Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 3
Ai cũng biết yêu thương là khát vọng của đời sống con người. Tuy nhiên, trên thế gian này có rất nhiều cách hiểu về tình yêu. Ai cũng biết Kitô giáo là đạo yêu thương và người ta suy diễn từ những cách hiểu về tình yêu con người để "hiểu" về đạo yêu thương. Thế là phẩm chất Kitô giáo cũng trở thành nhiều thứ khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau theo những cách hiểu về tình yêu khác nhau. Phản ứng lại cách nhiều tình yêu quá phàm tục, có khuynh hướng lại muốn đối lập giữa tình yêu Thiên Chúa và cách yêu thương của con người.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài III Tử đạo, Nghịch lý của Tình yêu và Sự sống
1. Nghịch lý giữa Sự sống và Tình yêu
1.1 Sự sống gắn liền với Tình yêu
Ai cũng biết yêu thương là khát vọng của đời sống con người. Tuy nhiên, trên thế gian này có rất nhiều cách hiểu về tình yêu. Ai cũng biết Kitô giáo là đạo yêu thương và người ta suy diễn từ những cách hiểu về tình yêu con người để "hiểu" về đạo yêu thương. Thế là phẩm chất Kitô giáo cũng trở thành nhiều thứ khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau theo những cách hiểu về tình yêu khác nhau. Phản ứng lại cách nhiều tình yêu quá phàm tục, có khuynh hướng lại muốn đối lập giữa tình yêu Thiên Chúa và cách yêu thương của con người.
Thật ra, tính cách nghịch lý của tình yêu và sự sống Kito giáo không hàm nghĩa một sự đối lập, mẫu thuẫn, giữa hai loại tình yêu, nhưng hàm nghĩa siêu việt. Tình yêu Kito giáo siêu việt mà không loại bỏ tình yêu nhân loại. Đức Benedicto XVI, trong Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, sau khi trình bày sự khác biệt giữa hai thứ tình yêu eros và agapê, đã nói rằng :
“Nếu như người ta đưa việc đối kháng này đến mức triệt để, thì điểm đặc thù của Kitô giáo sẽ bị tách ra khỏi những liên hệ căn bản của cuộc sống con người, và trở thành một thế giới đặc biệt, người ta có thể nhìn ngắm một cách kinh ngạc, nhưng lại bị cắt lìa khỏi sự toàn diện của đời sống con người” (số 7)…
và
“…trên căn bản, tình yêu là một thực tại duy nhất, nhưng lại có nhiều chiều kích khác nhau – tùy trường hợp, có thể chiều kích này nổi trội hơn chiều kích kia. Nhưng nơi nào cả hai chiều kích bị tách biệt nhau, thì sẽ xuất hiện một bức hý họa, hay có khi một hình thức què quặt của tình yêu” (số 8).
Khẳng định của đức Bênêdictô XVI cho thấy Kitô giáo bao hàm chữ hoà chứ không phải sự đối nghịch với những giá trị bình thường của cuộc sống nhân sinh. Những gì Thiên Chúa đã sáng tạo trong thế giới tự nhiên theo hình ảnh của Ngôi Lời Vĩnh Cửu, sau khi bị hư hoại do tội, sẽ được phục hồi trong tác động cứu độ của Ngôi Lời Nhập Thể. Ngôi Lời Nhập Thể cũng là Ngôi Lời Vĩnh Cửu, Ngôi Lời Nhập Thể đón nhận, thanh luyện, nâng cấp và hoàn thành những gì đã được sáng tạo trong tính tốt đẹp ban đầu. Đức Bênêdictô XVI nói : tình yêu Agape sẽ thanh luyện tình yêu Eros.
"Sự thanh luyện và trưởng thành rất cần thiết, và các điều này phải kinh qua con đường từ bỏ. Đây không phải là phủ nhận, cũng không phải là "đầu độc" eros, nhưng là chữa lành để đạt được sự cao cả thực sự của nó " (số 5)
Nói cách khác, Kitô giáo đảm nhận tất cả những giá trị của tình yêu nhân loại, nhưng làm biến đổi tình yêu ấy trong tác động cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa đảo ngược cách nghĩ của con người, nhưng đó không phải là một thứ ngược ngạo. Một khi nhận ra điều Thiên Chúa đảo ngược, con người với lương tri ngay thẳng sẽ nhận ra đó là một giá trị tuyệt hảo, thú vị, thâm thuý hơn cách nghĩ của con người nhiều.
