Giá trị nhân bản Kitô giáo - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Nói chung, các chương trình nhân bản trong Kitô giáo hiện nay vẫn dựa vào những đức tính của Khổng giáo. Điều đó có thể được coi như một bước hội nhập văn hoá. Tuy nhiên, để hội nhập văn hoá, người Kitô hữu cần phải xác tín và được củng cố vững chắc trong chính tinh thần Kitô giáo, nhất là tinh thần Kitô giáo trong cuộc sống nhân sinh.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Dẫn nhập

1. Nhận định về hiện tình Giáo hội

Nói chung, các chương trình nhân bản trong Kitô giáo hiện nay vẫn dựa vào những đức tính của Khổng giáo. Điều đó có thể được coi như một bước hội nhập văn hoá. Tuy nhiên, để hội nhập văn hoá, người Kitô hữu cần phải xác tín và được củng cố vững chắc trong chính tinh thần Kitô giáo, nhất là tinh thần Kitô giáo trong cuộc sống nhân sinh.

Đường lối tu đức của người xưa là con đường "thuần túy thiêng liêng", những những cố gắng thu gom công phúc. Con đường tu đức của người trẻ hiện nay lại muốn "làm người trước khi làm thánh". Cả hai đường lối đó đều tỏ ra không thành công lắm và nhất là không có tính thuyết phục đối với những người ngoài Kitô giáo. Một đàng (lối thuần túy thiêng liêng) thì không có điểm chung với người khác vì không cùng đặt mình trong mảnh đất nhân bản để đối thoại. Đàng khác, đường lối thuần túy nhân bản lại không gợi ra, không làm chứng được sức mạnh cứu độ siêu nhiên của Thiên Chúa đối với đời sống con người (trừ ra niềm tin sẽ được vào Thiên Đàng). Cả hai cách thức đó khiến cho bộ mặt của Kitô giáo không còn nét nhân bản đặc trưng nào cả. Nói đến Giáo Hội công Giáo, người ta nghĩ đến một tổ chức chặt chẽ, hơi khép kín và có tính quyền lực. Nói đến người Kitô hữu, người ta tưởng ra những con người có nhiệm vụ đi lễ ngày Chúa Nhật, xưng tội… Còn đâu hình ảnh một cộng đoàn Kitô hữu "kìa xem họ yêu thương nhau biết bao" của thời Giáo Hội sơ khai, hoặc "đạo những người yêu thương" khi Kitô giáo đặt chân đến Việt Nam, để cho "Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy : là anh em có lòng yêu thương nhau" [Ga 13,35] ?

Thực sự Kitô giáo, tuy vẫn luôn bao hàm giá trị huyền nhiệm, nhưng bao giờ loại bỏ những giá trị nhân sinh :

"Thực vậy, sau khi đã theo mệnh lệnh Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần phổ biến trên trái đất các giá trị về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ, về tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, nghĩa là khi Chúa Kitô giao hoàn lại Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng: "Vương quốc của chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và ân phúc, vương quốc công bình, yêu thương và hoà bình" [Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua]. Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến".[MV 39 c].

Trong chiều hướng ấy, có lẽ hơn lúc nào hết, chúng ta cần tìm lại lập trường của thánh Thomas : "Siêu nhiên không phá đổ nhưng kiện toàn tự nhiên", lập trường có khả năng làm chứng cho một đời sống nhân bản đích thực nhờ vào hồng ân siêu nhiên đích thực.

2. Tín lý và những giá trị nhân sinh

Khi triệu tập Công Đồng Vatican II, Đức Gioan XXIII đã tỏ ý muốn đây là một công đồng mang tính “mục vụ”. Cảm thức của Đức Gioan XXIII về tầm quan trọng của tính cách mục vụ được sáng tỏ hơn khi các nghị phụ bàn về mục đích của mạc khải, số 11 trong hiến chế tín lý về Mạc Khải :

“Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh ứng viết ra, tức các thánh sử, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta. Bởi vậy, “mọi sự trong Thánh Kinh được Thiên Chúa linh ứng có ích lợi cho việc dạy dỗ, biện luận, sửa trị và rèn luyện trong công chính; để người của Thiên Chúa trở nên trọn hảo và sẵn sàng thực hiện mọi việc lành” (2 Tm 1, 16-17, bản Hy Lạp). (MK 11b)

Cha P. Gomez cũng viết trong phần giới thiệu về Hiến Chế như sau :

“Việc xác định chân lý Thánh Kinh ở số 11 là một điều rất quan trọng. Người ta không thể tìm thấy trong Thánh Kinh bất loại chân lý nào [khoa học, lịch sử, địa lý, dân chủng học...] nhưng chỉ có thứ chân lý cứu thoát chúng ta, và ta cũng nên lưu ý Công Đồng không nói “những chân lý” những nói “chân lý” ở số ít; chân lý ấy đồng thời cũng là sự sống, là đường dẫn đến sự cứu độ. Điều đó muốn nói rằng chân lý của chúng ta không phải chỉ là một điều ta biết suông, nhưng là một bổn phận phải thực hành, “những thực hành chân lý” [Xc. Ep 4, 15], và phải tiến tới trong chân lý, “đi trong chân lý”. Công Đồng muốn giải phóng thần học khỏi quan niệm Hy Lạp về chân lý quá tĩnh, để trở về với ý niệm Do Thái linh động hơn, cởi mở hơn đối với mầu nhiệm Thiên Chúa”.

Quả thật, khi một giá trị nhân sinh càng chân chính, càng hợp với "lòng trời", với "ý dân", càng đụng đến nền tảng "hữu thể" của con người thì nó càng có khả năng lay động con người và xã hội. Quả thật, trong qua trình dài của lịch sử, chính cái đẹp, chính những giá trị nhân sinh chân thật mới là sức mạnh để "cứu độ" con người.

Có rất nhiều điều trong tín lý và luân lý Kitô giáo, đáng lẽ bao hàm và diễn tả những giá trị nhân sinh cao đẹp, thì lại bị biến thành những qui định cứng nhắc, những giới luật đòi buộc cách áp đặt, những úy kỵ vô cớ.

Khi tìm thấy những giá trị nhân sinh của Kitô giáo như thế, kinh Tin Kính không phải chỉ là một bản "nội qui" buộc phải chấp nhận, một bài học cần phải thuộc lòng. Thật sự Kinh Tin Kính mới thực sự là một bản hùng ca của sức mạnh cứu độ, một bản hoan ca của tình thương đại đồng, một bản hy vọng ca về tương lai nhân loại….

