Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 2
Tạm dùng từ “cái ác” để chỉ những hành động xấu, lời nói xấu, hoặc một tổ chức, một chiến dịch xấu nào đó cụ thể. “Cái ác” được “sinh ra” có thời gian và không gian cụ thể; cái ác “lớn lên” trong sự tương tác với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nào đó.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài II Tử đạo, nhìn từ Nhiệm Cục Cứu Độ
1. “Cái ác” và “tính ác”
Tạm dùng từ “cái ác” để chỉ những hành động xấu, lời nói xấu, hoặc một tổ chức, một chiến dịch xấu nào đó cụ thể. “Cái ác” được “sinh ra” có thời gian và không gian cụ thể; cái ác “lớn lên” trong sự tương tác với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nào đó.
Tạm dùng từ ‘tính ác” để chỉ một phẩm tính xấu ám tàng, thấm nhiễm, bao bọc, trong dòng sự sống của con người.
Nhiều “cái ác” đã được sản sinh trong dòng lịch sử và cái ác cũng diễn tiến theo quy luật chung của cuộc đời : “cứt trâu để lâu hoá bùn”. Có rất nhiều hành vi, lời nói ác của ta từ thời cha sinh mẹ để đến giờ mà ta chẳng còn nhớ gì cả. Cũng có rất nhiều cái ác của người khác gây ra cho ta, nhưng sau một thời gian giận dữ, đau buồn,…. rồi mọi sự cũng trôi vào sự quên lãng, hoặc hoà quyện vào nếp sống quen thuộc của cuộc sống. Người ta nói “thời gian là phương thuốc nhiệm mầu” để chữa lành mọi vết thương... điều đó chắc không phải là sai. Tuy nhiên, nói như thế cũng không hoàn toàn đúng. Những gì đã được gieo vào trần gian thì “đời đời kiếp kiếp chẳng cùng amen” vẫn có ở đó.
Với tính ác, điều “vẫn còn ở đó” chẳng phải chỉ trong những trang lịch sử mà thôi mà còn trong đời thực. Thời gian hoặc những “phương thuốc” tinh thần không thể hoàn toàn hoá giải được tính ác. Thời gian chỉ làm cho “cái ác” trở nên mờ nhạt. Giống như người ta nhỏ một giọt mực vào một hồ nước, một giọt mực thì quá nhỏ so với hồ nước, giọt mực tan đi và người ta không còn nhìn thấy dấu vết gì của nó bằng mắt thường. Nhưng giọt mực thì vẫn ở đó, và qua dòng thời gian, không chỉ có một mà là nhiều giọt mực khác vẫn tiếp tục rơi vào hồ nước... hồ nước bị ô nhiễm. Có vẻ như không có một “giọt mực” cụ thể nào chịu trách nhiệm về sự ô nhiễm cả. Có một giọt thôi mà ! Thời gian làm mờ nhạt mối liên hệ của “cái ác cụ thể” với những hệ quả của nó, thứ “mờ nhạt” dễ đánh lừa người ta, thứ mờ nhạt làm yên ổn lương tâm của “chỉ một giọt mực !”....
Cái ác cụ thể lẩn trốn vào trong một thứ “tội tập thể”, đó là phép biến hoá tuyệt diệu của Satan. Với những “nhân cách yếu”, cái tập thể thường bao trùm cá nhân. Chữ “người ta” vẫn thường là nơi lẫn trốn của những tâm hồn nhát đảm như thế. Thời gian “chữa lành” những cái ác cụ thể, “chữa lành” vết cắn lương tâm của cá nhân; nhưng thời gian cũng có thể là duyên cớ để tính ác dấu mặt và tiếp tục hoành hành...
Với dòng thời gian, cuộc sống con người chìm nhập trong tính ác mà không dễ gì hoá giải được. Đối diện với “tính ác”, khi mà cái ác của người này người kia vẫn tiếp tục dày lên, đậm thêm qua dòng thời gian, người nào thành thật với chính mình sẽ nhận ra mình vô phương được giải cứu... Người ta đánh đông đánh tây, người ta che chắn phía nam phía bắc,... tất cả chỉ là sự vùng vẫy thảm thương của thân phận con người trong hồ nước bị nhiễm độc.