Điều này giúp chúng ta điều chỉnh lại một cách nhìn có phần thiên lệch, biến đức tin Kito giáo thành thứ “đạo chịu vậy”, biến Kito giáo trở thành một lý thuyết bi quan, trốn tránh, sợ hãi đối với cuộc sống. Không ít những người, vì thiết tha với sự sống của con người, đã phải chống lại Kito giáo, hoặc đã phải chọn con đường “vô thần nhân bản”, vì cho rằng Kito giáo đã “vu khống sự sống”.
Trong hành trình đi lên Giêrusalem, Chúa Giêsu đến thành Giêrikhô. Có một người mù tên là Bartimê đã khẩn thiết kêu cầu Chúa chữa bệnh cho anh. Tiếng kêu khẩn thiết của anh mù Bartimê : “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”, được lập đi lập lại nhiều lần như một khát vọng vươn lên của sự sống. Sự sống kêu gào được sống, được sống một cách toàn diện và phong phú. Thế nhưng, trong đoàn người theo Chúa Giêsu, có nhiều người quát nạt anh “im đi”. Những lời quát nạt trấn át sự sống để bảo vệ cho một sự thánh thiêng, trật tự nào đó, để bảo vệ cho một chương trình hay một tổ chức nào đó… không phải là hiếm trong sinh hoạt của Giáo Hội. Nhìn một cách nào đó, có lẽ chúng ta thấy những lời quát nạt “im đi” vẫn lấn át những lời dễ thương có tính cách ủng hộ sự sống “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy !” (Xc Mc 10,46-52). Những quan tâm quá mức về lễ nghi, về trật tự, về những hào nhoáng của danh giá, về luật….; thái độ sống đạo dựa trên “nhân đức chịu vậy” vì không khám phá ra được những nét đẹp nhân bản của đời sống đức tin… thường làm cho đời sống đức tin trở thành một lối sống sợ hãi, dúm dó, an thân, nhiều hơn là một sự sống phong phú và triển nở…
Giáo lý Kitô giáo khẳng định những điều tốt đẹp nhất cho sự sống con người. Theo cách nói của thông điệp Tin Mừng Sự Sống, thì “Tin Mừng về sự sống nằm ở trung tâm của sứ điệp Đức Giêsu” (s. 1). Hoặc nói một cách khác, Tin Mừng yêu thương của đức Giêsu thực sự làm cho con người được sống phong phú, sung mãn, dồi dào :
”10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10,10)
1.2 Tình yêu kêu mời dâng tặng sự sống
Sự sống được hình thành quả là một điều quá kỳ diệu, nhưng điều còn kỳ diệu hơn nữa, đó là sự sống luôn khát vọng ra khỏi bản thân. Sự vật vật chất thì “lù lù” ra đó, nó là nó. Nó chẳng bao giờ đổi ra khác được. Nó sống hay chết cho một mình nó. Sự sống thì có một cơ chế đặc biệt hơn, sự sống có thể tự gạn lọc để thu nhận những gì thích hợp, tiêu hóa những gì mình thu nhận để biến trở nên chính xương thịt của mình. Nhưng sự sống cũng “tìm cách” ra khỏi bản thân mình để muốn sống “trường tồn” bằng sự sinh sản. Thế nhưng sự sống của con vật, khi nó “ra khỏi bản thân” qua sự sinh sản, thì cũng chỉ là một sự kéo dài thêm sự sống của nòi giống. Cá thể của sinh vật chỉ là phương tiện cho giống nòi, và chính giống nòi của con vật thì cũng không có cứu cánh tự thân.
Con người cũng là một sự sống, nhưng sự sống của con người thì khác hẳn. Đó là một sự sống có phẩm chất tinh thần, nó có thể ra khỏi bản thân mình để đạt đến một sự hiệp thông sâu xa với ai khác, nó có khả năng “trường tồn” khi chuyển sự sống của mình sang người khác. Sự chuyển thông này không phải chỉ là chuyển thông sự sống sinh vật của giống nòi.