3. Dàn bài

Để bổ túc khiếm khuyết nói trên, xin đề nghị một chương trình tạm gọi là những giá trị nhân bản Kitô giáo, dựa theo những nét căn bản trong lịch sử ơn cứu độ và dựa theo chính những điều khoản căn bản trong kinh Tin Kính.

Dẫn nhập

1. Vị thế con người

2. Sống với

3. Thái độ “nghèo khó”

4. Khiêm tốn Kitô giáo

5. Trung tín Kitô giáo

6. Yêu thương vị tha

7. Dấn thân

8. Tự do Kitô giáo

9. Sáng tạo cuộc đời như một nghệ thuật

10. Ước mơ trọn vẹn

…………………….

Bài 1. Vị thế con người

1. Con người có ngôi vị

Con người được Chúa sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ ngữ “giống như” trong Kinh Thánh không chỉ có ý nghĩa là một sự so sánh, nhưng còn có ý nghĩa sâu xa: Thiên Chúa là cội nguồn tất cả cuộc sống con người, nghĩa là con người được dựng nên để sống với Chúa.

Con người được mời gọi để sống với Chúa trong tình yêu. Tình yêu Kitô giáo bao gồm những tính chất của sự tự do, của tính tự chủ, tính tự hiến... Do đó, Thiên Chúa ban cho con người được có một ngôi vị để có thể yêu mến Chúa và yêu thương nhau như những chủ thể. Tình yêu Kitô giáo được mô phỏng từ mầu nhiệm hiệp nhất của Một Thiên Chúa Ba Ngôi Vị, nên mỗi con người cũng có một ngôi vị, có linh hồn riêng để suy tư và ước muốn, để tự do lựa chọn đi vào tình yêu thương.

Nền tảng này cũng cho thấy con người cần được tôn trọng và mỗi người cần thể hiện được thái độ tự chủ chủ mình. Trong mọi giải pháp của đời người, yếu tố cần thiết hàng đầu là trao trả lại những điều kiện cần thiết để con người thể hiện quyền tự chủ của chính mình. Ưu tiên của giải pháp Kitô giáo là giúp con người tìm được thái độ làm chủ chứ không phải là tìm cách xỏ mũi, trấn áp, đe dọa hoặc một sự mê hoặc nào đó.

2. Bản thân con người

Con người theo Kinh Thánh có ba khía cạnh : thân xác, linh hồn và thần trí. Đây không phải là ba yếu tố trong con người, vì người Do Thái luôn có một cái nhìn mang tính toàn diện, nhưng đây là ba khía cạnh trong đời sống con người.

- Thân xác : tức con người toàn thể trong khía cạnh mỏng dòn, bộc lộ trong mối tương quan với người khác và tương quan với vũ trụ.

- Linh hồn : tức con người toàn thể trong khía cạnh sự sống nội tại của mình, đó là sự sống, là ý thức, và suy nghĩ bên trong con người.

- thần trí : tức con người toàn thể trong khía cạnh tương quan với Thiên Chúa.

Như thế, con người được đặt ở vị thế đứng giữa thế giới tự nhiên và thế giới siêu nhiên. Những khía cạnh của thân xác là cuộc sống hằng ngày của con người, trong đó, “linh hồn” bị chi phối do những tương quan của thế giới “có thời gian” và có nguy cơ bị xô đẩy theo những áp lực xô bồ của cuộc sống. Kinh Thánh nói cho chúng ta thấy để có thể sống và sống trọn vẹn cuộc đời của mình, con người nội tại (linh hồn) cần được hướng dẫn bằng mối tương quan siêu nhiên, nhờ được Chúa đặt khía cạnh thần trí trong con người, nhờ sống với Chúa.

Như thế, theo Kinh Thánh, con người đứng trong thế “tay ba”; phần năng lực nội tại của con người cần được củng cố do mối tương quan siêu nhiên với Chúa để có thể sống cuộc đời thật hằng ngày của mình qua mối tương quan thân xác. Trong bối cảnh ý nghĩa như thế, ta hiểu rằng, đối với Kitô giáo, con người thiết yếu cần được cứu, cần được dính dáng toàn vẹn cuộc đời mình vào Chúa qua khía cạnh thần trí trong con người.

3. Hành trình đời người

Mặt khác, con người được sáng tạo trong khung cảnh thời gian có khởi đầu và có kết thúc chứ không phải thời gian đi vòng tròn. Trong hành trình đó, con người dấn bước vào đời, mang lấy lịch sử đời mình, hình thành bản thân mình một cách đặc biệt, độc đáo qua quá trình lịch sử. Lịch sử cấu tạo nên bản thân của mỗi con người và làm cho mỗi người trở thành “độc đáo”. Mỗi con người được là mình trong lịch sử đời mình và mong ước được chấp nhận bản thân như mình là.

Hành trình đời người trong thời gian, có khởi đầu và có thời gian kết thúc cuộc đời trần thế. Tuy nhiên, vận mạng con người không kết thúc với cái chết, con người còn có đời sống sau cái chết. Điều đó cho thấy con người không có bản chất vĩnh cửu, nhưng lại chính là hành trình hướng về vĩnh cửu. Không nhận ra khao khát vĩnh cửu nơi con người thì không hiểu bản chất đích thực của con người. Trong khía cạnh này, con người khao khát được đồng hành trong suốt lịch sử đời mình, đặc biệt là trong hành trình đạt tới cứu cánh siêu nhiên của vận mạng con người.

4. Hoạt động con người

Trong tình trạng con người hiện nay, nghĩa là con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Chúa, nhưng lại sống trong vòng liên lụy của tội tổ tông, hành trình của đời sống con người được hình thành nên qua hai khía cạnh chính :

4.1 Nỗ lực

Cuộc sống con người ở trần gian này là một cuộc chiến. Con người giống như người bơi trong dòng nước ngược, không tiến thì sẽ bị cuốn trôi ngược lại. Thật ra ngày khi người ta chọn một nghề nghiệp, chọn một ơn gọi, thì đó đã là chọn lựa một phương cách làm người, và đã là một cách chọn “đối thủ” cho cuộc đời mình.

