Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 4
Hiện tượng tử đạo là trung tâm và linh đạo tử đạo là nền tảng của sự sống đức Tin Kito giáo. Từ nẻo đường chính đức Giêsu đã đi, đức Maria cũng đi, theo cách “tử đạo trong tâm hồn”, rồi các tông đồ đã đi theo,... ta có thể thấy sự thật nơi trung tâm của sự sống. Đó là một cuộc chiến giữa sống và chết, cuộc chiến mở ra nẻo “đường máu” của sự sống.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài IV Chân lý nơi dấu máu đức Tin
Hiện tượng tử đạo là trung tâm và linh đạo tử đạo là nền tảng của sự sống đức Tin Kito giáo. Từ nẻo đường chính đức Giêsu đã đi, đức Maria cũng đi, theo cách “tử đạo trong tâm hồn”, rồi các tông đồ đã đi theo,... ta có thể thấy sự thật nơi trung tâm của sự sống. Đó là một cuộc chiến giữa sống và chết, cuộc chiến mở ra nẻo “đường máu” của sự sống.
1. Chiến tranh lạnh hay chiến tranh nóng ?
Thế giới con người luôn có sự hiện diện của sự ác. Ngày nay, con người càng ngày càng văn minh hơn, không phải chỉ trong phương diện khoa học kỹ thuật, nhưng cả trong nhiều khía cạnh văn hóa và trong ý thức về nhiều giá trị nhân bản. Thế nhưng sự ác trên thế giới vẫn không giảm bớt; sự ác gia tăng mức độ tinh vi cùng với những bước tiến văn minh của nhân loại.
Thế kỷ XXI này, nhân loại hình như đang đứng trước một sự phát triển đột biến của sự ác : nạn khủng bố đe dọa thế giới; khuynh hướng gia tăng sức mạnh quân sự đang lây lan khắp nơi và có nguy cơ, hoặc đẩy thế giới vào cuộc chiến tranh thế giới thứ III, hoặc làm suy kiệt nền kinh tế vì những khoản đầu tư khổng lồ về quân sự; thái độ vô trách nhiệm về môi sinh để lại những di hại lớn lao cho thế hệ tương lai; người Việt Nam tự đầu độc chính mình vì những sản phẩm độc hại, người ta đầu độc nhau theo kiểu vòng tròn mà cuối cùng thì ai cùng bị rớt vào tình huống "gậy ông đập lưng ông"...
Cuộc rượt đuổi của sự thiện và sự ác như thể rơi vào một trò chơi nực cười, bi đát. Biết bao nhiêu nỗ lực của con người để giải quyết sự ác, nhưng chính cách giải quyết này lại làm nẩy sinh nhiều sự ác khác... Người ta giải gỡ cái bất công này bằng một bất công khác, giải quyết hiện tượng gian dối này bằng một cách thức gian dối khác, giải quyết mối bất hòa này bằng sự chia rẽ ghê gớm hơn. Người ta xây dựng xã hội không bóc lột bằng sự thù hằn tiêu diệt người khác, và một cách bi đát, cách thức giải gỡ sự ác lại chính là hành lang để cái ác lây lan như một thứ vi khuẩn truyền nhiễm.
Đức Gioan Phaolô II, trong bản di chúc tinh thần "Ký Ức và Căn Tính" cho rằng nguyên nhân của sự ác bùng nổ trên thế giới hiện nay là do con người đã đánh mất triết lý chân chính về sự ác. Người ta giải quyết sự ác khi mà không còn thấy khuôn mặt đích thực của sự ác. Truyền thống Giáo hội, từ thánh Âu Tinh cho đến thánh Thomas, đều cho thấy sự ác không hiện diện đơn độc, sự ác không có khuôn mặt riêng. Tất cả "công trình" của sự ác lại chính là sự biến dạng của khuôn mặt sự thiện. Sự ác chính là sự khuyết phạp, là do thiếu sự thiện cần phải có. Sự ác không đồng nhất với con người này hay con người khác, không đồng nhất với phe nhóm này hay phe nhóm khác. Người ta không thể giải quyết sự ác mà không tôn trọng sự thiện; không thể chống lại cái xấu này bằng cái xấu khác. Một cách nào đó, cần hiểu rằng : "kẻ thù ta không phải là người, giết người đi thì ta ở với ai ?"; kẻ thù đích thực là lòng ghen ghét, là sự tỵ hiềm, là thái độ bất công, là toan tính bóc lột... Khi người ta muốn giải quyết cái bất công, cái ác, bằng một phương thức nào đó, có vẻ rất hiệu năng, nhưng lại không gắn liền với nền tảng cái thiện của kiếp người, thì con đường phát triển chân thực sẽ bị đóng lại...