Bởi vì con người vốn là một sinh vật tương đối, nhưng lại mang phẩm giá của tuyệt đối. Một đàng, bản thân tự tại của con người thì rõ ràng là một sinh vật tương đối. Tất cả thành công hay thất bại của tôi chỉ là cái hết sức tương đối. Tôi thành công thì có người thành công hơn tôi; tôi đau thì cũng có người còn đau hơn tôi; cuối cùng cuộc đời tôi đụng chạm vào cái chết, và mọi sự dính dáng đến tôi cũng tỏ hiện tất cả tính tương đối căn bản của nó trong cái chết của tôi. Đàng khác, trong thế giới con người với nhau, và trong thế giới của Chúa, con người là một cá thể có giá trị độc đáo mà không thể lấy một điều gì khác để thay thế được. Con người có cứu cánh tự thân và không thể trở thành phương tiện cho bất cứ điều gì khác hay cho bất cứ ai khác. Con người như một cá thể độc đáo, có quyền mơ ước bản thân mình được trường tồn, có khát vọng tuyệt đối. Chính con người cao quý và tuyệt đối ấy, khi yêu, đã chấp nhận đã ra khỏi bản thân mình, để đến với người khác đến độ dám chết vì người khác.
Cái nghịch lý sâu xa của kiếp người đó là : con người là hữu thể hoàn toàn tương đối, những lại luôn khát vọng tuyệt đối và chi có thể tìm thấy thoả lòng khi đạt tới tuyệt đối. Muốn đạt được tuyệt đối, con người phải ra khỏi được con người mình, ra khỏi bận tâm duy nhất về chính mình, ra khỏi những tìm tòi thăng tiến hoặc hưởng thụ cho bản thân mình, và khát vọng ra khỏi chính sự sống của mình. Cụ thể, nếu hành trình đời người không tìm được một ơn gọi và sứ mạng nào khiến cho mình dám hy sinh tất cả để thực hiện, thì đời sống ấy chỉ là “đi loanh quanh”, vui buồn vụn vặt, tan biến dần cuộc đời trong nỗi tiếc nuối dai dẳng, sa đà vào vực thẳm của sự vô nghĩa. Với khát vọng tuyệt đối, con người chỉ có hai ngõ ra để đạt được sự thoả lòng : ngõ tôn giáo và ngõ tình yêu. Đối với Kito giáo, cả hai ngõ mở ấy trở nên một, bởi vì Kito giáo là Đạo Yêu Thương.
Con đường ra khỏi bản thân chính là con đường từ bỏ, con đường hy sinh. Điều đó diễn tả tính cách đảo ngược, tính cách "nghịch lý" của sự sống và tình yêu, đó là phẩm chất rõ nét nhất của sự sống và tình yêu chân chính đến từ Thiên Chúa. Chính đó là phương cách thanh luyện của agape đối với eros mà đức Benedictô XVI đã trình bầy sự trong số 6 của Thông Điệp.
"Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời".(Ga 12,25)
2. Hành trình của sự sống và tình yêu
2.1 Tình yêu thay đổi trọng tâm của sự sống
Khi tôi yêu, thế giới của tôi không còn là thế giới của cái tôi đơn độc, lù lù ra đó; nhưng nó bỗng nhiên trở nên mỏng mảnh, mông lung, và thiếu thốn. Khi tôi yêu, cái tôi vốn được tôi coi như là cái rốn của vũ trụ bỗng nhiên trở nên không quan trọng nữa. Trước đây, tôi suy nghĩ một sự từ cái nhỉn của tôi, tôi yêu thích mọi sự từ trái tim của tôi, tôi sử dụng mọi sự theo sự thuận thiện cho tôi…., thì nay, điều quan trọng hơn cả lại là làm sao tốt nhất cho người tôi yêu. Khi tôi yêu, tôi mong điều tốt cho người tôi yêu; tôi quan tâm đến người tôi yêu hơn là quan tâm về chính bản thân tôi. Như thế, trọng tâm của đời tôi bắt đầu thay đổi. Tôi bắt đầu biết di chuyển trọng tâm đời tôi ra khỏi cái tôi ích kỷ và giới hạn của tôi để đặt trọng tâm cuộc đời nơi người tôi yêu. Rồi với một trọng tâm khác thì ý nghĩa của thành công hay thất bại cũng khác. Cái thành công của tôi có thể lại trở nên xấu, nếu nó mang lại điều không hay cho người tôi yêu. Ngược lại cái đau của tôi lại có thể trở nên tốt khi nó được đánh giá từ trọng tâm là điều tốt cho người tôi yêu. Với tình yêu thương, cuộc đời có thể thay đổi hoặc đảo ngược ý nghĩa; vì trong tình yêu, cuộc đời, thay vì là vun quén cho bản thân, lại trở thành như một hành vi cho đi; và cho đi trọn vẹn nhất chỉ có thể là cho đi chính bản thân.
