Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Quê hương Việt Nam đã trải qua quá nhiều bước thăng trầm của lịch sử. Biết bao lần tưởng chừng như quê hương yêu dấu đã bị xoá sổ trước những cơn sóng dữ của thời cuộc. Nhưng quê hương vẫn còn đó, dù với dáng vẻ rách nát thảm thương. Có một điều gì đó, như gió thoảng, như mây bay, như ánh nắng nhẹ, như sương đêm... vẫn quyện hồn dân tộc vào từng trái tim người dân Việt. Hồn thiêng sống núi vẫn lung linh trên từng bước chân của những người dân Việt trên khắp hoàn cầu.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Lời ngỏ

Quê hương Việt Nam đã trải qua quá nhiều bước thăng trầm của lịch sử. Biết bao lần tưởng chừng như quê hương yêu dấu đã bị xoá sổ trước những cơn sóng dữ của thời cuộc. Nhưng quê hương vẫn còn đó, dù với dáng vẻ rách nát thảm thương. Có một điều gì đó, như gió thoảng, như mây bay, như ánh nắng nhẹ, như sương đêm... vẫn quyện hồn dân tộc vào từng trái tim người dân Việt. Hồn thiêng sống núi vẫn lung linh trên từng bước chân của những người dân Việt trên khắp hoàn cầu.

Giáo hội Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm cùng dân tộc. Quê hương đã thương đau thì Giáo hội Việt càng đau thương gấp đôi, đau thương cùng dân tộc và đau thương vì dân tộc, đau thương vì những thế lực chính trị và ý thức hệ đã xé đôi đất nước; đau thương cùng mỗi người dân trong thảm cảnh chiến tranh, nghèo đói, lạc hậu và cả những thái độ vong bản; đau thương vì những vết thương, vì quá nhiều vết thương, đã và đang cày nát trên tấm lưng trần khô khẳng của dải đất này, và đó là những vết thương không chịu khép miệng, những vết thương vẫn tiếp tục mưng mủ hận thù.

Nhưng những bước chân của Giáo hội Việt Nam vẫn bước đều, đều bước trên những con đường lầy lội, đều bước qua mọi khúc quanh và mọi đồi núi hiểm trở.

Anh linh của Giáo hội Việt Nam ẩn khuất nơi nào, nếu không phải nơi dấu máu của các thánh tử đạo tại Việt Nam ? Cội nguồn sức sống của Giáo hội Việt Nam ở đâu, nếu không phải từ dưỡng chất của “dòng máu sự sống” bất diệt ấy ?

Buông mình vào dòng “sự sống của cái chết”, Giáo hội Việt Nam thân yêu sẽ có thể vượt qua được mọi bóng ma của sự chết !

Bài I. Tử đạo, nhìn từ thân phận con người

1. Con người, sinh vật bạo lực hay hoà bình ?

Đã từng có người nghĩ rằng con người thưở ban đầu thuộc về loại động vật ăn hoa trái, rau cỏ. Con người thuở ban đầu không ăn thịt và sống hiền hoà, hoà với vũ trụ và hoà giữa con người với nhau…

Nhưng điều đó không có thể minh chứng được. Khoa khảo cổ khám phá thấy lịch sử con người gắn liền với những phương thức chế tạo vũ khí. Ý kiến ấy thực ra chỉ phản ảnh một khát vọng, khát vọng về một thế giới thái hoà. Khát vọng ấy cho thấy một tâm trạng quá mệt mỏi vì những ganh đua, quá đau xót về những cuộc chiến tương tàn, quá bi thương cho biết bao phận người…. Nhưng khát vọng ấy vẫn như thể vô phương đạt được. Có một, hoặc có quá nhiều, điều ngăn cản khát vọng thâm sâu của con người … Thế giới con người vẫn chưa có hoà bình thực sự. Bóng dáng chiến tranh vẫn không ngừng phủ trùm trên cuộc sống con người.

Bạo lực chưa bao giờ vắng bóng trong lịch sử nhân loại. Từ thời Cain cho đến cuộc sống hiện tại của chúng ta, thời nào cũng thế, và ở đâu cũng vậy, luôn vẫn có những người muốn dùng bạo lực để giải quyết vấn đề và luôn có những người là nạn nhân của bạo lực. Quả thật, bạo lực đã được con người khởi xướng lên từ nguyên thủy và nó không ngừng sinh sôi nẩy nở. Bạo lực đổ ập xuống con người, rồi nó biến những nạn nhân của bạo lực tiếp tục trở thành những người gây nên bạo lực. Bạo lực luôn lây lan như một bệnh dịch.

Có thứ gốc rễ lì lợm nào nuôi dưỡng mầm mống bạo lực và chiến tranh ? Cần khám phá rễ cái của bạo lực ấy trong tầng sâu nhất của bản chất người.

