đó, ta thấy bóng dáng của tính tuyệt đối của phẩm giá, tính “triệt để” đến cùng ý nghĩa yêu thương chân chính.
* Thiên Chúa dấn thân vào mối tương giao với mỗi người
Nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn, không phải qua một cuộc thi cử, phỏng vấn... để xét duyệt năng lực nhưng chỉ do ý muốn của Ngài; và kết quả của cuộc tuyển chọn ấy không có vẻ thành công. Cũng vậy, người ta vẫn có thể thấy Thiên Chúa tuyển chọn nhiều giám mục "cù lần", nhiều linh mục quan liêu, hống hách, nhiều tu sĩ quá lo bảo vệ nếp sống của mình... Sự thật đó thường khiến nhiều người khó chịu bực dọc; và chắc hẳn cũng có người thầm nghĩ Thiên Chúa đã chọn lầm. Thiên Chúa tuyển chọn theo Thánh Ý của Ngài, chúng ta cần nhìn ra mầu nhiệm tuyển chọn của Chúa, để nhận ra mầu nhiệm cứu độ và tôn trọng mầu nhiệm tuyển chọn ấy.
Như thế, chính vì phải "chọn lựa" những con người cù lần cho nên Chúa phải thức suốt đêm; nếu chỉ cần chọn lựa những người ngon lành, thì có lẽ Chúa chỉ cần một giờ là đủ. Nhưng trong mầu nhiệm tuyển chọn này, Chúa Giêsu đã cầu nguyện suốt đêm khi thi hành việc tuyển chọn này, vì tuyển chọn tức là chấp nhận, là chấp nhận vô điều kiện, tức là yêu thương cả những gì cù lần nơi các ông ấy; và đó mới là mầu nhiệm tuyển chọn trong tình yêu thương đích thực.
Dấn thân đến cùng vì tình yêu còn vượt qua một “thử thách” khác nữa, đó là dấn thân vì một con người. Tính tương giao ngôi vị là một bình diện căn bản của tình yêu. Tương giao ngôi vị làm cho phẩm chất của tương quan trở thành tuyệt đối. Cũng giống như sự ác là một điều dễ chấp nhận hơn tội. Sự ác thì vô ngã, ta cam chịu, và sức mạnh của lòng cam chịu là chính sự can đảm của bản thân ta. Tội là trách nhiệm với một ai khác. Tội không chỉ đòi hỏi một lòng can đảm để cam chịu, nhưng còn đòi hỏi một lòng quảng đại, tức đòi hỏi tình yêu để có thể đón nhận sự xúc phạm của ai khác. Theo một cách nói nào đó, ta có thể tạm nói rằng, khi yêu thương con người chung chung, Chúa vẫn còn thể hiện sự “can đảm” nhiều hơn; nhưng khi yêu thương những con người cụ thể, thì Chúa phải yêu thương hơn, quảng đại hơn rất nhiều …
Phải chăng cái tội cụ thể của một ai khác vẫn là điều dễ làm ta tức giận hơn ? Ta khó nói về Chúa như thế, nhưng có thể thấy một giao ước dính đến những con người cụ thể của nhiệm cục Tân Ước thì rắc rối hơn nhiều, vì nó tính đến từng con người, từng hoàn cảnh cụ thể, từng nết xấu cụ thể mà ta phải cảm thông và đón nhận, chứ không phải là một cách xử lý vấn đề theo những nguyên tắc chung một cách rõ ràng và minh bạch.
Chúa dấn thân vì cá nhân mỗi con người, đó cũng là một bước của tính tuyệt đối trong tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa không thể không triệt để, không thể không đi đến từng cá nhân, đến từng chuyện vô cùng tai quái của biết bao con người trên thế gian này…
4c. Dám dấn thân vì nhau
* Gợi ý suy niệm
1. Có những gì trong đời tôi mà tôi khăng khăng giữ riêng cho mình, không dám tin vào sự dấn thân liên lụy của Chúa vào đời tôi ?
2. Tôi có hay rút ra những bài học vớ vẩn theo quy luật của thế gian mà đánh mất chiều hướng dấn thân mà Chúa mời gọi tôi không ?
* Gợi ý thực hành
1. Hãy khám phá niềm vui được liên lụy với Chúa và với nhau trên bước đường đời.