2.2 Sự sống mời gọi dấn thân vì ai khác
Khi yêu thì con người có khả năng ra khỏi bản thân mình để đến với ai khác; và khi yêu, yêu thật tình, người ta coi ai khác là tuyệt đối đến độ dám chết cho người mình yêu, đó là ngõ ra của tình yêu.
Triết gia G. Marcel cho rằng người ta không thể dấn thân vì mình, không thể dấn thân vì sự vật, ngay cả với một lý tưởng, nhưng chỉ có thể dấn thân vì một ai khác. Khi người ta lao vào cuộc để củng cố, để thăng tiến bản thân mình, người ta dễ rơi vào kiêu ngạo hoặc ích kỷ, đó là thái độ đóng kín trong chính mình. Tất cả vẫn chỉ là làm phình to lên cái tôi của mình mà thôi. Khi người ta dấn thân vì sự vật, vì một thứ chân lý khách quan nào đó, vì một công trình tuyệt vời nào đó, thậm chí vì một lý tưởng cao đẹp nào đó mà không hướng đến ai khác, thì thật sự ra đó cũng chỉ là một sự dấn thân vì mình và vẫn bị giam hãm trong cái tôi tương đối tự thân của chính mình.
Dấn thân chân chính chỉ có thể là dấn thân vì ai khác. Dấn thân vì ai khác mang phẩm chất của một hành trình được nuôi bằng nghĩa tình, được hoàn thành khi đạt đến đích điểm là nghĩa tình chứ không phải là sự thành công của bản thân tôi hay hoàn thành một công trình có tính "sự vật" nào đó.
Ta có một thí dụ cụ thể : người đi vào đời sống hôn nhân hoặc đời sống tu trì đều một cách nào đó là những người “điếc không sợ súng”, nghĩa là không thấy hết được những khó khăn trong ơn gọi và sứ vụ mà mình lựa chọn. Điếc không sợ súng, một cách nào đó, là “tưởng bở” hóa ra là “dai”. Thế nhưng cái hay của hành trình “điếc không sợ súng” là : chính trên hành trình không được duyệt chính do lý trí, con người vẫn có thể đi cho trọn vẹn được. Đúng hơn, chính hành trình điếc không sợ súng thật ra lại tỏ lộ rõ rệt hơn động lực của hành trình : chính những tương giao trên hành trình dấn thân vì ai khác, chính những nghĩa tình được xây dựng trên hành trình dấn thân mới có thể nuôi dưỡng và trở nên động lực của hành trình dấn thân. Điếc không sợ súng, điều đó cũng có nghĩa là động lực để người ta đi trên đường đời, sâu xa hơn, không phải là lý trí lựa chọn một chương trình, không phải là một lý tưởng đẹp được mơ ước, nhưng chính bề dày nghĩa tình, nghĩa là chính những tình nghĩa, chính vì tha nhân mà ta gặp trên hành trình dấn thân làm cho người ta tìm được sức sống mới, liên tục phát sinh sức mạnh để đi trên hành trình ơn gọi và sứ vụ. Điếc không sợ súng, đó cũng là điều cần thiết, vì khi đó, người ta lao vào cuộc, có thể vì tưởng bở, nhưng không phải đi vào cuộc với sức mạnh và chương trình của mình, mà là nhờ sức mạnh của tình liên đới cụ thể, càng đi thì càng “tự sạc” điện cho mình bằng những kinh nghiệm của sống-với. Điều đó cũng cho thấy con người chỉ có thể dấn thân thực sự và dấn thân đến cùng vì ai khác, chứ không phải vì một chương trình hay vì bất cứ một sự vật nào khác.