Cuộc chiến nào cũng có những nguyên nhân cụ thể, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa. Những nguyên nhân cụ thể luôn là những điều “bất tất”, có thể xẩy ra và có thể không xẩy ra. Mặc dầu lịch sử đã qua rồi, con người không thể làm lại, người ta không thể viết lại lịch sử mà chỉ có thể viết thêm mà thôi, nhưng đứng trước nhiều cuộc chiến tàn khốc, ngưởi ta luôn mong muốn : giả như không có sự kiện này, giả như có thêm được yếu tố kia,… thì đã không xẩy ra chiến cuộc…. Lại là những ước mơ ! Những ước mơ vô vọng, vì chiến cuộc đã xẩy ra; và thật ra chiến cuộc ấy không có sự kiện này thì sẽ có sự kiện khác, không xảy ra lúc này thì sẽ xảy ra lúc khác, không bùng nổ nơi này thì cũng sẽ bùng phát nơi kia…

Thật ra, dáng dấp tiêu biểu của thế giới con người vốn đã là một cuộc chiến, cuộc chiến võ trang hoặc cuộc chiến tinh thần, cuộc chiến kinh tế hoặc cuộc chiến quyền lực, cuộc chiến về giá trị hoặc cuộc chiến của những dục vọng xác thịt…

Nếu cuộc sống đã là một bãi chiến trường, thì trong cuộc chiến đó, nhiều khi, hay đúng hơn là thường khi, người ta phải sử dụng bạo lực. Người ta dùng những hành vi bạo lực, bạo lực thể chất hoặc bạo lực tinh thần, và coi như đó là phương cách thực sự cần thiết để giải quyết vấn đề. Thật ra, bạo lực chính là nguyên nhân tạo ra càng nhiều mầm mống xung đột hơn nữa.

Nhân loại khao khát hoà bình, nhưng lại luôn ấp ủ những mầm mống của chiến tranh. Nhân loại khổ đau vì chiến tranh, nhưng lại muốn dùng chính chiến tranh để giải quyết nỗi khổ đau của mình. Dáng dấp trớ trêu của phận người có lẽ chính là sự hiện diện của nghề làm lính. Tại sao nhân loại lại có một thứ nghề nghiệp đánh nhau ? Có phải con người tự biến mình thành sinh vật nực cười như con dế đá, con gà đá, con cá đá ? Nhưng làm sao có thể bỏ được nghề đánh nhau ấy khi mà người “hàng xóm” vẫn thủ sẵn thanh gươm sát bên nhà ? Nghề đánh nhau là một thứ nghề vô duyên nhất nhưng lại thiết yếu nhất cho một quốc gia.

Nhân loại có thể dễ dàng xoá được nạn nói, nhân loại đã có thể không còn để cho một đứa trẻ nào phải ôm bụng đói đi ngủ hoặc không một đứa trẻ nào vì thiếu những điều kiện vật chất mà không thể phát triển bản thân và thăng tiến xã hội… Nhưng điều có thể, điều nằm trong tầm tay ấy chẳng bao giờ con người có thể đạt được, bởi vì con người vẫn phải đổ hằng tỉ tỉ tỉ USD cho vũ khí, cho đạn dược, cho nhưng phương tiện đưa con người đến cái chết. Vô lý và vô lý tột cùng, đó là chính thân phận con người. Người Roma xưa đã phải nói lên quy luật phi lý như một giải pháp thực tế căn bản : muốn hoà bình thì phải chuẩn bị chiến tranh. Thật là trớ trêu, nghịch lý, và bi đát cho thân phận con người !

Có phải không mầm mống chiến tranh không phải bắt rễ từ một hoàn cảnh bên ngoài, không phải từ một tình huống ngẫu nhiên, từ một hoàn cảnh quá đặc biệt nào, nhưng có nguồn cơn từ chính sự bấp bênh của thế đứng con người ?

Con người có hồn có xác, hai yếu tố khác biệt và dễ trở nên mâu thuẫn nhau, nên từ trong con người đã có và có thường xuyên một sự bấp bênh, có nguy cơ nổ ra một cuộc nội chiến. Con người đến với tha nhân, hai thể xác không thể cùng chiếm một trương độ, và hai tinh thần đối diện nhau như hai chủ thể mà không ai muốn đánh mất mình… chiến cuộc đã được dàn dựng. Con người cá nhân sống trong tập thể, làm sao không có những xung đột giữa qui định chung và ước muốn độc đáo hoặc ngang ngược của mỗi người, ngòi nổ của quả bom đã được sắp sẵn...

Quả thật, chiến cuộc có thể nẩy sinh từ mọi tình huống, mọi thời điểm của cuộc sống con người; bởi vì nguồn cơn của chiến tranh cắm rễ trong tầng sâu của bản chất người, gắn liền với thân phận con người. Ai cũnng muốn chiến thắng trong cuộc chiến này, và qui luật thực tế bi đát vẫn luôn là “Vô độc bất trượng phu”, kẻ nào muốn làm việc lớn thì phải dám ác độc.