Với thứ triết lý đúng đắn về sự ác, có lẽ điều trước tiên là phải làm lộ diện dáng đứng của sự thiện, phải định hình “khuôn mặt” của sự ác trong chuẩn mực của sự thiện. Điều đó có nghĩa là dám tin vào tình yêu, tin vào sự thiện, tin vào tấm lòng lương thiện; đồng thời, điều không thể thiếu nữa, chính là một thái độ đủ lòng kiên vững trong sự thiện, dù trước mắt là sự mất mát thiệt thòi... Đừng để bộ mặt quá ấn tượng của cái ác che khuất khuôn mặt sự thiện, át đi tiếng kêu gào của sự thiện ở sâu trong lòng thế giới con người. Thật ra, với một lương tri ngay thẳng, con người đã có thể thoáng thấy được bộ mặt thật của cuộc chiến thiện - ác. Lắng nghe được tiếng nói của lương tri ở đáy lòng, có lẽ người ta có thể nhận ra được tảng băng chìm sâu của sự thiện và sự ác trên trần gian
Dĩ nhiên, ý thức về tội lỗi chỉ xuất hiện rõ rệt khi có sự xuất hiện của tôn giáo. Nhưng “thực tại” tội lỗi thì đã có ngay từ những bước đi đầu tiên của loài người. Tội lỗi không phải chỉ là một phạm trù “thiêng liêng” nào đó, không dính dáng tới đời sống thực; tội lỗi cũng không chỉ là vấn đề thuộc về nội tâm của con người, như chuyện của cá nhân mỗi người. Tội lỗi chính là phần nhiễm độc của chính tạo thành, tội lỗi tương tác tới những cơ chế bất công trong xã hội, tội lỗi là nguyên do của nhiều đổ vỡ trong gia đình, và tội lỗi cũng có phần trong những thái độ, những lựa chọn, những tâm tình của cá nhân mỗi người. Tội lỗi gắn liền với cái chết.
"Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán”. (Lc 11,23)
Thái độ của các tôn giáo nói chung và của Kitô giáo nói riêng, không phải là một cách nhìn huyền hoặc của chứng tâm thần phân liệt, nhưng là nhìn thấy phần chìm khuất của tảng băng thế giới, phần chìm khuất nhưng lại chính là phần tương tác sâu xa nhất của mọi vấn đề trên bề mặt cuộc đời…
Thế giới là một cuộc chiến, “chiến tranh nóng” là những xung đột, những đổ vỡ, những hiện tượng tàn ác của nhân loại. Nhưng sâu xa hơn, cần phải nhìn ra khuôn mặt của một thứ “chiến tranh lạnh” nơi thế đứng đối nghịch căn bản giữa sống và chết, giữa tình yêu và hận thù, giữa tội lụy và ân phúc. Con người thường muốn nóng lòng giải quyết “chiến tranh nóng”, và luôn chỉ thấy những giải pháp tạm thời, vá víu...
2. Mặt trận trọng yếu : sống và chết
2.1 Sống chết đích thực
Dưới ánh sáng đức Tin, người Kitô hữu hiểu rằng tên gọi chính xác nhất của sự ác chính là tội và hệ quả của tội là cái chết. Chính kẻ lừa dối nguyên tổ trong vườn địa đàng đã đưa sự ác vào trần gian và đã gây nên án phạt phải chết cho con người.
Tuy nhiên, sự sống toàn vẹn không phải chỉ là quả tim còn phập phồng, không phải chỉ là máu huyết còn lưu thông, không phải chỉ là còn ăn, còn ngủ, còn nói, còn cười… Con người sống, con vật sống và cỏ cây cũng sống. Không phải là những sự sống này có cùng một giá trị, và sự khác biệt chỉ là những yếu tố bên ngoài. Không phải như vậy. Đúng hơn, bản chất của sự sống chỉ chân chính nơi sự sống nơi con người. Chỉ con người mới có khả năng sống chân chính, và sự sống của thực vật cũng như động vật chỉ có thể sống chân chính khi được tham dự và sự sống của con người… Cần nhìn vào chính sự sống của con người để khám phá bản chất “siêu hình” của sự sống, chứ không phải đặt nền tảng chung nơi sự sống của cây cỏ hay sinh vật.
Sự sống con người gắn liền với ý nghĩa của sự sống, và ý nghĩa ấy chỉ có thể là tình yêu. Khi nguyên tổ bất trung với Chúa, ý nghĩa của sự sống đã mất, sự sống thể lý chỉ còn là con đường cụt, vì sự chết đã chiến thắng.
Satan cũng đã muốn cám dỗ đức Giêsu thi hành đường lối cứu độ theo cách thức ăn gian của kiếp người, cách thức ấy không thể đưa tới sự sống chân thực được. Sự sống không thể được thành toàn nhờ bánh mì, sự lạ và quyền bính (X. Mt 4,1-11). Cuộc chiến chân thực nhất của con người chống lại sự ác phải là cuộc chiến chống lại tội lỗi và kẻ cầm đầu tội lỗi là Satan và đó là con đường làm nẩy sinh sự sống chân thực để chống lại cái chết. Cái chết thể lý là một sự kiện như một dấu chỉ cho một thứ chết căn bản hơn cho phận người, đó là cái chết của một phận người vô nghĩa, cái chết của một hiện hữu sa vào hư vô. Sự sống mới được khởi đầu khi sự sống tìm lại được ý nghĩa chân thực. Tình yêu và tình yêu dám hy sinh mạng sống, chính là “nhịp cầu ý nghĩa” để mở lại sinh lộ cho hành trình sự sống.
Khi tiếng nói lương tri dễ bị át đi do những tiếng ồn độc hại của thế gian, thì ánh sáng đức Tin giúp soi tỏ cho con người thấy rõ cái "khuyết phạp sự thiện" dính dáng sâu xa tới "tội", dính dáng tới cội nguồn sự từ chối nối kết bản thân và cuộc đời mình với chính nguồn mạch sự sống. Ở hậu trường của cuộc chiến thiện ác, cần phải nhận diện được kẻ giật giây cho sự ác chính là Satan, và nhận ra được bóng dáng sự chết cùng những “con cái sự chết” đang tung hoành trong cuộc sống con người.