2.3 Trong tình yêu, sự sống trở nên tuyệt đối
Một khi nhận ra nhau như là người “thuộc về mình”, tiến trình chân chính của tình yêu sẽ còn mời gọi con người thăng tiến đến một mức độ cao hơn nữa, đó là mức độ trao tặng bản thân của mình cho người yêu. Nơi đây, người ta không còn chỉ thấy điều hay điều tốt của tha nhân, nhưng vươn tới tới chính bản thân của tha nhân. Yêu thương chính bản thân của người khác là một thứ tình yêu vô điều kiện, loại trừ tất cả những điều kiện ít nhiều mang tính cách “sự vật”, để vươn tới mức độ ngôi vị.
Nơi đây, chúng ta được mời gọi để đạt đến những nguyên tắc cơ bản của Kitô giáo : trong Chúa, con người có một phẩm giá tuyệt đối; bản thân con người có cứu cánh nơi chính mình, nghĩa là không phải là phương tiện mà cũng không phải là một mục đích tùy phụ nào. Cứu cánh là mục đích cuối cùng, có khả năng mang lại ý nghĩa căn bản, nhờ một giá trị căn bản tự nơi bản chất của phẩm giá con người. Con người có cứu cánh nơi bản thân mình, nên không thể biến con người thành phương tiện cho bất cứ một mục đích nào khác, ngay cả cho Chúa. Con người cần được hoàn thành cuộc đời mình chứ không phải là được dựng nên như một “phó sản” cho ai khác hay cho điều gì khác. Chính trên nền tảng phẩm giá tuyệt đối của con người như thế mà con người chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi tự do, tự nguyện hy sinh bản thân mình cho người khác.
Do đó, đón nhận một ngôi vị là đón nhận một tuyệt đối mà không gì, không sự vật nào có thể thay thế và cũng không một thứ “tài sản” nào có thể đổi chác cách “công bằng”. Ngôi vị, của con người, của các thiên thần và của Chúa, là một tuyệt đối.
Ngôi vị con người là một phẩm giá mà không có cách nào chiếm hữu được, nhưng chỉ có thể “có được” khi được tự do trao tặng. Đối với ngôi vị, ta không thể tự hào có thể khuất phục bằng sức mạnh hay kiến thức, không thể chinh phục bằng tài năng hay đức độ, không thể quyến rũ bằng vẻ đẹp hay sự mua chuộc… bởi vì khi đó, cái mà ta chiếm hữu đựơc không còn là ngôi vị nữa mà chỉ còn là cái xác, hoặc là một thứ chân lý của lý trí vô ngã. Do đó, mức độ đón tiếp một ngôi vị là mức độ đón nhận trong lòng tri ân; bởi vì đó là đón nhận một quà tặng tuyệt đối.
Như thế, trao tặng chính ngôi vị của mình chỉ có thể là trao tặng trong tình yêu, và đó là trao tặng chính bản thân của mình cho người mình yêu thương. Tình yêu chân chính hướng tới mức độ tình yêu của Thiên Chúa, luôn mời gọi con người trao tặng chính bản thân mình cho người mình yêu.
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)
Nơi đây, người ta không còn đòi hỏi một điều kiện tiên quyết nào nơi người mình yêu nữa, nhưng cảm thấy một đòi hỏi từ chính bản thân mình để cống hiến một cách trọn vẹn; người ta không còn sống theo thái độ vui hưởng, mà là công hiến. Nguyên lý sâu xa của tình yêu này là khả năng tặng không và trao tặng trọn vẹn, trao tặng đến mức độ cho đi chính bản thân của mình để người mình yêu được sống và được sống dồi dào. Nguyên tắc vận hành của mức độ này chỉ có thể là “tự nguyện trao tặng” và đáp trả thật lòng bằng tâm tình tri ân.
Một mặt, chúng ta nhận thấy tiến trình yêu thương nói trên như một khát vọng siêu việt của con người, tiến trình ấy hướng con người đến vóc dáng tình yêu của Thiên Chúa. Nét đặc trưng của Tân Ước không phải là “Mến Chúa yêu người”, vì đó mới chỉ là mức độ của Cựu Ước. Trong khi đó Đức Giêsu mời gọi các môn đệ yêu thương như chính Ngài đã yêu thương, và yêu thương như chính Chúa Giêsu yêu thương nghĩa là “hy sinh mạng sống vì bạn hữu” : :
“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”. (Ga 15,12-15)
Mặt khác chúng ta cũng nhận ra vóc dáng tình yêu như thế đã được “phác hoạ” trong bản chất của con người. Chúng ta nhận thấy, chẳng hạn, tiến trình của tình yêu như thế thể hiện khá rõ trong tình yêu của đôi tình nhân- tình yêu trong thời gian đầu của hôn nhân- và thứ tình yêu của vợ chồng khi đã chín mùi trong tình nghĩa gia đình và với con cái. Tiến trình ấy, trong rất nhiều gia đình, đã bộc lộ đường nét như hạt lúa thối đi để nẩy sinh nhiều bông hạt khác :
“Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. (Ga 12,24).