2. Mô hình xã hội lệch lạc

Nếu chiến cuộc là sự đổ sụp của những toà nhà vốn đã rạn nứt, thì mô hình xã hội lệch lạc chính là “mặt bằng” nghiêng ngả của toà nhà. Một mặt bằng nghiêng ngả thì toà nhà trước sau cũng sụp đổ.

Tin Mừng đức Giêsu cho thấy một mô hình xã hội, trong đó có một “số đông” và một “số ít”. Số đông chính là những người nghèo khổ đau thương, là đối tượng của lòng thương xót. Đức Giêsu đã luôn và chỉ tỏ lòng thương xót với “số đông” hoặc với những người thuộc về số đông ấy.

Ngài cần tới một số ít, Ngài ban điều kiện tốt hơn, ban tài năng, quyền năng cho “số ít” để cúi xuống phục vụ số đông. Trong mô hình xã hội của Tin Mừng, không có chuyện những con người ưu tú, vươn lên, bứt phá, bỏ rơi hoặc thống trị số đông. Mối tương quan giữa số đông và số ít gắn kết với nhau. Vì số đông mà số ít được gọi, và số ít được thăng tiến vì để phục vụ số đông.

“25 Nhưng Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : "Anh em biết : thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 26 Giữa anh em thì không được như vậy : Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. 27 Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.” (Mt 20, 25-27...)

Một cách nào đó, ta thấy trọng tâm của mô hình Tin Mừng nằm ở nơi “mặt bằng”, và nếu cần có những “ngôi sao” thì ngôi sao là để chiếu soi cho mặt bằng chứ không phải để vượt qua và quên mất mặt bằng.

Ở tầm mức thế giới, người ta có thể nhận ra sự đảo ngược lớn, sự đảo ngược giữa "phòng thi" và "phòng khám". Thế giới có nhiều thứ phòng ban. Nhưng ta cũng có thể phác họa bức tranh thế giới trong hai thứ phòng : phòng thi và phòng khám.

Phòng thi thì tìm kiếm "nửa trên" của nhân loại. Thi sát hạch là cuộc thi lọc lựa những người trên điểm trung bình, đương nhiên cũng là gạt bỏ những thành phần yếu kém dưới trung bình. Cuộc thi tuyển lại còn cao cấp hơn nữa, thi tuyển là chọn những con người ưu tú nhất từ trên xuống mà cả nhiều người trên trung bình, hoặc ưu tú vừa phải cũng phải chịu số phận thi rớt. Nơi phòng thi, mỗi người phải tự mình khẳng định mình, và đảm nhận trách nhiệm về đời mình. Phòng thi đưa xã hội vào trật tự có tính thuyết phục, mỗi người phải ở đúng vị trí của mình, theo đúng như tài năng của mình. Phòng thi khẳng định một sự “công bằng” nào đó, đưa tới xã hội phân công ít nhiều hợp lý. Dĩ nhiên phòng thi bao giờ cũng cần thiết cho sự phát triển xã hội. Nhưng phòng thi cũng là nơi người ta làm toán cuộc đời, làm toán trên số phận con người. Phòng thi đưa con người và tình thế bắt buộc phải dấu đi cái dốt của mình, phải che mắt được giám khảo về khiếm khuyết của mình. Phòng thi luôn đặt con người vào nguy cơ phạm tội, nếu không phải là tội gian dối thì cũng thường lại là tội giả hình.

Trong cuộc đua của cuộc đời, con người được/bị đặt vào thế cạnh tranh. Sự tiến bộ của người khác luôn hàm chứa nguy cơ bản thân mình bị loại bỏ. Có một diễn viên sáng chói, tôi buộc phải đóng vai phụ; đội bóng mua được một cầu thủ xuất sắc, những cầu thủ khác có nguy cơ phải ngồi ghế dự bị... Công ty nào, tổ chức nào, hiệp hội nào, dòng tu nào, thì cũng luôn cần những con người xuất sắc và xuất sắc hơn nữa, luôn cần những con người tài năng và tài năng hơn nữa... Ở đỉnh cao cuộc đời, luôn là một cuộc chiến không khoan nhượng, cuộc chiến bi đát mà sự sống của người này phải kéo theo cái chết của người khác, sự thăng tiến của người này đòi buộc sự thụt lùi của người khác... Thế giới trên đỉnh cao cuộc đời y hệt cuộc ganh đua của các hoàng tử để được vua cha truyền ngôi...

Phòng khám thì ôm lấy "nửa dưới" của nhân loại. Những người đến phòng khám là những người ít nhiều đã lãnh đủ đòn thù bầm dập của cuộc đời. Phòng khám là nơi gặp gỡ của những người đau yếu, những người kém cỏi, những người thất bại trong phòng thi. Những con người ấy cần tới người khác, cần được hiểu cho bệnh tình riêng biệt của mình. Nơi phòng khám, điều bí ẩn nhất cũng cần được bộc lộ, nơi kín đáo nhất cũng cần được mở ra, những triệu chứng phức tạp nhất cần được trân trọng xem xét. Phòng khám là nơi câu chuyện đời được chia sẻ trong lòng khao khát được hiểu, được đón nhận được cảm thông...