2. Tính ác muôn mặt
Thánh Gioan nói satan là cha của sự gian dối (X. Ga 8,44). Tài năng lớn nhất của Satan và chiêu thức căn bản của Satan chính là sự lừa dối. Trong vườn địa đàng, chiếc thức lừa dối đã thắng được Adong và Evà. Trong sa mạc, chiêu thức lừa dối thua cuộc trước đức Giêsu. Nhưng Tin Mừng cho thấy Satan chỉ tạm lánh đi, và nó tiếp tục, tiếp tục tìm mọi cách để lừa dối con người. Nhìn vào hậu quả là cái ác và tính ác trong thế giới hôm nay, ta thử tìm tòi cho ra chiêu thức lừa dối của satan…
Có ba thứ quỉ :
Quỉ con : nhằm vào tính yếu đuối của con người, quỉ con cám dỗ những điều ai cũng thấy là điều xấu, nhưng không đủ sức mạnh để chống lại. Quỉ con cám dỗ con người về tính tham lam, về ham mê quyền lực, về tội phạm dâm ô, về trò lừa đảo, về phương thức tàn ác,… Thứ quỷ con có nhiệm vụ gây rối, làm cho người ta tập trung vào những thứ tội trên bề mặt…
Quỉ bố : đánh lừa con người về một đối tượng xấu, nhưng lại mang dáng vẻ là điều tốt; về một tổ chức nguy hiểm được mặc chiéc áo lý tưởng đẹp. Thứ quỷ này nguy hiểm hơn nhiều, vì người ta chọn một đảng phái, một học thuyết, một tôn giáo như thể muốn cứu độ thế giới, mà thật ra lại đưa đến những tội ác vô cùng nghiêm trọng. Chẳng hạn những chủ thuyết toàn trị, trong sự điều kiển của quỉ bố, đã có thể chinh phục được hằng triệu triệu người, và đó là những con người đầy lý tưởng, đầy nhiệt huyết; để rồi xô đẩy những con người ưu tú này vào cuộc chém giết, loại trừ vô cùng ác độc. Quỉ bố làm cho người ta mất sự “khôn ngoan như con rắn”.
Quỉ mẹ : nhưng để quỷ bố có thể hoạt động một cách hiệu quả, cần có quỷ mẹ che con mắt lương tâm. Con người tự lừa dối chính mình, tự che mắt mình, tự bịt tai trước tiếng nói của một lương tri ngay thẳng. Quỉ mẹ làm cho người ta mất đi sự “đơn sơ như chim bồ câu”.
Quỷ con không làm cho thế giới nhiễm độc bao nhiêu, vì nó không dấu nổi cái đuôi của sự ác. Với quỉ con, kẻ thù đã được nhận diện. Một khi ai cũng biết rõ ràng tính cách ác của một hành động, thì hành động đó dễ bị cô lập, ít nhất là trong ý muốn. Hành động xấu chỉ có thể đánh vào tính yếu đuối, một động lực phổ biến nhưng vẫn là tiêu cực. Quỉ mẹ có thể tạo nên một căn cứ vững chắc nhất cho chiến lược lừa dối. Thật sự mặt trận hoà giải mình với mình là một cuộc chiến gian nan nhất của kiếp người. Chính nhờ điều đó mà “căn cứ của quỉ mẹ” vẫn còn được bảo vệ vững chắc. Nhờ một căn cứ khá chắc chắn do quỉ mẹ điều khiển, nhờ một bãi chiến trường thuận lợi do quỉ con dàn xếp, quỉ bố có thể tung hoành ngang dọc, hò hét vang trời... Sản phẩm của quỉ bố là những thứ “tội triết học”, những chủ trương đầy vẻ thuyết phục của những mỹ từ đao to búa lớn, nhưng thực chất chính là những học thuyết, những tổ chức, những giá trị tàn phá vận mạng của nhân loại. Trọng tâm trong chiến lược của Satan không phải là sản xuất những khẩu súng bắn lẻ, nhưng là những quả bom mạnh nhất. Tội triết học là thứ tội mang tầm mức “chống lại con người”.