Điều quan trọng là phải biết chon đúng đối thủ và đó phải là đối thủ xứng tầm với vận mạng làm người. Do đó, mặc dù là chọn ơn gọi hay nghề nghiệp nào, vấn đề chính yếu của đời người là phải nhìn ra ý nghĩa sâu xa của đời người để biết phải sống thế nào. Nói chung, đối thủ xứng tầm của đời người là chính satan, là chính sự ích kỷ, ghen ghét, gian dối trong ơn gọi và nghề nghiệp của mình. Nếu không nhận ra đúng đối thủ xứng tầm, đời sống con người có nguy cơ tản mạn, đánh vào không khí, và loay hoay giải quyết đời mình một cách vụn vặt.

4.2 Hiệp thông

Một hoạt động khác thể hiện nhu cầu sâu xa hơn của con người, đó là hiệp thông. Hiệp thông là gặp gỡ, là thông hiệp, là yêu thương, ...đây mới chính là mục tiêu chính đáng nhất của đời người. Sống là chiến đấu, nhưng chiến đấu là để tìm được sự hiệp thông chân chính.

Một cách tổng quát, nếu ai đó chiến đấu vì “cái gì” thì rất dễ chống lại ai khác, đó là dấn thân vì sự vật. Ngược lại, nếu ai đó chiến đấu chống lại “cái gì”, nghĩa là chiến đấu để loại trừ đối thủ đích thực là hận thù, ghen ghét, ...thì sẽ có cơ may dần dần đi vào cuộc chiến “vì ai”. Đây là thái độ dấn thân vì ai khác, và người nào dấn thân như vậy sẽ có cơ may tìm được sự hiệp thông chân chính.

5. Con người có cứu cánh tại thân

Cuối cùng điều có tầm quan trọng thiết yếu là con người được Thiên Chúa dựng nên vì chính mình. Nói theo triết học, con người có cứu cánh tại thân. Con người được sáng tạo để sống trọn cuộc đời mình. Dứt khoát không bao giờ được coi con người, dù là một người nào, như một phương tiện, sử dụng con người như “con dê tế thần”. Con người, mỗi người được sáng tạo để được sống hạnh phúc trọn vẹn cho bản thân mình.

Tuy nhiên, con người để tìm thấy chính bản thân mình, con đường để có được hạnh phúc trọn vẹn lại không thể là con đường nào khác hơn việc tự nguyện hiến dâng chính bản thân và cuộc đời mình cho ai khác, hiến dâng tự nguyện vì yêu thương.

Tạm kết

Vì con người có một vị thế đặt biệt như thế trong nền tảng đạo lý Kitô giáo, nên những giá trị nhân bản Kito giáo cũng có nhiều điều khác biệt với những giá trị nhân bản ngoài Kitô giáo. Người Kitô hữu cần đón nhận giá trị nhân bản trong các nền văn hóa và tôn giáo khác, nhưng không thể vì thế mà đánh mất những nền tảng sâu xa của chính niềm tin.

Ngược lại, khi trở về với niềm tin, người Kitô hữu có thể tìm thấy những giá trị nhân bản sâu xa, khám phá vận mệnh đời người với đầy đủ những nét cao đẹp tuyệt vời.

Bài 2. Sống - với

Đối với người Kitô hữu, nền tảng của khoa nhân học Thánh Kinh chính là mặc khải con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa.

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa,…” (St 1,27)

Khẳng định này có rất nhiều ý nghĩa :

1. Những ý nghĩa trong đức tin

1.1 Con người làm chủ vũ trụ

Trước tiên, chúng ta đã biết, con người trong Kinh Thánh có được một vị thế siêu việt hơn tất cả vũ trụ (như đã nói ở bài trước). Con người Chúa dựng nên giống hình ảnh Chúa để làm chủ vũ trụ chứ không phải để thống trị nhau, như quan niệm thiên tử của nhiều nền văn hoá khác.

1.2 Con người được mời gọi sống-với

Con người giống hình ảnh Chúa, có thể được hiểu như là con người có linh hồn thiêng liêng, có lý trí và có tình yêu. Tuy nhiên, mục đích chính của việc tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa chính là để con người có khả năng nhận biết và yêu mến Chúa, nghĩa là để sống-với Chúa. Sống-với là ý nghĩa chính yếu và quan trọng nhất.

Như thế chúng ta cũng hiểu ý nghĩa chính yếu của “tội tổ tông” là cám dỗ đánh mất thái độ sống-với. Tội Tổ Tông hệ tại việc chọn một “phương thức sự vật” nào đó nhằm giải quyết cuộc đời của mình, được nên giống như thần thánh. Đó không phải chỉ là cám dỗ và sa ngã của nguyên tổ, nhưng còn là cám dỗ chính yếu trong thân phận con người mà chúng ta có thể gọi là “bệnh thực dụng”, và chúng ta thấy điều đó hiển hiện trong lịch sử ơn cứu độ cũng như trong đời sống đức Tin Kitô giáo.

+ Thí dụ 1 : người Do Thái được Chúa chọn và được Chúa giao ước để sống tất cả lịch sử dân tộc trong mối tương quan sống-với Chúa. Thế nhưng, nguy cơ của của cám dỗ “thực dụng” vẫn luôn rình rập. Sống trong giáo ước, người Do Thái vẫn bị cám dỗ của bệnh thực dụng khi :

- thay vì giữ luật để thể hiện lòng trung tín với Chúa, người ta giữ luật để làm hoàn hảo cho bản thân mình.

- thay vị tế lễ trong các nghi thức phượng tự để thờ phượng Chúa, người ta lại tế lễ để thanh thoả lòng mình.

- và thay vì giữ các luật ô uế trong tâm hồn như sứ điệp của các ngôn sứ, người ta bám lấy hình thức bên ngoài để chắc tâm về chính mình mà thôi.

Nguyên nhân sâu xa của những lệch lạc này là vì người ta không còn nhìn tới Chúa, nhưng nhìn nhau; không còn nhận ra bản thân mình trong tương quan với Chúa mà lại muốn đánh giá bản thân mình trong sự so sánh với người khác.

+ Thí dụ 2 : Đức Tin bao hàm hai nội dung chính :

1/ Gắn bó bản thân với Chúa.

2/ Tuân giữ mọi điều Chúa dạy.