Nếu phòng thi là nơi cần thiết cho sự phát triển xã hội, thì phòng khám lại là nơi cần thiết cho con người được là người chân thật. Con người vốn là sinh vật có bệnh và người sống thật nhất là người dám sống với khuyết điểm của mình. Tự đáy tâm hồn, con người khát khao được sống trong phòng khám; nhưng bài toán xã hội lại bắt con người luôn phải bước vào phòng thi.

Xã hội con người chẳng bao giờ bỏ được phòng thi, nhưng đừng nên đặt tất cả cuộc sống con người vào cuộc thi cử. Ngược lại, điều đúng đắn hơn chính là, phòng thi thì cứ thi, nhưng trước cuộc thi, ngoài phòng thi, và sau cuộc thi, thế giới phải là phòng khám. Không phải ở phòng thi, nhưng là ở phòng khám mà người ta nhận ra được tình thương đẹp nhất của con người với nhau, tình thương nâng đỡ từ chân để mọi người tìm được chỗ đứng thỏa lòng, cho dù là năng lực và đức độ không bằng ai.

Sự so sánh hơn thua, nỗi lo không được đón nhận... đã biến thế giới này thành một phòng thi khắc nghiệt : môn thi tài năng, môn thi địa vị, môn thi sắc đẹp..., và môn khắc nghiệt nhất là môn thi nhân cách...

Cuộc sống thật ở đáy cuộc đời là một sự chia sẻ sớt chia thông thoáng hơn nhiều. Chị ngã em nâng, lá lành đùm lá rách, tối lửa tắt đèn...., nơi đó sự cảm thông dễ dàng hơn nhiều. Khi sự hiện diện của tha nhân không phải là một sự đe dọa, tha nhân không phải là "địa ngục", bao nhiêu nét dễ thương và đáng thương của tha nhân lại tỏ lộ rõ ràng hơn bao giờ hết. Lạ lùng hơn nữa, thái độ cúi xuống những thân phận trần trụi lại thường làm nẩy sinh tâm tình thương cảm chân chính, vì thật ra ai cũng là người đáng-thương cả. Ở cùng đáy cuộc đời, con người bỗng bừng tỉnh khỏi cơn say thăng tiến để tìm khát vọng yêu thương, khát vọng được chấp nhận như một ơn huệ tặng-không.

Tiếng kêu vang lên trong phòng khám là tiếng kêu “lạy con vua Đavít, xin thương xót con”. Động lòng trước tiếng kêu ấy, Thiên Chúa đã thiết lập một “phòng thi”, nơi Thiên Chúa ban cho những ân huệ “miễn phí” để có thể thi hành chức năng phục vụ phòng khám…

Thế giới con người đã đảo ngược mô hình căn bản trong đề án của Tin Mừng. Thế giới hiện nay là một phòng thi, nơi đây, tất cả là cạnh tranh, là hơn thua, là kẻ này cần đánh bại người khác để có thể tồn tại. Nơi đây, khát vọng chung là vươn lên và vươn lên mãi, thành công và thành công nối tiếp thành công. Bên cạnh phòng thi bao trùm ấy là những “sọot rác phòng khám” chứa những con người thua cuộc, thất bại, bỏ cuộc nơi phòng thi…

Chính một mô hình tổ chức bị thay đổi đã đổi thay tâm thức của con người. Làm sao mỗi người không bị ám ảnh bởi khát vọng vươn lên khi mà người người đều thi, nhà nhà đều thi, nơi mà thành tích trở thành điểm số căn bản của đời người, nơi mà cuối cùng chính phẩm giá bình đẳng và cao quí nhất được Thiên Chúa tặng-không cho mọi người lại được thay thế bằng những tấm huy chương của thành tích.

Những tai họa của nhân loại trong những năm đầu tiên của thế kỷ XXI này cho thấy có một sự lầm lạc trong cấu trúc tổng thể của thế giới. Đức Gioan Phaolo II nói :

"Thời đại chúng ta có thể là một thời kỳ mà người ta đã nói và đã viết nhiều nhất về con người, là thời kỳ của chủ thuyết Duy Nhân Bản và của chủ thuyết Qui Nhân Luận. Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ của bao nghịch lý, trong đó con người phải triền miên sống trong lo âu sợ hãi cũng như phải đối mặt với nhiều vấn nạn đầy khắc khoải về bản sắc và định mệnh của mình, là một thời kỳ con người bị hạ thấp tới bùn đen không thể tưởng tượng trước được, là một thời kỳ các giá trị nhân bản bị khinh rẻ và bị xúc phạm như chưa từng xảy ra. Vậy làm thế nào để giải thích được sự mâu thuẫn đó ? Người ta có thể nói được rằng đây là một sự mâu thuẫn tàn nhẫn, tự đồng hóa với chủ thuyết Duy nhân bản vô thần, đã hiện hình. Đó là thảm cảnh của con người mà chiều kích cơ bản sự hiện hữu của nó đã bị cắt xén chiều kích hướng về Tuyệt Đối".