3. Khi nhân loại không có một Cha
Cũng như khi gia đình còn có mẹ, những đưa con cảm nhận được bầu không khí thuộc về nhau. Khi mà người mẹ, với những công việc phù du nhất, những công việc không đọng lại thành một công trình nào, thì những việc làm của mẹ chính là những nẻo đường thông thoáng nhất để đến với tha nhân. Khi gia đình còn có mẹ, anh chị em còn ý thức được tình trạng thuộc về nhau. Nhưng khi mẹ mất đi, những thông lộ nối kết cũng bị nhỏ hẹp hoặc bị tắc nghẽn lại, và anh chị em dễ đi đến chỗ cạnh tranh với nhau, phân bì với nhau, tính toán với nhau…
Cũng thế, một thế giới không có một Chúa là Cha thế giới ấy luôn có nguy cơ trở thành cuộc chiến. “Hai cô ca sĩ chẳng ưa nhau bao giờ”… Con người sẽ không thấy được “ngôi nhà chung”, không thấy được tha nhân như kẻ thuộc về mình, nếu không có một “nóc nhà” cao hơn và rộng lớn hơn.
Khi thế giới không còn có Chúa là Cha chung, thì mọi người không còn nhìn ra nhau là anh chị em. Khi đó, phương thức để giải bài toán cuộc đời chỉ còn là cạnh tranh hơn thua và hướng tới loại trừ nhau. Xã hội hiện nay được đúc nặn theo mô hình cạnh tranh, mọi tổ chức đều phải đi vào cạnh tranh, mọi khát vọng trong lòng người đều nằm trong qui luật cạnh tranh. Thế giới trở nên thùng thuốc nổ chờ được kích hoạt từ một mồi lửa nhỏ.
Khi con người của thời đại mới dần dần loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình, thế đứng của con người trở thành một thế đứng chơi vơi. Con người không muốn bị bít kín trong nhà, con người muốn tìm thấy sự tự do “lộ thiên”, con người muốn phá đổ mọi hàng rào... Con người hiện đại khát vọng giống như người con thứ, đòi phẩn gia sản của mình, đòi quyền được là chính mình, được sống như mình nghĩ... và anh ta gom hết phẩn sản nghiệp của mình để ra đi...
Rồi nơi chân trời bao la ấy, anh ta bỗng nhận ra mình là kẻ không nhà, kẻ không cha, không có người thân thuộc... Cuộc đời như thế là những phản ứng vô định trước những tác động ngẫu nhiên của cuộc đời. Cô đơn và cô độc, chơi vơi và xao xuyến, đó là thân phận kẻ không còn có Thiên Chúa là Cha chung. Con người không còn biết dựa vào đâu để củng cố chỗ đứng của mình ngoài phương thức chiếm hữu vũ trụ, chiếm hữu thật nhiều để an toàn cho mình, để cạnh tranh với tha nhân. Trong thế giới ấy, tôi không còn là cái tôi được đón nhận, được trân trọng từ trong cội nguồn, cho nên cái tôi ấy cần phình to hơn bằng của cải, bằng danh vọng bằng thành đạt… để được an toàn, và để “dằn mặt” người khác. Đó là những chuẩn mực giả tạo, luôn bấp bênh theo bài toán so sánh…
4. Giải pháp misericordia (lòng thương xót)
4.1 Một Thiên Chúa “chịu chơi”
Kinh Thánh Do Thái Kitô giáo cho thấy một Thiên Chúa khác hẳn với hình ảnh Thượng Đế của người Hy Lạp. Thiên Chúa của Kinh Thánh không an vị, thanh thản trong thế giới hạnh phúc của Ngài, nhưng Ngài dính dáng vào thụ tạo, đặc biệt là con người. Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa "dấn thân". Ngài "dính dáng" vào vận mạng của vũ trụ và con người.