Trong hai điều đó, điều thứ nhất, gắn bó bản thân với Chúa là chính yếu, điều thứ hai phát xuất từ điều thứ nhất. Khi người ta không gắn bó bản thân với Chúa, thì người ta không thể giữ “mọi điều” Chúa dạy, nhưng chọn lựa những điều thích hợp với mình mà thôi. Ta thấy, người Do Thái nói chung và cả một số môn đệ của Chúa Giêsu, khi nghe những điều Chúa nói “chói tai”, thì bỏ không theo Chúa nữa (Xc. Ga 6,60-66). Đó cũng là căn bệnh thực dụng.

+ Thí dụ 3 : 10 người phong cùi được chữa lành, nhưng chín người đã vui hưởng ơn được chữa lành và không biết tìm đến Đấng chữa lành cho mình. Chỉ có một người Samari biết tìm đến chính Chúa thôi (Xc. Lc 17, 11-19).

+ Thí dụ 4 : với Giáo hội Công giáo, chúng ta có thể thấy căn bệnh thực dụng luôn đe doạ hầu như trong tất cả những điểm trọng yếu của đời sống đức Tin, chẳng hạn : vấn đề mạc khải, vấn đề ân sủng, vấn đề tội lỗi, vấn đề cánh chung…

2. Những ý nghĩa trong cuộc sống nhân bản

2.1 Phẩm chất nghĩa tình

Con người được sáng tạo nên giống Thiên Chúa, đó là nét căn bản “định hình” cho tất cả vận mạng con người. Con người chỉ có thể sống trọn ý nghĩa đời mình khi sống trong mối tương quan ngã vị với ai khác, với Chúa và với tha nhân.

Một cách đơn giản, chúng ta nhìn một trường hợp cụ thể : khi người mẹ cho con cái bánh. Đứa con nào chỉ thấy, chỉ vui/buồn với cái bánh, đó là đứa con có nhiều nguy cơ hư hỏng cả cuộc đời. Ngược lại, đứa con nào biết cám ơn mẹ, biết nhận ra tình thương ngọt ngào của mẹ quan trọng hơn cái bánh, thì đứa con ấy có nhiều cơ may sống cuộc đời trọn vẹn.

2.2 Sống-với để tìm hạnh phúc

Ý nghĩa sống với giúp ta hiểu được ý nghĩa đời người. Đời người không phải là một sự thoả mãn ích kỷ, mà cũng không phải là con đường của chủ nghĩa khổ hạnh, nhưng là con đường tìm hạnh phúc chân chính. Hạnh phúc là khát vọng căn bản sâu xa và là động lực lớn của đời người, nhưng để hiểu đi Có lẽ cần phân biệt hạnh phúc và sung sướng.

Hạnh phúc và sung sướng có vẻ gần giống nhau và nhiều người luôn lầm lẫn. Nói chung, sung sướng là điều đo đếm được, và xuất phát từ việc tiêu thụ những “sự vật” (sự vật là những gì không phải chính “bản thân”). Còn hạnh phúc là điều không đo đếm được, xuất phát từ việc hoàn thành được ý nghĩa căn bản của đời mình, và ý nghĩa đó luôn luôn là ý nghĩa yêu thương vị tha.

2.3 Sống với để thực hiện ơn gọi và sứ mạng đời người

Con người có một tiềm năng rất lớn. Bình thường người ta chỉ sử dụng khoảng 2/10 năng lực của mình. Chỉ khi người nào đó hiểu ra cuộc đời mình được ai đó kêu gọi và được trao sứ mạng, nghĩa là tìm thấy điểm liên kết sống-với trong ý nghĩa trọn vẹn nhất của cả một đời người, thì người ấy mới có khả năng phát huy trọn vẹn năng lực của mình và sống cuộc đời mình trọn vẹn mà thôi.

2.4 Yếu tố sống với giúp con người sám hối thực sự

- Hành trình đời người luôn có nhiều sai lạc, lầm lỗi và sám hối là một yếu tố cần thiết. Nhưng sám hối đích thực chỉ có được trong sống-với, nghĩa là sám hối vì nhận ra lỗi/tội, chứ không phải vì sự ác dính dáng đến bản thân mình và chỉ sám hối vì mình.

Kết

Đối với người Kitô hữu, không phải “sống đúng” là điều quan trọng nhất, nhưng là sống-với; sống-vì; sống-cho …ai khác mới là điều quan trọng nhất.

Bài 3 : Thái Độ “nghèo khó”

1. Bản chất nghèo của con người

- Trong thực tế sinh học, con người sinh ra là con vật yếu đuối nhất, “trần trụi” nhất. Con người khi sinh ra, thể xác yếu đuối và cần được cha mẹ chăm sóc thật lâu mới có thể sống tự lập được. Bộ não con người, khi sinh ra, không có được sự hỗ trợ của những bản năng tự nhiên như con vật. Sự gì đối với con người cũng phải học mà biết, và học một cách khó nhọc.

- Trong thực tế của phái tính, mỗi người chỉ có thể là nam hoặc là nữ, nên mỗi người không bao giờ có thể sống mà không cần đến người khác. Dĩ nhiên, con vật không lưỡng tính thì cũng cần tới phái tính khác. Nhưng nơi con vật, sinh lý phái tính là một tiến trình tự nhiên, không phải con đực hay con cái được bên kia trao tặng hoặc lãnh nhận cái gì cả. Ngược lại, nơi con người, sự khác biệt phái tính và nhu cầu phái tính chỉ có thể giải quyết trong sự chờ đợi trao tặng và lãnh nhận trong lòng tri ân của bên nay và bên kia.

- Trong hành trình cuộc đời, con người luôn luôn cần có người đồng hành, có người trợ giúp, có người thông cảm, có người ủi an, có người cùng liên luỵ trong khổ đau… Bản thân con người vốn bao hàm một sự cô đơn sâu thẳm, mong được trao ban bản thân của mình cho người khác và khao khát được một sự chấp nhập bản thân của người khác. Bản thân là “cái” không thể chiếm hữu, không thể mua bán đổi chác. Bản thân chỉ có thể được trao tặng và lãnh nhận trong lòng tri ân.