3. Khi công thức sống là “đánh ai vì cái gì”

Con người vốn chưa bao giờ thoát được nỗi xao xuyến muôn đời của kiếp người, và nỗi xao xuyến ấy tỏ lộ càng rõ nét hơn nơi con người thời nay, khi người ta không còn thấy mảnh đất mình đang đứng được an toàn. Đánh mất nền tảng được chấp nhận từ chân, con người buộc phải gồng lên để an toàn hơn, con người buộc phải tìm mọi cách khẳng định chính mình trong nỗi sợ sâu xa. Xao xuyến trong lòng khiến con người sợ hãi mọi thứ bên ngoài. Nỗi sợ là căn nguyên của những bệnh tật : giả hình, đối phó, nghiêm nghị, đoàn lũ…

Thế giới gồm chứa những con người đầy sợ hãi như thế không thể không có chiến tranh. Từ trong lòng mỗi con người đã là một cuộc chiến, cuộc chiến với chính mình; và cuộc chiến lây lan tới thế giới xung quanh mình. Thế giới nhân loại vẫn cứ là một cuộc chiến, một cuộc chiến dai dẳng đeo bám phận người, những cuộc chiến lởm chởm cày nát mái nhà chung của nhân loại.

Một khi thế giới còn đặt nền trên sự liên đới, trên khát vọng hiệp nhất, trên tình yêu thương, con người vẫn cứ phải chiến đấu, nhưng đó là cuộc chiến “đánh cái gì vì ai”. Khát vọng một nền tảng hoà bình được đúc nặn trong tình nghĩa sẽ soi dẫn, mở lối để con người có thể hiểu ra cuộc chiến đích thực là cuộc chiến chống lại sự dữ chứ không phải chống lại ai.

Tuy nhiên, Satan đã quá khôn khéo khi “nhử mồi” con người bằng những đối thủ giả. Con người bị dụ dỗ và trở nên như những con dế đá… Người ta nhử mồi chúng bằng một sợi tóc, và chúng phùng cánh lên để gáy, nhe răng để cắn,… và tất cả toàn thân lao vào trận chiến. Con người cũng giống như những con cá đá, hoặc con gà đá, những con vật tưởng mình sinh ra để “đá”, giam hãm mình trong một lọ nước nhỏ bé, hoặc một chiếc bu gà chật chội, nung nấu trong lòng mình một chiến cuộc,…Lý do hiện hữu của chúng là cuộc chiến, mọi thứ được chuẩn bị, luôn sẵn sàng để đá…đá…đá…

Con người biến thành một thứ quái vật sinh ra để đấm đá, lấy việc đấm đá làm sứ mạng cuộc đời, quyết định “cuộc sống” của mình bằng “cái chết” của người khác. Thế là mặt trận của cuộc chiến đã bị satan chuyển đổi một cách tinh vi; thay vì chiến đấu với tội lỗi, con người quay hướng để chiến đấu với ai khác; thay vì công thức “đánh cái gì vì ai”, thì người ta lao vào cuộc “đánh ai vì cái gì”. Tha nhân trở thành kẻ thù. Thứ sứ mạng “đánh ai vì cái gì” thực chất chính là đấu đá với những con người mang hình ảnh Thiên Chúa. Đó là tội, là cuộc chiến chống lại chính Chúa nơi những con người mang hình ảnh của Ngài.

“Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết.

15 Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. (1 Ga 3,14-15)

Chúng ta có thể thấy nguồn cơn của bạo lực và chiến tranh đã được châm ngòi từ những chuyện rất nhỏ trong cuộc sống thường ngày. Chẳng hạn khi chúng ta trao đổi về một vấn đề nào đó, một chuyến đi chơi cuối tuần. Khi những ý kiến khác nhau về chuyến du ngoạn cuối tuần được trao đổi trên mặt bằng của một sự hiệp thông giữa mọi người, mọi sự sẽ đi đến kết quả, cho dù có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Ngược lại, khi mà nền tảng của sự hiệp thông không có được, những ý kiến khác biệt sẽ luôn là ngòi nổ cho sự cãi vã. Sẽ có những kiểu tranh luận “ad hominem”, thay vì nói ý kiến về công việc, người ta lại châm chích, tấn công nhau. Kiểu tranh luận ấy đã hàm chứa ý định đấu đá chứ không phải đạt nền trên sự đón nhận bản thân của nhau. Khi nền tảng của sự hiệp thông đã không còn, những ý kiến đã đi theo qui luật “đánh ai vì cái gì”, chứ không còn là “đánh cái gì vì ai”. Một bước nhỏ trên hành trình chân lý đã lạc nẻo, và người ta rơi vào tình trạng “sai một ly đi một dặm”.