Thiên Chúa dấn thân trong việc tự do sáng tạo nên vũ trụ. Rồi sau khi con người sa vào vòng khổ luỵ của tội lỗi, Ngài dấn than bằng lời hứa với Adong Evà về một ơn cứu độ (St 3,15); Ngài hứa với Noe, rồi đi vào một giao ước với Abraham (XC. ST 17). Tiến trình đó dẫn dần đến một giao ước chính thức, đúng nghĩa, giữa Thiên Chúa với Dân riêng trên núi Sinai (Xh 24).
Dù với lối diễn tả "nhân hình", Sách Thánh cho thấy một vị Thiên Chúa không phải như một quy luật, không phải như một Đấng an ổn, thanh thản trong chính Ngài, nhưng là vị Thiên Chúa đi vào cuộc "phiêu lưu tình nghĩa" với con người. Ngài sáng tạo con người trong yêu thương, Ngài tuyển chọn Dân riêng và đem lòng quyến luyến với Dân :
“ĐỨC CHÚA đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân”. (Dnl 7,7; xc. Dnl 10,15…)
Thiên Chúa nhất quyết giành lấy Dân riêng cho mình, không muốn chia phần cho bất cứ ai khác :
”Vậy ngươi không được phủ phục trước một thần nào khác, vì ĐỨC CHÚA mang danh là Đấng ghen tương, Người là một Vị Thần ghen tương”. (Xh 34,14; xc. Dnl 4,24…)
Thiên Chúa tự buộc mình trong lời hứa (St 3,15), và đặc biệt trong Giao ước (Xc. Xh 24, 1-18); rồi Thiên Chúa thể hiện phẩm chất trung tín của Ngài trong lời hứa và giao ước :
“Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình”. (2 Tm 2,13)
Mối thâm tình của Thiên Chúa với Dân của Ngài không phải là một sự an ổn có phần “đóng kín”, mà là sự “rung động” của tình thương để rộng mở với ai khác. Nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn : "sống trong đời sống, cần có một tấm lòng… để làm gì em biết không ? Để gió cuốn đi". Nói rằng “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”, đó là điều mà mọi tôn giáo, các học thuyết đạo đức luôn đồng ý với nhau. Nhưng có tấm lòng đến độ chịu “để gió cuốn đi”, thì đây lại là một phẩm chất đặc biệt của Kinh Thánh, của Kitô giáo. Do đó, truyền thống Kinh Thánh đề cao phẩm chất cao cả nhất của Thiên Chúa là lòng từ bi thương xót :
CHÚA là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. (Tv 145,8; xc. Xh 34,6...)
Trong Tân Ước, đức Giêsu cũng khẳng định phẩm chất từ bi thương xót như thế trong sứ vụ của Ngài. Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng những lời đã được tiên báo trong ngôn sứ Isaia:
“Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh. Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng : Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. (Lc 4, 14-19)
Khi Tân Ước nói Chúa Giêsu chạnh lòng thương, thì điều đó không chỉ tỏ bày một phẩm chất đạo đức luân lý, nhưng còn hàm nghĩa căn bản của lịch sử ơn cứu độ : Chúa Giêsu chính là Đấng tỏ lòng nhân hậu của Thiên Chúa.
Mt 9,36 : Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt." (xc. Mt 14,14; Mt 15,32; Lc 7,13...)
Lòng từ bi thương xót chính là dấu hiệu căn bản để nhận ra Đấng Mêsia. Do đó, những ai không đi vào mạch nguồn của Kinh Thánh để khám phá ra một Thiên Chúa giầu lòng thương xót, sẽ có nguy cơ không nhận ra và không tin vào đức Giêsu :
“Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng : "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ?" Đức Giê-su trả lời : "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi." (Mt 11, 2-6)
4.2 Một Thiên Chúa “chịu luỵ”
Từ một thái độ “yêu thương điên rồ” như vậy, ta có thể hiểu được cách thức Ngài chọn giải pháp cứu độ. Giải pháp Misericordia là giải pháp hạ giáng, đồng hành và liên lụy. Từ trong Cựu Ước, ta đã thoáng thấy một sự lựa chọn kỳ lạ của Thiên Chúa : Thiên Chúa đã muốn dùng hình ảnh con rắn đồng để cứu những người bị rắn cắn.