Chỉ khi đó, cuộc chiến của con người mới không rơi vào tình trạng đánh điều ác này thì lại gây ra điều ác kia, tránh sự dữ này nhưng lại tạo nên duyên cớ cho nhiều sự dữ lây lan và làm cho bóng tối sự chết càng dày đặc hơn nữa. Cách thức của cuộc chiến đích thực chính là tìm lại được sự sống tinh tuyền của mọi thụ tạo.
Chỉ trong mặt trận chống lại tội lỗi do Satan cầm đầu, con người mới nhận ra sự bất lực của bản thân mình, mới nhận ra nét khẩn thiết của ơn cứu độ. Chỉ có Chúa mới có thể cứu độ con người, bởi vì căn nguyên của sự ác chính là tên cám dỗ mà chỉ có "giòng dõi người nữ" (St 3,15) mới có thể đạp dập đầu nó được..
"Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông" (Lc 11,19)
2.2 Ý nghĩa của sự sống : tình yêu liên luỵ
Mặt khác, dưới ánh sáng đức Tin, chiến cuộc thiện ác không phải là chuyện riêng của mỗi cá nhân mà là vấn đề của cộng đồng nhân loại. Sự sống mà mỗi người đã nhận được đưa con người vào tình trạng mắc nợ nghĩa tình và liên đới trách nhiệm với nhau một cách sâu xa. Do đó, ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ là chuyện cân đong đo đến công tội của cá nhân. Ơn cứu độ của Thiên Chúa là đưa đến con thuyền Giáo hội. Những ai hiểu ra mình cần được cứu thì đến với cộng đoàn Giáo hội để cùng chèo chống con thuyền chung.
Một ông bố nói với đứa con : con à, ông nội con mới bị tai nạn, gẫy chân, con chịu khó sang chăm sóc ông nội nhé...
Đứa con trả lời : tại sao con phải chăm sóc ông nội. Con đâu có làm cho ông nội bị què chân. Ai đã làm cho ông nội què chân thì người đó phải chăm sóc cho ông nội chứ.
Ông bố giơ tay lên trời, không nói được một lời nào...
Ba tháng sau, ông chú ở Mỹ muốn đón bố sang Mỹ để chữa chân, cần có một người đi theo để giúp bệnh nhân. Đứa con nói với bố : bố ơi, để con đi theo giúp ông nội nhé...
Ông bố cũng chỉ biết giơ tay lên trời mà không nói được một lời nào...
Có lẽ không ít người Kitô hữu, trong lúc khổ cực, đã chọn thái độ như đứa con trong câu chuyện. Người ta kêu than tại sao tôi lại phải chịu hậu quả của tội tổ tông; người ta đòi hỏi ai làm người ấy chịu. Có những người Kitô hữu tâm sự rằng, từ khi vào hội đoàn, tôi thấy mình càng thêm tội, tranh cãi nhiều, buồn bực nhiều, nói xấu nhiều… Đó là một thực tế khó có thể chỗi cãi. Tuy nhiên, thái độ rút lui, an thân thì lại chẳng khác gì tuyên bố rằng : tay tôi đã sạch, ai lao vào bếp để dọn bàn tiệc Nước Trời thì cứ việc làm; khi nào dọn bàn xong, nhớ gọi tôi vào ăn với...
Cuộc đời, tự nó, đã đặt tất cả mọi người vào trong một tình trạng mắc nợ nhau quá nhiều. Thái độ không dám chịu phiền hà vì ai và không muốn nhờ vả ai, thật sự là thái độ tự kết án chính mình trước, bởi vì đó là thái độ từ chối nhịp cầu ý nghĩa để đạt đến sự sống đích thực.
Nhiệm cục cứu độ giáo dẫn dắt con người đi từ sự liên lụy trong tội tổ tông ở đầu lịch sử, để đạt đến mầu nhiệm các thánh cùng thông công ở cuối dòng lịch sử. Kẻ nào không dám đi vào cánh cửa liên lụy, thì không thể đến được gian phòng thông hiệp. Nói cách khác, chính ánh sáng của "gian phòng thông hiệp" mới có thể soi rõ "cánh cửa liên lụy". Không có ánh sáng của sự hiệp thông, con người ta bị giam hãm trong căn phòng cá nhân chủ nghĩa. Không ai được quyền chọn giải pháp né tránh kẻ bị cướp bên đường như vị tư tế và như thầy Lêvi (Xc. Lc 10, 25-37)
Kế hoạch của Satan thật là tinh vi. Satan không phải là một đối thủ lộ mặt cho ta có thể thấy. Hành vi của Satan có nhiều chiêu thức giả, đánh đàng trước nhưng lại nhằm phía sau, nhắm phía trên nhưng lại ra đòn phía dưới. ...
Nếu một “phàm nhân” chỉ thấy những “giặt đói”, “giặc bệnh”, giặc dốt…; thì “triết nhân” phải nhìn thấy vấn để sau xa hơn, không phải làm cho người ta hết đói, hết bệnh, hết ngu dốt, nhưng là tìm ý nghĩa đích thực của thiện-ác, chân-giả nơi sức khoẻ, thực phẩm hay kiến thức. Nhưng sâu xa hơn nữa, trong tầm nhìn tôn giáo, “thánh nhân” cần nhìn thấy một cuộc chiến giữa Thiên Chúa và Satan, biểu lộ trong cuộc chiến giữa phẩm tính của sự sống và tính ác của cõi chết.