4. Cuộc chiến của cả vũ trụ

Sách Sáng Thế đã thực hiện một cuộc cách mạng lớn đối với quan niệm về vũ trụ : Không phải vũ trụ cao cả hơn con người, không phải vũ trụ là một "đại vũ trụ" mà con người phải hòa nhập vào vì chỉ là "tiểu vũ trụ". Sách Sáng Thế cho thấy Thiên Chúa sáng tạo nên vũ trụ như "sân chơi" cho con người. Con người được đặt ở trung tâm công cuộc sáng tạo, và Thiên Chúa giao vũ trụ cho con người cai quản.

"Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ : "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." (St, 1,28)

Chính sự bất trung của con người với Chúa đã kéo theo sự rối loạn của vũ trụ. Vũ trụ không còn được hướng dẫn theo tính nhân văn nữa, nhưng theo qui luật tất định cơ học của nó.

Vũ trụ tuần hoàn giữa bất chính và bồi hoàn. Đã có bất chính thì cũng có bồi hoàn, đó là khẳng định của triết gia Anaximandre, trong một trực giác về “vạn vật đồng nhất thể”. Khi mỗi sự ác được tạo nên, thế giới tạo thành lại thêm vẩn đục. Sự vẩn đục ấy chính là sự bất chính, và nó thôi thúc, đòi hỏi phải được bồi hoàn. Ngược lại, khi một sự lành được gieo mầm, tính ác của vũ trụ lại được hoá giải phần nào… Vạn vật đều có phần trong cuộc chiến của vũ trụ.

Vũ trụ bao quanh con người, tương tác với con người và cùng chia sẻ một vận mạng chung với con người. Tất cả những gì con người làm, cách thức con người tương quan với nhau, đều ảnh hưởng cách này cách khác trên vũ trụ xung quanh. Con người có hồn và xác, nên mọi bước đi của con người đều lôi kéo vũ trụ và bị đẩy đưa cùng vũ trụ. Mọi khủng hoảng môi sinh đều do con người và tác động ngược lại trên cuộc khủng hoảng xã hội. Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, trong thông điệp Laudato si đã nói :

"Chúng ta đang đối diện không phải với hai cuộc khủng hoảng riêng biệt, một bên là cuộc khủng hoảng về môi trường, một bên là cuộc khủng hoảng xã hội, nhưng là một cuộc khủng hoảng phức tạp bao trùm cả xã hội lẫn môi trường. Các chiến lược giải quyết đòi hỏi một lối tiếp cận toàn diện để chiến đấu chống nghèo đói, trả lại phẩm giá cho những người bị loại trừ khỏi xã hội, và đồng thời bảo vệ thiên nhiên" (LS. s.139).

Mối liên hệ rộng lớn ấy cho thấy tầm mức “toàn diện” của tội, của ơn cứu độ và của quá trình thành nhân của mỗi con người. Có một chiến cuộc ở tầm mức vũ trụ, điều đó cho thấy mức độ trầm trọng của tội lỗi mà những nỗ lực thuần luân lý không phải là chìa khoá giải quyết. Vạn vật đã trở thành một thế lực, một quyền lực, hoặc thuộc phe bất chính hoặc thuộc phe bồi hoàn…

5. Giải pháp ataraxia (sự thanh thản) ?

Đối diện với mầm mống của bạo lực và chiến tranh, lịch sử các tôn giáo và triết học đã đưa ra cho chúng ta một đường lối giải quyết : nẻo đường ataraxia. Đây là nẻo đường tìm sự thanh thản sâu xa trong tâm hồn, loại trừ hết mọi ham muốn, mọi phân rẽ, mọi xung đột, tự trong bản thân con người. Nẻo đường này tìm cách để giữ tâm hồn được bình lặng như mặt nước hồ thu.

Đối với người Hy Lạp, Thượng Đế là Đấng hoàn toàn hạnh phúc, và hạnh phúc ấy hệ tại việc Ngài là nguyên lý của vũ trụ và muôn loài phải hướng về Ngài như mẫu mực; nhưng chính Ngài thì lại không cần quan tâm đến sự gì khác bên ngoài mình. Thái độ của Thượng Đế là thanh thản, không bị xáo trộn về điều gì cả. Thượng Đế không bận tâm tới thế giới con người. Thượng Đế là nam châm hút sắt mà không biết mình hút. Sự thanh thản của Thượng Đế được toả rạng trong vũ trụ, đặc biệt nơi những tinh tú. Tinh tú là những “vị thần”, vì tinh tú có một chuyển động tuần hoàn đều hoà nhất. Đó là Đại Vũ Trụ.