“6Bấy giờ ĐỨC CHÚA cho rắn độc đến hại dân. Chúng cắn họ, khiến nhiều người Ít-ra-en phải chết. 7 Dân đến nói với ông Mô-sê : "Chúng tôi đã phạm tội, vì đã kêu trách ĐỨC CHÚA và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu ĐỨC CHÚA để Người xua đuổi rắn xa chúng tôi." Ông Mô-sê khẩn cầu cho dân. 8 ĐỨC CHÚA liền nói với ông : "Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống." 9 Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống”.(Ds 21, 6-9)
Cũng thế, đức Giêsu thực hiện đường lối cứu độ của Chúa Cha bằng cách đón nhận bạo lực. Hơn nữa, trong cuộc tử nạn của Chúa, chúng ta còn thấy một thứ bạo lực dã man và tàn bạo nhất : đánh đòn, đội mão gai, xỉ vả và hình khổ thập giá. Thế nhưng, ngay trong lúc nguy cấp nhất mà bạo lực gần như là phương thế duy nhất để có thể bảo vệ được sự sống của mình, thì Chúa Giêsu lại thẳng thắn khước từ bạo lực: “Đức Giê-su bảo người ấy : "Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm”. (Mt 26, 52). Chúa Giêsu không trực tiếp chống lại bạo lực nhưng Chúa tiêu diệt bạo lực bằng một đường lối của tình yêu. Thay vì dùng bạo lực để chống lại bạo lực, Chúa Giêsu đón nhận tất cả bạo lực vào bản thân mình, đón nhận một cách sẵn sàng và quảng đại. “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá“ (1 Pr 2,24).
Thiên Chúa đã chọn giải pháp dấn thân vào cuộc sống nhân loại, Ngài đi lại lịch sử đau thương của nhân loại, Ngài sai Con của Ngài đến, sống kiếp người, lãnh nhận hết tất cả những hệ quả của tội luỵ trên bản thân mình, và tiêu huỷ, hoá giải chúng trên Thập giá. Đó là giải pháp mà Chúa Cha đã muốn và đức Giêsu lựa chọn, giải pháp thập giá. Chúa Giêsu đã từng dạy rằng : “hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29). Bài học hiền hậu và khiêm nhường không phải chỉ là một chút làm dáng để dễ thương hơn, không phải chỉ là một lối sống để tìm sự bình an trước những ganh đua của cuộc đời, không phải là một thứ khiêm nhường bằng lời nói tỏ ra ta đây hèn kém... nhưng là một bài học mà chính Chúa Giêsu đã thực hiện một cách bi tráng, bằng chính máu thịt, bằng chính mạng sống của Ngài. Con đường khiêm nhường và hiền hậu là con đường hóa giải bạo lực như một mãnh thú trong đời sống con người, con đường đó không phải là thái độ yếm thế, nhưng thực sự chính là thái độ hùng mạnh nhất của đời sống con người.
Ngài trở nên hình tượng của tội để cứu những người đang bị dằn vặt do tội.
"Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta". (Mt 8,17)
Không có nẻo đường nào khác cho những ai muốn bước theo đức Giêsu ngoài nẻo đường “tử đạo”, tử đạo cách này hay cách khác.