- Thực sự, tất cả những gì con người “là” và con người “có” trong cuộc đời này đều là những điều tương đối. Tôi có thể không có mặt trong trần gian này, nếu như bố mẹ tôi không gặp nhau; tôi có thể không là nam/nữ như tôi hiện nay, nếu như bố mẹ tôi quen ăn mặn hay ăn nhạt; tôi có thể không có người vợ/chồng và những đứa con như hiện nay, nếu như sự tình cờ run rủi của cuộc đời quay sang hướng khác; tôi có thể không có kiến thức, địa vị, hoặc không ngồi trong lớp học này đây, nếu như…. Tất cả mọi sự của con người đều có thể khác đi hoàn toàn vì những cái “nếu như” luôn có thể xẩy ra. Đó là bản chất tương đối của con người, và đó là cái “nghèo” sâu xa của con người.

- Tóm lại, với đức Tin Kitô giáo, con người được Thiên Chúa sáng tạo từ hư vô, đó là cái “nghèo căn nguyên” của con người.

2. Khuynh hướng giải quyết quen thuộc

Có hai khuynh hướng căn bản :

- Cách thứ nhất : trong tình trạng “nghèo”, khuynh hướng quen thuộc của con người là tìm cách giải quyết bằng sự chiến hữu những “sự vật” để tạm bù đắp. (Sự vật ở đây hiểu là tất cả những gì không phải là “bản thân”, bên ngoài bản thân của một ai đó). Đây là cách thức lấy một thứ tương đối nào đó - hoặc đồng tiền, hoặc danh vọng, hoặc một chủ nghĩa chính trị…- và tấn phong cho cái tương đối đó một vương quyền tuyệt đối, nghĩa là tìm lấy đầy cái nghèo của mình bằng một cái “giầu” giả tạo.

- Cách thứ hai : con người cũng thường tìm cách giải quyết cách tự bằng lòng với những gì có được trong cuộc sống cụ thể hằng ngày. Một cách nào đó, con người muốn giải quyết cuộc đời mình bằng lựa chọn “khéo co thì ấm”. Đây là cách chấp nhận cái “nghèo” bằng một thứ cam chịu; đành chịu vậy và an vui với cái tương đối của mình, nghĩa là tự tìm cách xoá đi cái hố thẳm “nghèo” của mình. Nói chung, những chủ thuyết triết học và tôn giáo ngoài truyền thống Kitô giáo đều có khuynh hướng giải quyết vận mạng con người bằng một thứ cam chịu, cam chịu “mệnh trời”, cam chịu “nghiệp chướng”, cam chịu “trò đời”… Chúng ta thấy điều đó trong kinh nghiệm của thánh Âu tinh khi chọn sống theo học thuyết nhị nguyên Manichéisme.

+ Nói chung, người ta không muốn khổ, không muốn xáo động, nên chỉ mong xuê xoa làm sao đó để cuộc đời con người trở nên an bình như một “mặt nước hồ thu”.

3. Sống thái độ nghèo chân chính

- Trong con người vốn tương đối tự bản chất, lại có một hố thẳm bao la vô cùng, đó là “ý muốn”. Ước muốn của con người là “hố thẳm không đáy”, mà gần như không có điều gì có thể lấp đầy được. Con người khao khát tiền bạc, khao khát danh vọng, khao khát quyền lực… nhưng rồi tất cả đều sẽ đến lúc làm cho con người bị chán.

- Thật sự ra, trong cái hố thẳm của ý muốn, con người cũng có một chút kinh nghiệm về sự “thoả mãn” của ý muốn, đó là khi được sống trong một “cuộc chơi”, một cuộc chơi đầy tính phiêu lưu để rồi cảm nhận được niềm vui oà vỡ trong một sự hiệp nhất tìm lại được. Cuộc chơi đó giống như hai người yêu nhau khao khát muốn được người yêu của mình nhận lời mời đi ăn kem, viết một mảnh giấy mời, gởi đi rồi hồi hộp chờ câu trả lời…rồi cuối cùng thì nhận được một sự chấp nhận cách tự nguyện và thích thú của người yêu. Khi đó, niềm vui oà vỡ. Kitô giáo đề cao hôn nhân, vì hôn nhân diễn tả tình yêu thực sự trong sự liên luỵ khổ cực với nhau chứ không phải đầu môi chót lưỡi, nhưng điều đó không có nghĩa là biến hôn nhân thành một sự chiếm hữu nhau, đòi buộc nhau, không còn chỗ cho tính tự nguyện và tính phiêu lưu trong đời sống hôn nhân.

- Kitô giáo vừa khẳng định bản chất “nghèo” của con người, nhưng lại mở ra một chân trời “giầu sang” vô biên cho vận mạng con người. Con người được Chúa dựng nên từ hư vô, nhưng lại được dựng nên “giống hình ảnh Thiên Chúa”, nghĩa là để con người có thể sống với Chúa. Sống với Chúa, đó là chân trời bao lao, siêu việt và phong phú vô cùng vô tận.

- Thánh Âu tinh kinh nghiệm và sống sự “nghèo khó” của kiếp người một cách chân chính khi thốt lên : “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con vì Chúa, nên hồn con xao xuyến mãi cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa. Cái nghèo của con người, trong tinh thần Kitô giáo, chính là khả năng vô biên để lãnh nhận Đấng Vô Biên. Đó là cái nghèo của sự khao khát vô biên đích thực, và đó là cái nghèo rộng mở cho sự sống năng động, phiêu lưu, mới mẻ…

- Tóm lại, Kitô giáo không muốn biến cuộc sống con người thành “mặt nước hồ thu”, nhưng muốn con người sống cuộc đời mình như một ngọn thác. Cần phải dựng đứng cuộc đời mình, dựng đứng để trút hết những cái chiếm hữu vơ vẩn, vụt vặt, và dựng đứng để bắc cầu cuộc đời mình vào nguồn mạch của sự sống vô cùng phong phú của Chúa.

- Thái độ “nghèo khó” Kitô giáo cũng chính là thái độ sống-với, nhưng ở đây là sống với Chúa, và sống với Chúa trong một sự phiêu lưu vô tận giống như một cuộc chơi. Thái độ nghèo khó Kitô giáo là thái độ khao khát, khao khát đúng đắn và trọn vẹn, để đừng bao giờ lấp đầy hố thẳm khao khát bằng bất cứ điều gì. Thái độ nghèo khó đích thực đó được “bảo đảm” trong thái độ tin - cậy ở trần gian này và trong thái độ mến, nghĩa là có được sự “ngọt ngào” trong sự tin-cậy ấy khi bước vào cuộc sống mai sau.