3. Trong đức Giêsu, sự sống và tình yêu được thành toàn
3.1 Tình yêu trở nên nguyên lý
Nếu mến Chúa và yêu người là điều tóm lại tất cả giáo huấn của Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ (Mt 22,40); và nếu có thể “định nghĩa” “Thiên Chúa là Tình yêu” và “tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa” (1 Ga 4, 7.8) như thánh Gioan, thì quả thật, chính tình yêu là trung tâm và là tất cả, tình yêu cứu độ và tình yêu “xét xử”, tình yêu soi sáng và tình yêu dẫn dắt hành động, tình yêu đòi sám hối và tình yêu thưởng công bội hậu…
Đó là thứ tình yêu vừa là nguyên lý, vừa là phương thức hành động và vừa là cứu cánh. Đó là thứ tình yêu thuần khiết, không pha tạp tính toán, không pha tạp hận thù, không pha tạp tính cục bộ…. Đó không phải là thứ tình yêu nửa vời, giới hạn, loại trừ; không phải là yêu đến giới hạn nào đó rồi biến chất thành trừng phạt; không phải là thứ tình yêu hạn hẹp, đã yêu người này thì ghét người kia; không phải là thứ tình yêu ngẫu hứng, thích thì yêu rồi bỗng không thích thì thôi…
Chúa có giận thì cũng là một thứ tình yêu nồng nàn vì: “Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời” (Tv 30,6). Chúa có chọn Dân riêng và có những người được yêu thương đặc biệt thì đó cũng là để những ai được đón nhận tình yêu cách đặc biệt thì có trách nhiệm làm chứng cho muôn người về tình yêu của Ngài; Chúa có ngừng ban ân huệ cho ai thì cũng là để cho ai đó biết sám hối mà trở về trong thế giới yêu thương của Ngài…
Khi gieo tình thương, đức Giêsu đã chẳng gặt được ngay hoa trái của tình thương, mà là sự trả thù bằng chính bản án tử hình. Nhưng dù thế nào đi nữa, tình yêu không thể thua cuộc; và dù hai ngàn năm qua, dù có nhịp điệu quá chậm rãi, tình yêu của Chúa vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục sinh sôi để gây dựng vương quốc tình yêu của Ngài.
3.2 Tình yêu hoá giải bạo lực
Người ta không thể chữa trị điều xấu bằng một điều xấu khác,và cũng không thể chữa trị điều xấu bằng điều có vẻ “không xấu”. Cái xấu phải được chữa trị bằng cái thiện. Cũng như người ta không thể diệt hết cỏ dại bằng việc nhổ cỏ, nhưng là bằng cách “trồng bông”. Để vươn lên khỏi thế giới của sinh vật, để thoát ra được qui luật “cá lớn nuốt cá bé” thì không phải chỉ cần áp dụng những định chế “thuận mua vừa bán”, nhưng cần thiết phải làm sống động tinh thần tặng không, thái độ mắc nợ nghĩa tình, tình thần có trách nhiệm với những người chịu bất công.
Nếu thế giới cạnh tranh được giải quyết bằng bạo lực thì giống như người ta dùng hai tảng đá để đập vào nhau, tảng đá nào cứng thì ít bị sứt mẻ, tảng đá nào mềm hơn thì te tua nhiều hơn. Thế nhưng, dù ta là tảng đá cứng, và dù ta có đập nát hòn đá nhỏ, ta vẫn không thể nghiền nát nó được. Cuộc sống sau khi đã được giải quyết bằng bạo động thì cũng đầy “sạn”. Bạo động không thể hóa giải được những sức mạnh chống đối nhau. Đó là điều mà người ta gọi là không thể lấy ác báo ác. Hoặc hơn nữa, trong tầm nhìn lớn của toàn lịch sử, người ta cũng chẳng thể chỉ lấy cái “trực”, sự chánh trực nghiêm minh, để giải quyết sự ác. Chánh trực nghiêm minh thì cũng giống như là một bức tường ngăn cản tảng đá của sự ác mà chẳng thể hóa giải được nó.