5. Tử đạo khi xưa và hiện nay
Thế giới khi xưa khác xa với thế giới hôm nay; việc trồng cấy khác nhau; đường xá, ngựa xe khác nhau; lâu đài, dinh thự, nhà cửa khác nhau; ăn uống vui chơi khác nhau,… nhưng thế giới khi xưa và hiện nay cũng vẫn là “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Mô hình xã hội, hoặc là đã được xác lập cao thấp mà không cần cạnh tranh, không cần cạnh tranh mà vẫn thống trị như thế giới xưa; hoặc là khởi đầu bằng cạnh tranh để tìm vị thế thống trị như thế giới ngày nay, thế giới ấy vẫn là những cỗ máy sản xuất “ruồi muỗi”, những cánh đồng gieo trồng oan khiên…
Thế giới con người vẫn luôn là một cuộc chiến, cuộc chiến giành giựt sự sống và cuộc chiến trước thế lực của tính ác. Ngày nay, thế giới con người giống như một chiến trường đầy những cuộc cạnh tranh gay gắt. Cuộc cạnh tranh giành giựt sự sống trong thời đại hôm nay thường khi là một cuộc chiến khốc liệt, đến độ người ta phải mất ăn mất ngủ hoặc mang những thương tích đau đớn, thương tích tâm hồn hoặc thương tích thể xác; đôi khi đó là một cuộc chiến bi đát, nghĩa là muốn sống thì phải tiêu diệt người khác, một mất một còn. Nhu cầu cuộc sống đã tạo nên biết bao nhiêu tranh chấp, xung đột, và cả những hận thù khó có thể hóa giải được. Triết gia Hégel đã ví lịch sử con người như một cuộc đấu tranh biện chứng giữa chủ và nô, người này làm chủ thì người kia phải làm nô lệ, và khi người nô lệ chiếm được địa vị làm chủ thì người chủ lại phải chấp nhận thân phận nô lệ.
Bằng cách thống trị như khi xưa, hoặc bằng phương thức cạnh tranh như hôm nay, mô hình của xã hội con người vẫn luôn hàm chứa dấu vết của kẻ muốn lèo lái lịch sử : satan. Mô hình lệch ấy vẫn chỉ có thể được cấu trúc lại bằng nẻo đường tử đạo. Thế giới với nguyên lý thống trị khi xưa đã đưa đẩy đến cái chết của các vị tử đạo thì thế giới với nguyên lý cạnh tranh ngày nay cũng đòi buộc có những con người “tử đạo” ngày nay. “Ruồi muỗi” thời nào cũng có. Các thánh khi xưa đã bị đẩy vào vị thế “ruồi muỗi” ấy, và các ngài đã tử đạo. Người Kito hữu ngày nay có dám chấp nhận là “chất thải oan khiên” của cuộc đời, hoặc chấp nhận liên đới với “chất thải oan khiên” ấy trong hệ thống xã hội cạnh tranh không ?
Ngày nay cũng có biết bao người bị đẩy vào thế đứng của ruồi muỗi; biết bao người vẫn, đã, đang và sẽ bị vùi dập dưới bánh xe của lịch sử. Nỗi oan khiên của thời nay cũng không kém gay gắt. Thế giới có văn minh đến đâu cũng vẫn hàm chứa nhiều bất công, các cộng đoàn tu trì hoặc các giáo xứ cũng đã góp phần sản xuất không ít những bất công. Tên Cám Dỗ chỉ chờ đợi có thế. Tên cám dỗ luôn muốn lừa dối con người bằng những lý thuyết “hợp lý”, bằng những học thuyết “cứu độ”, nhưng thực chất lại là tiếp tục tạo ra bất công và thúc đẩy con người xử lý bất công bằng hận thù.
Con đường tử đạo vẫn luôn phải là con đường của người môn đệ đức Giêsu, con đường của thập giá, vì chỉ có con đường đó mới có thể cung cấp giá trị siêu hình, cung cấp định hướng triển nở chân chính của con người trong vị thế siêu hình căn bản của phận người, cung cấp nguồn cậy trông đích thực là chính sự đồng hành của đức Giêsu, trong sự hiệp thông với Giáo hội.
Tử đạo (martyr) mang ý nghĩa sâu xa và căn bản nhất là làm chứng. Người Kito hữu “tử đạo”, xưa và nay, là người làm chứng về niềm tin, làm chứng về niềm tin chân chính vào đức Giêsu, làm chứng về nẻo đường chân chính nhất của đời người theo chân đức Giêsu. Nẻo đường ấy chắc chắn sẽ là nẻo đường thập giá :
“chúng ta đừng bắt chước Ca-in :
nó là người của Ác thần, nên đã giết em mình.
Tại sao nó đã giết em ?
Bởi vì các việc nó làm thì xấu xa,
còn các việc em nó làm thì công chính.
13Thưa anh em, anh em đừng ngạc nhiên,
nếu thế gian ghét anh em”.(1 Ga 3,12-13