Tạm Kết

Đối diện với Chúa, con người chỉ có một thái độ duy nhất, đó là thái độ chấp nhận sự nghèo khó của mình. Nhưng để hiểu được điều căn bản này, con người cần được tác động hoán cải của Chúa Thánh Thần.

Lời cầu nguyện chân chính nhất của con người là : xin Chúa thương xót chúng con.

Tuy nhiên, trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, nhận ra mình nghèo chính con đường mở ra một chân trời bao la nhất, chân trời đạt đến Thiên Chúa.

Bài 4. Khiêm tốn Kitô giáo

1. Khiêm tốn Kitô giáo

Một cách tự nhiên, trong nền văn hoá nào cũng vậy, người ta thấy quí trọng con người khiêm tốn và cảm thấy khó chịu với những kẻ hợm hĩnh, kiêu căng… Tuy nhiên, xét cho cùng, sự khiêm tốn như nét đẹp văn hoá của đời sống con người như thế không tìm được một nền tảng đúng đắn trong thế giới con người. Nếu khiêm tốn chỉ là một cách thức tỏ ra mình bình thường, hoặc mình hèn kém,…trong khi trong thực tế, chính mình biết và nhiều người đều thực sự khâm phục tài năng của mình, thì chẳng những có một sự giả tạo, nhưng điều đó còn có thể là một sự kiêu ngạo trá hình.

Thật ra, khiêm nhường không phải chỉ là một đức tính luân lý mà thiết yếu gắn liền với ý nghĩa đức Tin. Nhìn lại thái độ của đức Maria, chúng ta nhận ra một sự khiêm tốn chân thực. Đức Maria thẳng thắn nói lên sự thật : “từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”; nhưng Mẹ nhận ra nguồn gốc của hồng ân ấy chính là do Chúa. “Phận nữ tỳ Chúa đoái thương nhìn tới”.

Thánh Phaolô cho chúng ta hiểu được ý nghĩa khiêm tốn đích thực khi nói :

“Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu ? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh ? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ? (1 Cr 4,7)

Ý nghĩa chân chính nhất của khiêm tốn chính là thẳng thắn nhìn nhận rằng mình đã được lãnh nhận, và lãnh nhận với lòng tri ân.

2. Cái nghèo căn bản

Con người tự bản chất đã bao hàm một sự “nghèo khó” (xem bài Thái độ Nghèo khó). Tuy nhiên, trong cảm nhận của con người, có lẽ cái nghèo sâu xa nhất là: con người khao khát yêu thương; yêu thương vị tha và được đáp lại cũng bằng một thứ yêu thương vị tha của ai khác. Khao khát ấy, con người không thể tự mình giải quyết được. Con người không thể dùng sức mạnh cưỡng ép tình yêu của ai khác mà cũng không thể dùng tài năng, dùng tiền bạc, dùng đức độ…để đổi lấy tình yêu chân thật. Con người chỉ có thể đón nhận tình yêu như quà tặng, và trao tặng tình yêu một cách quảng đại.

3. Khiêm tốn để đi vào giao ước bản thân

3.1 Nỗi xao xuyến của người độc thân

Độc thân thì “khoẻ” hơn lập gia đình nhiều, vì không phải vướng víu nhiều chuyện, không phải chiều ý nhau trong nhiều chuyện vô duyên, hoặc vô lý. Nhưng đời sống độc thân không giải quyết được nỗi cô đơn sâu xa của con người. Đến một độ tuổi nào đó, người sống đời sống độc thân cảm thấy mình không thuộc về ai, và cũng không ai thuộc về mình. Vì không ai thuộc về mình, nên người sống độc thân không dại gi “bung ra” hết mình, cho đi trọn vẹn những gì cần thiết để bảo đảm cho cuộc sống của mình. Vì mình không thuộc về ai, nên người sống độc thân không dám phó đời mình cho ai cả, phải tính toán kỹ lưỡng cho cuộc đời mình, phải tìm mọi cách để có thể tự mình đón nhận những khó khăn của bệnh tật, của biến động …Cuộc sống không có mối liên hệ vói ai khác một cách sâu xa dễ làm cho người sống độc thân tìm cách bảo vệ đời mình bằng những sự vật. Người sống độc thân thường tìm cách ổn định đời mình bằng thời khóa biểu, bằng những sự vật quen thuộc, những cách thức sống quen thuộc… mà tự thâm tâm vẫn man mác một sự xao xuyến về tương lai của mình. Rồi khi bệnh tật, người sống độc thân cũng thường tìm cách giải quyết mọi sự theo tiêu chuẩn là tìm sự an toàn cho mình chứ không phải vì lợi ích cho những người thân.

3.2 Hai nhu cầu căn bản

Con người ta có hai nhu cầu căn bản, nhu cầu được chấp nhận và nhu cầu khẳng định bản thân. Hai nhu cầu này tương tác mật thiết với nhau, nhưng không phải là dễ hoà hợp một cách đúng đắn. Trong rất nhiều trường hợp, trong phần lớn cách tính toán của con người, khi người ta tìm cách thoả mãn nhu cầu này, thì một cách nghịch lý, người ta lại khoét sâu chỗ thiếu hụt của nhu cầu kia. Nhu cầu được chấp nhận là nhu cầu căn bản, nhưng vì không muốn được chấp nhận như là một sự thương hại, người ta phải tìm cách khẳng định bản thân. Tuy nhiên, nếu như ta tính toán phương trình của cuộc sống theo kiểu cần khẳng định bản thân để được chấp nhận, người ta sẽ rơi vào tình trạng không được chấp nhận chính bản thân, mà chỉ được chấp nhận như là tài năng, như là tiền bạc, như là sắc đẹp…, tức là những gì có thể mất đi trong khi bản thân của ta vẫn còn đó.

Con người giống như kẻ đứng ở dưới nước sâu, chân không đụng đất mà đầu thì cứ muốn vươn lên để được bằng chị bằng em. Nhiều khi muốn vươn lên bằng một sự khẳng định bản thân tốt, thì người ta lại rơi vào tình trạng chân không chạm đất, nghĩa là thực sự mình phải dấu đi rất nhiều khuyết điểm, sai sót, tội lỗi của mình; và đó cũng là tình trạng không được chấp nhận từ bên dưới, không được chấp nhận trong con người thật của mình, không được chấp nhận chính bản thân của mình.