Tầm nhìn của đức Tin Kito giáo cũng cho thấy rằng việc giải thoát con người khỏi gọng kèm của tính ác không phải chỉ nhờ một học thuyết luân lý hay một lý thuyết triết học, nhưng chính là nhờ vào mạch nguồn sự sống, một sự sống mới, một sự sống thực, sự sống tinh tuyền được ban tặng như một nguyên lý và như nguồn mạch sự sống cho con người.
“Đức Giê-su liền phán : "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25)
3. Phẩm giá của sự sống
Nếu so sánh thái độ của triết gia Socrate với thái độ của đức Giêsu trước cái chết, ta sẽ thấy một sự khác biệt căn bản và nhận ra được phẩm giá của sự sống. Socrate bị kết án oan ức trong một bầu khí nhiễu loạn về chính trị tại thành Athènes. Ông đã can đảm chấp nhận con đường chịu chết chứ không bỏ trốn theo như đề nghị của bạn bè. Ông là một con người liêm chính, ông không muốn những bài học luân lý mà mình đã giảng dạy cho thanh niên Athènes bị chối bỏ do hành vi vi phạm luật pháp của mình. Ông đón nhận hình phạt uống thuốc độc một cách bình tĩnh, thanh thản. Thái độ của Socrate là một thái độ anh hùng, không vì ham sống sợ chết mà làm những điều trái với lương tâm. Ông coi cái chết “nhẹ tựa lông hồng” ...
Trong khi đó, thái độ của đức Giêsu thì rõ ràng là sợ hãi. Đức Giêsu xao xuyến đến nỗi chết; đức Giêsu lo lắng buồn phiền toát mồ hôi máu, đức Giêsu cầu xin Chúa Cha cho khỏi phải uống chén đắng... Nhưng Ngài sẵn sàng chấp nhận Thánh ý Chúa Cha. Đây là tiếng xin vâng không nhẹ nhàng thanh thản (ataraxia), mà là tiếng xin vâng đầy máu và nước mắt.
“Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất”. (Lc 22,44)
Một đằng, ta nhận ra trọng tâm của thái độ Socrate là một đức tính luân lý cao cả, loé sáng lên trong một nhân cách anh hùng. Dĩ nhiên, Socrate cũng có phần chọn cái chết, thay vì bỏ trốn, vì không muốn thanh niên Athènes bị lung lạc về nhừng bài học luân lý. Hành vi của Socrate như một gương sáng cho người Athenes, nhất là với người học trò ưu tú Platon.
Đàng khác ta thấy trong tâm của thái độ đức Giêsu là sức nặng của tình nghĩa. Tin Mừng Marco ghi lại lời Abba trong vườn Cây Dầu như một nút thắt tình nghĩa giữa lựa chọn của đức Giêsu và Thánh ý Chúa Cha.
“35Người đi xa hơn một chút, sấp mình xuống đất mà cầu xin cho mình khỏi phải qua giờ ấy, nếu có thể được. 36 Người nói : "Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn." (Mc 14,35-36)
Chính vì sức nặng của tình nghĩa mà đức Giêsu chấp nhận cái chết. Đây không phải là một thái độ anh hùng như một nhân cách cao cả của cá nhân, nhưng là thái độ trung tín và trung tín đến cùng với một Ai.
Mặt khác, Socrate cũng như nhiều bậc anh hùng thường đối lập giữa tầm cao nhân cách với giá trị của sự sống; một người anh hùng phải dám coi nhẹ sự sống, đến độ coi “cái chết nhẹ tựa lông hồng”. Còn đối nơi đức Giêsu, ta thấy một lòng tôn trọng sự sống và như thế chính việc hy sinh sự sống vì tình nghĩa mới trở nên một tình yêu lớn hơn mọi tình yêu.
“Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được." (Ga 10, 18)
Sự sống và sự sống con người là một món quà Thiên Chúa ban cho con người cách nhưng-không. Không ai có thể tự ban sự sống cho mình. Sự sống là nền tảng của mọi giá trị trong kiếp sống con người.
Kito giáo là Tin Mừng về sự sống. Kito giáo chọn con đường sự sống chứ không phải con đường sự chết. Đức Tin cho ta biết sự sống là món quà của Chúa, đó là nền tảng của phẩm giá sự sống. Nhưng chính sự sống con người mới là “hình ảnh của Chúa” một cách chân thực hơn cả và chính nơi hình ảnh ấy ta có thể thấy hé lộ ý nghĩa căn bản của phẩm giá sự sống
Do đó, không ai được quyền coi nhẹ mạng sống mà mình đã được lãnh nhận. Con người lãnh nhận sự sống như một quà tặng vô giá và đồng thời lãnh nhận như một sứ mạng cần phải hoàn thành sự sống. Con người không được quyền tự ý kết liễu cuộc đời mình và cũng không được phép “coi sự sống nhẹ tựa lông hồng”. Thái độ coi nhẹ sự sống để biểu lộ một thứ “nhân cách anh hùng” không phải là chân lý của Kito giáo. Đức Benedicto XVI nói :
“ (Việc) Tôn trọng quyền sống trong mọi giai đoạn của đời người xác định cách mạnh mẽ một nguyên tắc có tầm quan trọng rõ rệt : sự sống là một quà tặng mà không một chủ thể nào có toàn quyên sử dụng theo ý của mình” (Thông điệp ngày Thế giới Hoà bình 2007)
Hơn nữa, với con người, sự sống gắn liền với “ý nghĩa của sự sống”, và ý nghĩa đó chỉ có thể là tình yêu. Phẩm giá sự sống chỉ được thành toàn trong một ý nghĩa chân chính khi mà, con người biết lãnh nhận sự sống với lòng tri ân và dám trao tặng chính sự sống của mình trong tình nghĩa. Chỉ khi đó, sự sống con người mới thể hiện đúng “hình ảnh Thiên Chúa”.