Theo quan niệm này, con người muốn sống theo mẫu mực của Thượng Đế cũng phải tìm một thái độ thanh thản trong tâm hồn mình, và sống cuộc đời như một tiểu vũ trụ (microcosmos), hòa với đại vũ trụ (macrocosmos). Từ đó, ta thấy xã hội Hy Lạp cổ xưa có một số giá trị căn bản, theo đó, những khái niệm Thượng Đế, thiên nhiên, khôn ngoan, hạnh phúc, nhân đức, và thanh thản (ataraxia)… có ý nghĩa liên lập và thông hiệp chặt chẽ với nhau. Thượng Đế tỏ hiện trong các quy luật điều hoà của vũ trụ, người khôn ngoan là người biết sử dụng lý trí để hiểu được Thượng Đế và biết sống hoà hợp với thiên nhiên để nên giống với Ngài. Sống nhân đức hoặc sống giống với Thượng Đế, chính là biết tìm thấy hạnh phúc trong tình trạng thanh thản ataraxia...

Giải pháp ataraxia muốn đi ngược lại tính bạo lực của con người và vũ trụ, nhằm ngăn chận nguồn cội phát sinh bạo lực. Đây là giải pháp muốn tìm một sức mạnh tinh thần, một đức tính luân lý để chống lại sức mạnh điên rồ của một thực tại hỗn độn. Đây là một nẻo đường cao siêu, đáng kính trọng, cuốn hút nhiều bậc vĩ nhân. Nhưng đó có phải là giải pháp cho toàn bộ vũ trụ và con người không ? Đối diện với sức mạnh của bạo lực đã thấm nhiễm toàn thể vũ trụ, giải pháp ataraxia, dựa vào việc luyện tập đức tính luân lý cá nhân, có thể ngăn chặn được bạo lực lây lan, hay chỉ là một phương cách tìm một ốc đảo an toàn ? Đó có thể là giải pháp dành cho mọi người không ? Liệu chừng “ốc đảo an toàn” đó có thể phòng thủ vững vàng mãi và có thể thu nhận được hết mọi người vào ẩn trú không ?

6. “Ruồi muỗi” trong cuộc chiến của trâu – bò

Mỗi cuộc chiến đều mang lại thương vong. Chiến cuộc lớn, thương vong nhiều. Có những thương vong được đền bù bằng sự tôn vinh của bên thắng cuộc, được ghi nhớ bằng những tượng đài. Những thương vong ấy tìm được “nhãn mác” hữu lý để tạm thời hoá giải nỗi đau, hoá giải như mặc bộ áo âm phủ để xênh sang trong cõi dương. Có những thương vong đau xót của bên thua cuộc, những người vừa mất đi mạng sống của mình, vừa mang lấy thứ “nhãn mác” phản trắc. Thương vong của bên thua cuộc đánh mất, hoặc bị chối từ, cả giá trị thể lý và cả giá trị luân lý. Sự mất mát được nhân đôi. Nỗi đau ấy không được hoá giải nên âm ỉ mãi, vết thương không được chữa lành nên mưng mủ và rình chờ vỡ… Được làm vua, thua làm giặc. Có một điều gì đó khá phi lý trong cuộc chiến của trâu – bò mà cha ông ta đã nói tới.

Nhưng, còn nữa những thương vong của “ruồi muỗi”; vì “Trâu bò húc nhau” luôn sẽ có “ruồi muỗi chết”.

Nhưng thương vong của những nạn nhân bên lề cuộc chiến, những thương vong của những nạn nhân không được công nhận cả nắm xương tàn và cả một nhãn mác cho phận người. Đây không chỉ là sự tình cờ phi lý của kẻ thắng người thua trong một cuộc chiến “được làm vua thua làm giặc”, nhưng là một sự ngược ngạo, một nỗi oan khiên của phận người. Cuộc sống “ruồi muỗi” đã chẳng là gì, cái chết của “ruồi muỗi” lại càng bi đát hơn biết bao. Ruồi muỗi trở thành những con dê tế thần.

Một con người không có giấy tờ tuỳ thân thì đánh mất dân-quyền (quyền làm người công dân), họ mất đi một phần cuộc sống. Nhưng một đứa trẻ sinh ra không có tên thì giống như người đã mất nhân-quyền (quyền là người), đưa trẻ mất đi phẩm giá của cuộc sống. Hơn nữa, một người bị tước mất mạng sống chỉ vì tai hoạ ngẫu nhiên do những tham vọng phe phái, kẻ đó đánh mất sinh-quyền (quyền được sống), đây là tình trạng của những ruồi muỗi trong cuộc đời. Ruồi muỗi trong cuộc chiến trâu bò, cũng như những oan khuất của những đứa trẻ không được chào đời, chính là nơi gồm chứa, cô đọng, se sắt ở tầng sâu nhất của mọi mâu thuẫn mang tính người. Tất cả những sai sót, trục trặc, oan khiên, tàn ác của kiếp sống nhân sinh được lắng đọng nơi đây, bị đổ dồn vào nơi “thùng rác” của kiếp nhân sinh này.