Thật ra, chỉ có một con đường chân chính, con đường dám để chân mình chạm đất, nghĩa là trước tiên chính mình dám chấp nhận con người thật của mình, dù là bị “ngập nước” trong tình trạng không được bằng chị bằng em. Nhưng con đường này cần phải được một ai đó dám chấp nhận bản thân mình, ai đó dám đỡ nâng cuộc đời mình “ở bên dưới”… Khi đó, cuộc đời sẽ được cấu trúc theo phương trình : được chấp nhận bản thân, ra sức khẳng định bản thân để đáp lại nghĩa tình vì mình đã được chấp nhận rồi. Đây là một phương trình không dễ “cân bằng”, vì không dễ mà người ta có được sự chấp nhận bản thân cách đơn thuần, vô điều kiện và tha thứ.

3.3 Giao ước bản thân

Khi người ta làm một căn nhà tạm thời, một căn nhà không có móng, thì điều quan trọng là phải nối kết kèo cột với nhau thật chắc. Nhưng khi người ta muốn dựng một căn nhà vững bền, thì điều quan trọng hơn là phải có nền móng vững chắc. Với căn nhà tạm thời, khi kèo cột bung ra, căn nhà sụp đổ. Nhưng với một căn nhà có móng, khi kèo cột rời ra, lung lay, lắc lư, nó vẫn có thể đứng được. Rồi người ta lại tìm cách nối kết kèo cột lại với nhau. Hình ảnh căn nhà như thế giống với những mối tương quan con người với nhau. Khi người ta “gá nghĩa” tạm thời, theo tình đồng nghiệp, tình nghĩa làng xóm… thì cần phải biết cư xử với nhau cho đẹp, phải biết điều, biết ngó trước nhìn sau, biết liệu cơm gắp mắm… bởi vì nếu “kèo cột” không ăn khớp với nhau, thì mọi sự sẽ đổ bể hết.

Tuy nhiên, trong đời sống gia đình, khi người ta chấp nhận bản thân của nhau, thì mặc dù những điều ăn khớp trên kèo cột vẫn luôn cần thiết, nhưng điều quan trọng nhất lại chính là một sự “thuộc về nhau”, thuộc trọn về nhau; đây là một sự liên kết trong móng nền. Nhiều khi, trong gia đình, anh chị em không hợp tính nhau, thường xuyên cãi vã… nhưng dù sao họ vẫn là anh chị em của nhau, vẫn thuộc về nhau từ trong dòng máu của mẹ cha. Do đó, dù nói gì thì nói, dù tức bực với nhau sao đó, người ta vẫn phải dành ưu tiên những gì quí nhất cho những người thuộc về mình chứ không phải cho một người ngoài, dù đây là người rất hợp tính với mình.

Như thế, chúng ta hiểu ra rằng bí quyết của tình yêu không phải là sự ăn khớp tính tình, không phải chỉ là yêu thích những nét đẹp của nhau, nhưng căn bản hơn, đó là sống trong một nền tảng “thuộc về nhau”.

Kết

Chỉ khi quyết định ký giao ước bản thân với ai khác, người ta mới thoát khỏi được nỗi cô đơn “siêu hình”, nỗi cô đơn bám chặt vào thân phận người. Nhưng để ký giao ước bản thân, điều trước tiên là phải nhìn nhận cái nghèo căn bản của mình, phải khởi đầu bằng thái độ khiêm tốn thực sự. Yêu thương bao giờ cũng bao hàm ý nghĩa khẩn cầu khởi đi từ thái độ khiêm tốn.

Bài 5. Trung tín Kitô giáo

1. Con người mang dấu ấn tội lỗi

Con người, trong phẩm chất căn bản, là hình ảnh của Thiên Chúa, như thế ta có thể nói như Mạnh Tử : nhân chi sơ tính bản thiện. Tuy nhiên, mạc khải Kitô giáo cho thấy con người cũng mang thương tích của tội lỗi ngay trong cội nguồn, đó là tội tổ tông. Do đó, hành trình cuộc đời con người không thể nào tránh được vết nhơ tội lỗi (trừ ra Chúa Giêsu và mẹ Maria…). Thật ra, mặc khải tội là mặc khải nhằm cứu độ, vì giúp con người thoát khỏi ảo tưởng tự mình giải quyết đời mình. Con người chỉ có thể giải quyết cuộc đời mình trong sống-với, và sống-với bao hàm ý nghĩa chấp nhận bản thân và cuộc đời của nhau.

Con người vốn đã là một huyền nhiệm, nghĩa là chẳng ai có thể hiểu thấu được. Hơn nữa, con người trong dòng cuộc sống lại là một điều không một học thuyết triết học nào có thể minh giải một cách trọn vẹn. Con người đi vào cuộc đời, đó là chấp nhận một bài toán chưa có lời giải. Cuộc sống con người cứ như một chân trời mở ra mà không ai biết trước được một cách chắc chắn điều gì sẽ xẩy ra, điều gì sẽ hoàn thành. Có những con người tưởng chừng như chắc chắn sẽ thành công nhưng đáp số cuối cùng lại là một sự thất bại lớn; và ngược lại cũng thế. Chúng ta có thể thấy được điều đó bằng vô số thí dụ xẩy ra hằng ngày trong cuộc sống.

Như thế, con người chỉ là mình trọn vẹn trong một cuộc đời và chấp nhận một con người trọn vẹn cũng có nghĩa là chấp nhận một con người và một cuộc đời. Khi Thiên Chúa giao ước với con người bằng một giao ước bản thân, khi Thiên Chúa đã chấp nhận yêu thương đến cùng, thì Ngài cũng thể tình yêu ấy trong một lòng trung tín có khả năng đi dài theo hành trình của con người. Tình yêu Thiên Chúa chắc chắn không phải chỉ là một chút hứng khởi của tình cảm, không phải chỉ là một sự đánh giá nhau trong mức độ thăng tiến, mà là một sự đón nhận trọn vẹn bản thân của một con người trên hành trình phức tạp của cuộc đời.

Cũng thế, để con người có thể sống với nhau, cần có yếu tố căn bản, đó là sự trung tín; và trung tín phải thực sự có khả năng vượt qua được sức mạnh chia cắt của tội lỗi. Tình yêu Thiên Chúa, theo đức Benedictô XVI, còn lớn hơn tình yêu vô điều kiện, đó là kiểu tình yêu tha thứ. Cũng thế, trong cuộc sống nhân bản, người Kitô hữu không thể dừng lại ở mức độ “nhân bản thế gian”, nhưng luôn rộng mở để có khả năng tha thứ và đón nhận nhau một cách dứt khoát.