Tử đạo không phải là coi thường sự sống, nhưng là trận trọng sự sống và hoàn thành sự sống. Tử đạo là chọn sống, và dám sống trọn ý nghĩa của đời người.
4. Đường chân lý qua dấu máu
4.1 Đối diện với thực tại
Con người không ngừng đi tìm một thế giới công bằng hơn. Con người tìm các thể chế chính trị, đặt ra các qui luật xã hội, đề ra nhiều biện pháp trong các tổ chức, thậm chí ngay trong đời sống gia đình hoặc các cộng đoàn tu trì… để cuộc sống con người với nhau thể hiện được một sự công bằng. Thế nhưng, nói cho cùng, xã hội con người đã không bao giờ và cũng sẽ không bao giờ có được một sự công bằng trọn vẹn. Xã hội công bằng là một thứ lý tưởng mà con người khao khát một cách cụ thể và thiết thân trong cuộc sống hằng ngày, nhưng lại không bao giờ đạt đến được. Tất cả những bộ luật của nhân loại, tất cả những cuộc đấu tranh cho công bằng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, thật ra, cũng chỉ là một “chút đường” bỏ vào “bể muối mênh mông của bất công".
Vấn đề có lẽ không phải chỉ do năng lực yếu kém của các nhà chính trị, các nhà xã hội, cũng không phải chỉ do lòng tham không đáy của con người; không phải chỉ do cơ cấu tổ chức.... Chính xác hơn, bất công là một thực trạng có một bề dày lịch sử lên đến tận ngọn nguồn của đời sống con người :
“4 Rắn nói với người đàn bà : "Chẳng chết chóc gì đâu ! 5 Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác." 6 Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình ; ông cũng ăn. 7 Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng : họ mới kết lá vả làm khố che thân.”( St 3, 4-7)
Bất công là một thực trạng dính dáng cách “phổ quát” đến tận những người ở góc xó của thế giới; bất công vẫn không ngừng lây lan vào mọi lãnh vực, bất công không ngừng phát sinh trong từng bước con người hướng đến tương lai. Khi một em bé được cưu mang và được sinh ra, em bé ấy đã gánh chịu hoặc đã vô tình hưởng thụ nơi bản thân nó biết bao những bất công của cuộc đời, bất công của lịch sử nhân loại, bất công của dân tộc này với dân tộc kia, bất công của môi trường xã hội có từ thời ông bà tổ tiên của cháu bé, bất công của làng xóm, bất công của luật lệ xã hội, bất công ngay trong gia đình… Rồi trên hành trình cuộc đời, mỗi bước đi của em cũng đều hàm chứa những bất công được đan dệt nối tiếp trên những thành quả của bất công đã có từ trước…
Đấu tranh chống bất công nhân danh công bằng, dựa vào luật pháp hay quyền con người, là điều cần làm trước mắt. Nhưng làm sao những cuộc đấu tranh cho công bằng có thể giải quyết được hết bài toán bất công trong cả chiều sâu, chiều rộng của nó ? Dĩ nhiên là chúng ta không bao giờ được coi thường những nỗ lực đấu tranh cho công bằng, hoặc làm giảm nhẹ tầm quan trọng của những cuộc đấu tranh ấy. Nhừng cũng cần nhận diện ra được đại dương của bất công là để không ai được quyền an thân trong hoàn cảnh may mắn nào đó của mình; không ai được quyền bào chữa cho mình khỏi chịu trách nhiệm trước những khổ đau của người khác; không ai được quyền sống theo kiểu “bàn tay sạch”, hoặc “đi cà khêu” giữa cuộc đời; không ai được quyền an ổn với một cuộc sống lành mạnh mà thôi… Một ảo tưởng về sự công bằng cũng đã là một sự bất công. Bởi vì chính ngay "chỗ đứng" mà ta cho là công bằng để đấu tranh, thật ra cũng chẳng công bằng. Suy cho đến ngọn nguồn, thì chỗ đứng nào cũng đã bị nhuốm bùn của bất công. Ảo tưởng nhân danh sự công bằng để đấu tranh với bất công thường là lại mở ra và củng cố những bất công khác một cách tinh vi và khốc liệt hơn, bởi vì người ta đã cố tình quyên đi cái bất trong ngay trong bản thân của chính mình. Do đó, tất cả những thứ cách mạng nhằm “chia đều lợi tức”, cào bằng… đều rơi vào một sự bất công khác.
Không thầy thuốc trần gian nào có thể lần tìm đến cùng gốc rễ của “nhân = bệnh”; không một toà án trần thế nào có thể phanh phui đến tận cùng những tương tác tội luỵ trong dòng lịch sử. Nhân loại chẳng phải đã chào thua trước thực trạng này khi đề ra luật thời hiệu ? Con người phải chấp nhận, phải “hợp lý hoá” lý thuyết “cứt trâu để lâu hoá bùn”, để có thể tạm sống bình yên trên một nền đất hàm chứa đầy “bom đạn”.