Chỉ có tình yêu mới hoá giải được sự ác, và chặn đứng dòng chảy miên man của bạo lực. Tình yêu ở đây có ý nghĩa như là khả năng “lãnh đủ” sức mạnh của sự ác vào trong bản thân mình, “tiêu hóa” sự ác mà không cần phải khơi lên một cuộc đối đầu nẩy lửa. Tình yêu đối với sự ác thì giống như một hồ nước, nó có thể lãnh nhận tảng đá của sự ác, của bạo lực vào trong bản thân mình và nhờ đó mà lại càng dâng cao hơn nữa mức độ của “bể nước yêu thương”. Thực sự người ta không thể hóa giải được sức mạnh của sự ác, nếu như không có đủ sự bao dung rộng mở của tấm lòng, nếu như không có đủ sự hiền lành, mềm mỏng của con tim; nếu như không có đủ thái độ sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi...
Trong dòng lịch sử của nhân loại cũng như trong dòng lịch sử của một dân tộc; trong dòng lịch sử của một cộng đoàn, một gia đình hay trong dòng lịch sử của mỗi cá nhân con người, chỉ có sự bao dung của tình yêu có thể hóa giải được những xung lực của sự ác, của bạo lực, của hận thù...
Đức Giêsu đã không chống trả sức mạnh thế gian bằng một sức mạnh lớn hơn; Ngài cũng không bị lôi cuốn vào cuộc tranh cãi chân lý, Ngài im lặng để tiếng nói chân lý được vang vọng trong chính hành động hy sinh mạng sống của mình.
Thiên Chúa dấn thân vào dòng đời, sự hiện diện thánh thiện của Thiên Chúa tỏ lộ rõ nét giữa lòng thế gian tội lỗi; nỗi oan ức của Chúa Giêsu và sự thua cuộc của người công chính trước sức mạnh của sự dữ lại mở ra một con đường "thắng cuộc lạ kỳ", sự thắng cuộc của tình yêu.
Chỉ ở đáy cùng của bất công, khi mà "đức Giêsu kêu một tiếng lớn tiếng rồi tắt thở", thì tiếng nói của sự công chính mới vang lên. Giữa "đêm tối của buổi trưa" ấy, "Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới." và viên đại đội trưởng mới bật ra lời tuyên xưng : "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa." (Xc. Mc 15,37-39).
Tình yêu cần phải đi đến chỗ hy sinh mạng sống cho bạn hữu, tình yêu ấy cũng chính là thái độ liên lụy đến cùng để có thể "hóa ra không"; và đó mới là con đường cứu độ chân chính mà Thiên Chúa Cha muốn tỏ hiện trọn vẹn nơi đức Giêsu. Hóa ra tình yêu không hẳn phải là khung trời thơ mộng. Tình yêu chỉ thật là tình yêu mang tính cứu độ khi dám đi vào hành trình gai góc bằng thái độ liên lụy đến cùng, tình yêu là "chén đắng", là "phép rửa" bằng máu.
Thiên Chúa sẽ xoá đi sự bất công trong thế giới này bằng một cuộc xử án, nhưng điều đó được hoãn cho tới ngày Chúa đến thứ II. Lần Chúa đến thứ I là để hoá giải bất công bằng một quá trình yêu thương. Thiên Chúa ban cho người này nhiều hơn là để người được nhiều có trách nhiệm với người được ít hơn. Kẻ giầu có trách nhiệm luân lý với người nghèo, kẻ đạo đức có trách nhiệm luân lý với người tội lỗi, người khỏe mạnh có trách nhiệm luân lý với người yếu đau... Không phải Thiên Chúa đã ngẫu hứng mà yêu thương và cứu vớt những người nghèo. Nhưng hành trình yêu thương bắt buộc phải cúi xuống, và người nào muốn đi vào nẻo đường yêu thương thì cũng phải cúi xuống những phận nghèo như đức Giêsu đã cúi xuống. Tín lý Kitô giáo khẳng định mọi sự con người có được đều là hồng ân tặng-không của Chúa, và người lãnh nhận hồng ân của Chúa thì đồng thời cũng chính là người lãnh trách nhiệm. Thiên Chúa muốn trả lại sự công bằng căn bản cho đời người bằng con đường tình yêu cúi xuống, công bằng chính là đã lãnh nhận nhưng-không thì hãy cho đi nhưng không.