Nhưng nếu đưa mắt nhìn toàn diện về lịch sử nhân loại, ta có thể nhận ra những diễn biến của những năng lực ngầm ở tầng sâu của thế giới con người cũng góp phần vào vận mạng của nhân loại. Vũ trụ và thế giới nhân loại, trong tính toàn bộ, gồm chứa mối tương tác hữu cơ chặt chẽ. Cha ông ta nói : gập ông lại đập lưng ông; lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt; gieo gió gặt bão…, đó chính là tầm nhìn đụng tới tính toàn thể ấy. Nếu sự thắng thua của cuộc chiến là những biểu đồ trên bề mặt, tính toán lời lỗ được bằng số lượng, thì sự dồn nén của oan khiên lại chính là tính gay gắt trong phẩm tính mà ta không được quyền bỏ quên. Những nỗi oan khiên từ năm này qua năm khác, từ nước này đến nước kia, từ người này đến người nọ…, tất cả sẽ chồng chất, cô đọng, dồn nén, dồn nén mỗi ngày mỗi đậm đặc hơn, giống như chất liệu ban đầu của một vụ nổ big bang, tạo nên một lực phản kháng. Thắng thua của sự kiện chỉ là bề mặt, sự dồn nén của những oan khiên mới là trung tâm của lịch sử.

Chính những nỗi nhục của người nô lệ cô đọng lại sẽ trở nên nhân tố nền tảng để nhân loại có được một quan niệm rõ ràng về phẩm giá người. Chính những người nghèo là lời chất vấn không ngừng cho con người và là động lực thúc bách sự cải tiến xã hội. Cũng thế, chính những oan khiên của ruồi muỗi luôn là một động lực lớn nhất và là thách đố căn bản nhất, bao hàm cả tình trạng nô lệ và tình trạng người nghèo, thách đố dính dáng tới vận mạng sâu nhất của kiếp nhân sinh.

Đối diện với hiện thực oan khiên ấy, có phải cần một giải pháp khác với giải pháp ataraxia chăng ?

Ở căn cội của thế giới, không phải một tư tưởng thuần tuý có năng lực quyết định việc biến đổi thế giới; cũng không phải một quy luật biện chứng máy móc đưa đẩy thế giới bất chấp mọi chiều hướng khác nhau của tự do con người. Không phải một giá trị luân lý là yếu tố giải quyết, mà cũng không phải sức nặng của yếu tố thể lý có thể thay đổi chiều hướng của lịch sử. Yếu tố quyết định chính là sự triển nở chân chính của phận người, đúng với “vị thế siêu hình” căn bản (hồn và xác), nghĩa là một thực tại (1), được định hướng trong một ý nghĩa đúng đắn (2).

Nói cụ thể, chính những oan khiên của ruồi muỗi là thực tại nền tảng của dòng lịch sử và là nguồn động lực căn bản (thực tại); nhưng những oan khiên ấy chỉ tỏ lộ sức mạnh biến đổi lịch sử trong chiều hướng tích cực (ý nghĩa), khi mà những oan khiến ấy không bị thúc đẩy do sức mạnh mù quáng của hận thù, nhưng được chấp nhận trong sự quảng đại, được dâng tặng trong tình yêu (ý nghĩa đúng đắn). Chỉ khi đó, xung lực của lịch sử mới thoát được sức mạnh xô đẩy đi vào chiều hướng trả thù, chiều hướng đấu đá, bạo lực. Không có tình yêu, thứ tình yêu có khả năng đảm nhận và hoá giải sinh lực bất ổn trong lịch sử, thì lịch sử sẽ lại tiếp tục quay vòng, quay mau hơn nữa vòng xóay trả thù, rồi chuốc oán, rồi bị trả thù… Chỉ khi nào xung lực oan khiên của ruồi muỗi được hoá giải, được hoá giải chứ không phải bị vùi lấp đi trong quên lãng, thì lịch sử mới tìm được nẻo đường để đi đến thành toàn.

Ở đây, chúng ta đã thoáng thấy sự bất lực của con người. Trong thế giới tan hoang bị giằng xé do bạo lực, con người gần như chỉ còn có thể chọn phương cách mỗi người tự tìm lấy cho mình một ngõ thoát hiểm riêng !!!

Làm sao có thể mở ra được nẻo đường hoá giải oan khiên chồng chất nếu không phải là nẻo đường “tử đạo” ? Làm sao nẻo đường “tử đạo” có thể khai mở và vận hành được nếu không có Vị Tử Đạo duy nhất là Đức Giêsu Kito ?

Chú thích:

[1] Gioan Phaolo II, Diễn văn tại khoa họp khoáng đại lần thứ III của Hội đồng Giam mục Châu Mỹ Latinh ở Puebla ngày 28-01-1979, trích lại trong Gioan Phaolo II, Lương Tâm Nhân Loại, bản dịch của lm. Nguyễn Hữu Thy, trang 57-58.