4.2 Giải pháp “máu”
Thật ra, chẳng thể nào hoá giải bất công bằng quy luật “cứt trâu để lâu hoá bùn”. Một chiếc áo mới không thể nào làm sạch được một cơ thể vấy bùn; một nhãn hiệu đẹp không thể thay đổi bản chất của một sản phẩm tồi. Những oan khiên tích tụ lại, vết thương mới chồng lên vết thương cũ, nỗi đau của người này gieo rắc nên những nỗi đau của người khác, bạo lực đè trên người này sẽ đưa đến cuộc thảm sát trút xuống cho kẻ kia ... Không người nào có thể át được tiếng rên la của phận người :
“2,17 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a : 18 'Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ : tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.' (Mt 2, 17-18)
Vũ trụ trong quan niệm Sách Thánh không phải là một vòng tuần hoàn miên man bất tận và mọi sự trầm trọng sẽ bị hoá giải, trở nên nhạt nhoà trong vòng thời gian tuần hoàn ấy. Thiên Chúa đã đi vào lịch sử, thế giới đã được sáng tạo và trải dài trong dòng lịch sử để hướng tói ngày chung cuộc. Trong dòng lịch sử, mọi sự đều có trước có sau và sự gì đã được gieo vào dòng lịch sử ấy thì vẫn có đây và vẫn hiện diện tương tác, thuận hay nghịch, với vũ trụ xung quanh. Ta đã đánh ai một lần, ta đã nói lời yêu thương ai một lần... thì những điều ấy đều đã trở thành lịch sử, một lịch sử không bao giờ có thể tan biến hoàn toàn. Dù người ta có mất trí nhớ, dù người ta quyết tâm bỏ qua những chuyện xưa cũ... thì việc làm và lời nói ấy vẫn còn đó, và hệ lụy của những lời nói hay hành vi ấy vẫn có phần của nó trong phẩm tính của dòng đời. Giống như gương vỡ không làm sao ghép lại được, giống như một bát nước đổ xuống đất không ai có thể hốt lại đầy, thì thế giới nhân loại cũng đón nhận lịch sử, cả những điều tốt và những điều xấu, như một phần vận mạng khó có thể xóa nhòa. Rồi, những lời nói và hành vi ấy cũng sẽ lại tạo nên những hệ quả giây chuyền mà người ta không thể dùng một hành vi thuần túy luân lý để hóa giải.
Người ta tưởng những thế hệ mai sau sẽ lãng quên những nỗi tủi nhục của cha ông, người ta nghĩ có thể chôn vùi tất cả nỗi khổ đau, nỗi bất công trong một tư tưởng, trong một hệ thống luật pháp, hoặc trong một bài toán tôn giáo nào đó... Không ! Không quyền lực nào có thể san bằng núi bất công ấy; không điều gì có thể lấp đầy biển đau thương ấy; không con người nào có thể trốn tránh khỏi bầu trời oan khiên ấy....
Bao nhiêu nỗi oan kiên của cuộc đời vẫn liên tục hâm nóng lò lửa chiến tranh; những thứ ruồi muỗi của thời đại này tích tụ với ruồi muỗi của thời đại khác làm nên một đội quân phản kháng hùng hậu; bất công của nơi này kết tụ với bất công ở nơi kia tạo nên vô số những quả bom chờ nổ. Những tiếng rên la của kiếp người qua bao thời đã kêu lên thấu trời...
Mọi sự cần được hoá giải chứ không phải chỉ cần quên lãng. Một sự ác cần được hoá giải thực sự do sự thiện chứ không né tránh; và chính Thiên Chúa đã đi vào cuộc trong tầng sâu ấy của cuộc đời.
Thiên Chúa đã lắng nghe những tiếng kêu than:
“Nợ máu Chúa không tha, nhưng hãy còn nhớ mãi,
tiếng những người nghèo khổ, Chúa chẳng quên bao giờ.” (Tv 9,13)
Thiên Chúa đã hứa và Ngài không nuốt lời :
“CHÚA phán rằng : "Trước cảnh người nghèo bị áp bức,
kẻ khốn cùng rên siết thở than,
giờ đây Ta đứng dậy,
ban ơn giải thoát cho kẻ mong chờ." (Tv 12,6)
Thiên Chúa ban mệnh ấy cho con người :
“Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn ;
minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng,” (Tv 82,3)
Và chính Ngài sẽ hoàn thành chương trình ấy :
“ĐỨC CHÚA phán thế này : Vì tội của Ít-ra-en đã lên tới cực độ, Ta sẽ không rút lại bản án.
Vì chúng bán người công chính để lấy tiền,
bán kẻ nghèo khổ với giá một đôi giày. (Am 2,6)
Vào một mùa hè nọ, vua Duy Tân ra biển Cửa Tùng nghỉ mát. Một hôm, ông vua thiếu niên từ bãi tắm chạy lên với hai bàn tay lấm lem đất cát. Quan thị vệ mang thau nước đến cho vua rửa tay. Vua hỏi: tay bẩn thì lấy nước để rửa, rứa nước bẩn lấy chi mà rửa? Ông quan thị vệ bối rối, không biết trả lời thế nào. Vua liền nhấn giọng: “Nước bẩn thì lấy máu mà rửa !”.