Hành trình yêu thương ấy cũng là hành trình thập giá. Không có con đường nào khác có thể giải thoát nhân loại chìm trong tội và sự ác. Tình yêu là cây hoa hồng, nhưng trước khi trổ hoa thì đã mang đầy gai nhọn. Con đường của lòng thương xót chính là con đường của một tình yêu vô điều kiện, hơn nữa đó là tình yêu tha thứ, và hơn hơn nữa, đó là tình yêu thập giá, nghĩa là chấp nhận hết thua lỗ thiệt thòi. Chỉ tình yêu ấy mới có khả năng trả lại bộ mặt chân thật cho con người, đó là bộ mặt của những người khát vọng yêu thương và cần đến lòng thương xót. Lòng thương xót chính là tình yêu với một năng lực mạnh nhất để xuyên thủng bức tường bất công và thù hận, đến với tha nhân với bất cứ giá nào, nghĩa là bằng giá máu.
3.3 Gặp lại chính mình
Trong thế giới con người, chỉ có hai lãnh vực mà trong đó, con người kinh nghiệm được sự nghịch lý căn bản của đời sống con người, hai lãnh vực đó là tình yêu và tôn giáo :
Khi chọn nẻo đường thuần túy tôn giáo để ra khỏi bản thân, người ta sẽ đánh mất bản thân, mất đi bản ngã cá vị, cùng với tất cả sử tính, tất cả những mối tương giao đậm đà tình nghĩa, những nỗ lực của mồ hôi và nước mắt trong hành trình cuộc đời, đổi lại là một sự trường tồn trong “đại ngã”, trong sự trường tồn “lạnh lẽo”…
Mặt khác, khi chọn nẻo đường thuần túy tình yêu để ra khỏi bản thân, người ta “giữ được” bản ngã, giữ được sử tính, giữ được vóc dáng và lựa chọn, giữ được thành tựu và những đau thương trong hành trình đời người…nhưng là giữ như một “ảo ảnh” không có nền thực tại, như một lý tưởng “duy tâm” thuần túy…
Đối với Kito giáo, hai nẻo đường ấy là một vì tôn giáo của đức Giêsu là tôn giáo yêu thương, và tình yêu thương nơi đức Giêsu mở đường đi đến Chúa Cha là sự sống đời đời. Chính điều đó mới giải mã được nghịch lý căn bản của vận mạng con người, đó là : ra khỏi bản thân mình để lại tìm gặp lại được chính mình một cách toàn vẹn hơn.
Người cha/mẹ chẳng hạn, sống tình yêu thương đối với con cái, và cảm nhận ra mình được là mình thật sự khi vất vả làm ăn để nuôi con, khi được chăm sóc cho con, và nhất là khi nhận ra đời mình, dù có tầm thường đến đâu cũng được, miễn là con mình được nên người. Chính chân lý ấy được Đức Giêsu trình bày nhiều lần trong Tin Mừng :
- "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời".( Ga 12,25)
- "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác".( Ga 12,24)
Tình yêu Kitô giáo là một sự đảo ngược, trong đó, tình yêu thực sự vượt thắng được chính cái tôi ích kỷ, cái tôi muốn thành chính mình không cần đến ai khác, cái tôi mà con người mang lấy trong thân phận của "tội tổ tông", nghĩa là tự mình hoàn tất đời mình, trở nên như thần thánh, chỉ bằng một phương cách khẳng định điều thiện điều ác của chính mình.
Đi vào nhịp bước tình nghĩa, người ta được mời gọi ra khỏi bản thân, dấn thân vì tha nhân và dấn thân cho đến cùng. Tiếng gọi của tình yêu chân chính bao giờ cũng thôi thúc con người đến một cách sống yêu thương trọn vẹn, triệt để, yêu thương đến cùng. Hành trình của tình yêu không phải nhằm đạt đến một sự an hòa cho bản thân, nhưng là vượt quá bản năng bảo vệ bản thân. Như thế đó, vận mạng của con người đã hàm chứa một phương trình đi đến kết quả qua công thức tử đạo rồi.