2. Trung tín chính là tình yêu một cách cụ thể

Thái độ trung tín diễn tả một thứ tình yêu được thể hiện trong dòng đời, vượt qua những thăng trầm của thời cuộc và đón nhận được toàn vẹn bản thân một ai khác. Con người chỉ trọn vẹn là mình trong dòng đời. Trong dòng cuộc sống thực và cuộc sống lâu dài, con người mới thể hiện chân chính bản thân mình và mới thực sự biết mình là ai. Do đó, cũng chỉ trong dòng cuộc đời thật, tình yêu thương của một người này với người kia mới thực sự được chứng nghiệm một cách đúng đắn. Trung tín chính là thước đo của tình yêu thương đích thực.

Tuy nhiên, trung tín cũng có hai ý nghĩa, hoặc là hai chiều kích : trung tín như một phẩm chất, nghĩa là không có vướng vào một chút bất trung nào; và trung tín như một tiến trình, nghĩa là một khả năng bắt đầu lại mỗi khi rơi vào tình trạng bất trung.

Trong đời sống đức tin, ta thấy rằng Thiên Chúa vừa trung tín như phẩm chất, lại vừa có khả năng đón nhận lòng trung tín như một tiến trình của con người :

“Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình”. (2Tm 2,13)

Con người được mời gọi sống trung tín với Chúa, nhưng con người lại sống trong tình trạng tội lỗi. Do đó, con người khó có thể sống sự trung tín như một phẩm chất tinh tuyền. Con người chỉ có thể trung tín như một khả năng bắt đầu lại. Chính sự trung tín của Thiên Chúa, sự trung tín có khả năng đón nhận sự bắt đầu lại của con người, chính sự trung tín ấy mở đường để con người có thể sống tín trung với Chúa, trước tiên và một cách căn bản, như một hành trình của đức Cậy, nghĩa là khẳ năng bắt đầu lại.

Dựa vào ánh sáng đức Tin như thế, chúng ta cũng có thể hiểu được rằng, con người sống với nhau cần sự trung tín. Hơn nữa, chúng ta hiểu rằng ý nghĩa trung tín của con người với nhau không thể dừng lại ở mức độ “trung tín trong phẩm chất”, mà còn thiết yếu mời gọi một thái độ trung tín quảng đại, nghĩa là một sự chấp nhập trung tín trong dòng lịch sử.

Thật sự ra, trong tình tự của tình yêu Kitô giáo, sự thăng tiến trong chiều dọc của trình độ có lẽ không quan trọng cho bằng một sự “thăng tiến” trong chiều ngang của trung tín. Đúng hơn, trong đức tin, ta hiểu rằng “thăng tiến trong trình độ” là “chuyện của Chúa” chứ không phải chuyện của ta. “Chuyện của ta”, đó là trung tín theo ý nghĩa lịch sử, nghĩa là ngã thì trỗi dậy, có vấy bùn cũng không bỏ mất niềm trông cậy vào Chúa; và điều đạt được ở đây chưa hẳn là trình độ thánh thiện cao vời cho bằng là một thứ bề dày nghĩa tình.

Cũng thế, trong cuộc sống con người, sự chấp nhận nhau luôn phải là chấp nhận bản thân và cuộc đời của nhau. Đó là một sự chấp nhận dứt khoát và không bao giờ rút lại. Điều đó được xác định trong đặc tính hôn nhân Kitô giáo : không ly dị.

Hơn nữa, ngay trong cuộc sống hằng ngày, thái độ trung tín một cách quảng đại cũng luôn cần thiết. Nếu không, con người không thể xây dựng được một sự hiệp nhất nào, cả trong tình bạn, cả trong tình nghĩa cộng đoàn tu trì cũng như trong đời sống các hội đoàn…

3. Tâm linh là điều kiện để trung tín với nhau

Con đường của người Kitô là con đường vòng : muốn tha thứ thì trước tiên phải đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa trong đức Kitô; muốn chăn dắt con chiên thì phải yêu mến Chúa Giêsu và từ đó tìm thấy lý tưởng cao vời của đời mục tử; muốn sống chân thật với tha nhân thì phải đối diện với Thiên Chúa, Đấng thấu suốt cõi lòng để có thể buông bỏ được những chiếc mặt nạ giả tạo; muốn phục vụ tha nhân thì hãy để cho đức Giêsu phục vụ mình và ra đi bằng chính động lực phục vụ đến cùng của Đức Giêsu; muốn xót thương người thì hãy nhận ra lòng thương xót của đức Giêsu . . .

Chính niềm tin vào Chúa giúp con người có thể tin vào nhau. Niềm tin nơi Chúa là chân trời rộng mở để con người có thể dám tin vào nhau mà không sợ rơi vào ảo mộng phù phiếm của một thứ chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Chính khi ta tin vào Chúa, ta đã vượt qua thái độ “thuận mua vừa bán”, khi đó ta mở rộng khung trời để có thể bao bọc, chấp nhận những con người cụ thể, ngay cả khi bị phản bội. Chỉ có con người mới có thể phản bội, còn Thiên Chúa thì không bao giờ phản bội cả; và Thiên Chúa chẳng để cho sự “lầm lẫm” do đã quá tin một con người, nếu có, lại trở thành một thái độ xấu.

Kết

Sự lập lại các bí tích Kitô giáo như là một sự triển khai nền tảng bí tích Rửa tội cũng cho thấy tính cách hiện sinh trong giao ước của Thiên Chúa với con người. Trong các bí tích, Thiên Chúa lại tái hiện lại sự chết và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô, để khẳng định một cách hiện sinh lòng trung tín của Thiên Chúa. Con người đón nhận các bí tích như là một lời nhắc lại giao ước bản thân của bí tích Rửa Tội, đồng thời kết hiệp vào đó dòng đời của mình, những sự kiện xẩy ra trên dòng đời của mình.

Thật sự, trong đức Giêsu Kitô, con người luôn có thể bắt đầu lại, luôn có thể đưa đời mình vào một hành trình mới, siêu việt cách triệt để … và chính trong ý nghĩa ấy, sự trung tín lại trở thành mấu chốt mang tính quyết định cho vận mạng một đời người.

Xem tiếp phần 2