Quả thật, trong nỗi đau mất nước và với khẩu khí của một vị vua, Duy Tân đã đọc ra được quy luật chiều sâu của cõi nhân sinh. Khi mà tính ác đã thấm nhiễm “toàn thân”, khi mà “chất nước” đã ô uế, khi mà vận mạng “nước non” đã lâm nguy, khi mà xã hội con người bị điều kiển do qui luật cạnh tranh, khi mà bản tính nhân loại đã bị dìm trong biển tội luỵ thì không có gì có thể sửa chữa được nếu không phải là máu.
Máu là sự sống, lấy máu mà rửa tức là hy sinh chính sự sống. Nẻo đường chân lý của thế giới nhân loại chỉ còn có thể tìm thấy được qua dấu máu.
4.3 Chiến lược “Thua để thắng”
Chuyện cổ tích, trong đó có qui luật “ở hiền gặp lành” và kết luận “có hậu”, thực ra chính là niềm mơ ước muôn đời của con người. Thật ra, chiến thắng của nhân nghĩa không phải là chiến thắng ở bên ngoài, không phải là chiến thắng thể lý, nhưng là chiến thắng của giá trị nhân sinh chân chính và chân chính trong từng bước vận hành của lịch sử.
Thiên Chúa của Sách Thánh là Thiên Chúa ba lần thánh, nhưng đồng thời là một Thiên Chúa dấn thân vào dòng lịch sử của nhân loại. Ngài là Thiên Chúa của Lời Hứa, Thiên Chúa của Giao Ước, Thiên Chúa hay ghen, Thiên Chúa nhập thể, và là vị Thiên Chúa dám trao phó chính Con Một Yếu Dấu của Ngài cho con người. Sự thánh thiện của Thiên Chúa không chỉ hàm nghĩa tách biệt, nhưng còn hàm chứa thái độ nhập cuộc và nhập cuộc sâu xa. Một Thiên Chúa càng thánh thiện lại càng nhập cuộc; và càng nhập cuộc lại càng biểu lộ sự thánh thiện tuyệt vời hơn. Một Thiên Chúa trong đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng lại lãnh nhận hết những hậu quả của tội và chết như một tội nhân. Có lẽ con đường yêu thương luôn phải được khởi đầu từ cánh cửa liên lụy. Chính vị Thiên Chúa ấy chứ không phải một vị thần nào khác đã đi vào chiến cuộc cùng với con người. Vận mạng sống còn của con người cũng chính là cuộc chiến mà Chúa đã đảm nhận.
Những một Thiên Thiên Chúa ba lần thánh thì không thể giao tranh với Satan bằng “luật chơi” của Satan. Một Thiên Chúa toàn năng thì không thể biểu lộ thứ quyền lực thống trị; một Thiên Chúa toàn trí thì không thể áp dụng một phương cách lừa đảo; một Thiên Chúa yêu thương thì không thể có hành động ngầm chứa thù hằn. Một Thiên Chúa ba lần thánh thực hiện ơn cứu độ con người bằng một sự sống tinh tuyền không vương mầu sự chết, bằng một tình yêu thuần khiết không vướng mùi ghen ghét.
Sự sống tinh tuyền của Thiên Chúa biểu lộ trong hình hài một hài nhi bé nhỏ, trong nếp sống mộc mạc tại Na-gia-rét, trong hành trình thập giá đầy nhẫn nhục và trong sức sống nhẹ nhàng mà mạnh mẽ sau biến cố Phục Sinh
Tình yêu thuần khiết của Thiên Chúa biểu lộ trong trong tấm lòng nhân từ với những người đau khổ, bệnh tật và tội lỗi; trong sự hạ mình rửa chân cho môn đệ, trong lời tha thứ trên thập giá cho những người bách hại mình...
Đường lối cứu độ ấy không phải là mắc mưu của Satan để dùng bạo lực chống bạo lực, và bạo lực có thể lây lan; không thể nào biến tình yêu bị chối tử thành sự trả thù tàn bạo. Đường lối ấy, một cách nào đó, chỉ có thể là chiến lược “thua để thắng”.
Có thể nói sơ đồ chiến lược của Thiên Chúa là :
Quyền lực – Bất lực – Quyền năng
Trong trận chiến với tên đầu mục của thế gian, Thiên Chúa chọn phương thức đối diện với quyền lực bằng sự bất lực; và ở tận cùng của sự bất lực, Ngài làm nổi bật quyền năng, thứ quyền năng có khả năng hoá giải quyền lực từ bên trong.
Người Roma có câu cách ngôn : kẻ thắng cuộc sẽ học lại văn hóa của người thua cuộc. Quả thật đây là quy luật phổ biến của lịch sử nhân loại. Đó là một thực trạng bi đát của kiếp người, là nghịch lý của cuộc sống trần gian. Kẻ hung tàn thường có khả năng thắng cuộc. Kẻ thắng cuộc hung tàn xâm chiếm người thua cuộc có văn hóa, giống như người bệnh nuốt lấy phương dược chữa trị vào lòng mình... để rồi được chữa trị nhờ chính văn hóa của người thua cuộc. Tính chất "thắng xuôi, thua ngược" vẫn là vận hành của lịch sử nhân loại, một lịch sử của tội lỗi và ân phúc, một lịch sử mà tình yêu và điều thiện luôn phải/được đi vào nẻo đường liên lụy khổ đau để mở ra chân trời hạnh phúc. Chỉ có con đường ấy, tình yêu mới chiến thắng mà không vương thù hận, sự thiện mới trở nên toàn vẹn tinh tuyền chứ không vương vấn tính ác... Sự thiện ấy và tình yêu ấy được thanh luyện trong "lửa liên lụy" để chứng thực không phải là hàng mã nhất thời.
5. Đi trọn hành trình vượt qua
Lịch sử ơn cứu độ gắn liền với hai cuộc Vượt Qua, cuộc Vượt Qua Biển Đỏ và cuộc Vượt Qua trong cái chết và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Vượt Qua nghĩa là một bước nhẩy, nhẩy từ tình trạng này, bình diện này, đến bình diện khác, đến một tình trạng khác. Vượt Qua không phải chỉ là chuyện thuần túy nhà đạo. Sách Thánh và bản chất Do Thái Kitô giáo gắn liền với lịch sử, lịch sử đời, lịch sử của một Dân tộc và chính lịch sử ấy được "thánh hóa". Phẩm chất căn bản của đức Tin trong truyền thống Do Thái Kitô giáo chính là : sống lịch sử đời thường như một lịch sử ơn cứu độ. Do đó, ý nghĩa vượt qua, dưới ánh sáng đức Tin, thật sự cũng chính là chiều sâu của lịch sử đời thường và chiều sâu của cả lịch sử nhân loại.
Đời người luôn luôn là một cuộc “vượt qua”; vượt qua từ tương đối tới tuyệt đối, vượt qua từ cái tôi nhỏ hẹp đến cái “chúng ta”, vượt qua từ việc vun quén những thoả mãn cho mình đến một sự thoả lòng của cả phận người... Dân Israel đã vượt qua từ bên này Biển Đỏ đến bên kia Biển Đỏ, nghĩa là vượt qua từ tình trạng nô lệ đến tình trạng của dân tự do;... Sau khi nguyên tổ phạm tội, nẻo đường duy nhất để con người có thể tìm lại thiên đàng đã mất chỉ có thể là nẻo đường vượt qua.
Lịch sử nhân loại chỉ có thể được "giải quyết", được khai mở nẻo được gỉai thoát khi bước vào hành trình Vượt Qua, và được gắn liền với cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu Kitô. Tất cả đều là một cuộc vượt qua từ cái chết đến sự sống, thông qua một công thức nghịch lý “chết đi để được sống”.
Biến cố đức Giêsu chịu chết vào dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái chính là một cuộc Vượt Qua mới, hoàn tất trọn vẹn hành trình Vượt Qua của Dân; và cũng là hoàn tất trọn vẹn hành trình vượt qua của cả nhân loại. Biến cố ấy là một cuộc Vượt Qua từ Chết đến Phục Sinh, mà trung tâm điểm là Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô.
Chết-Phục Sinh không phải là hai mầu nhiệm kế cạnh nhau, nhưng là một mầu nhiệm duy nhất. Mầu nhiệm Vượt Qua có "hai mặt", chết và phục sinh, sự sống trong đau thương và và sự sống viên mãn, thua cuộc và chiến thắng, tủi nhục và vinh quang. Tin Mừng Gioan lại trình bày sự duy nhất, duy nhất biện chứng, của thập giá : chính trên thập giá lại là giờ vinh quang.
Điều đó có nghĩa là hành trình đời người không còn có thể tránh né đau khổ. Con người chỉ còn con đường hoàn thành vận mạng của mình nhờ đón nhận đau khổ của đời mình như "vác thập giá theo chân Chúa". Khi gặp đau khổ, điều không thể né tránh được nữa, con người vẫn có thể nói tiêng "xin thôi" hoặc nói tiếng "xin vâng". Nói tiếng "xin thôi" là tiếp tục tìm cách riêng của mình để tránh né đau khổ, tiếp tục tìm cách riêng của mình để nhặt nhặn vài món đồ tàn dư sau cuộc chiến; là dứt khoát tìm cách cứu chữa đời mình ở bình diện vật lý, hoặc bình diện chính trị đời thường. Nói tiếng "xin vâng" khi người ta gắn liền ý nghĩa cuộc chiến đời mình với cuộc vượt qua cùa đức Giêsu Kitô; nghĩa là đón nhận những tranh chấp, chiến tranh đau thương của cuộc đời trong thái độ của niềm tin.
Nểo đường vượt qua là một cách nói kiểu thần học về chiến lược "thua để thắng". Đức Giêsu đã đi vào cuộc chiến như một người thua cuộc. Đức Giêsu chịu chết nhục nhã trước sức mạnh của bạo tàn, của gian dối, của những trò chính trị. Thế nhưng cuối cùng thì sự sống thuần khiết của đức Giêsu sau Phục sinh đã chinh phục thế giới. Một tình yêu dám hy sinh mạng sống mình trở thành một sức mạnh để chinh phục tâm hồn con người. Quyền năng phát sinh từ sự sống chân chính không phải như một mãnh lực mù quáng, không phải là một phương thức đối đầu, không phải như một sự trả thù; không phải là một sức mạnh tàn phá... mà là một sự sống chân chính, âm thầm lớn mạnh, kiên trì trước mọi thử thách, như một sự "trưởng thành" đích thực của một sự sống đích thực.
Sự sống mới nơi đức Giêsu thật sự tinh tuyền, không mang một chút phẩm tính sự chết. Sự sống ấy có thể bị đe dọa và bách hại nhưng không đe dọa và bách hại ai, trừ ra là những người "thần hồn nát thần tính". Ngược lại, chính cái chết của những Kitô hữu đầu tiên lại còn trở nên chứng tá rõ rệt hơn của sự sống không gì có thể tiêu diệt được.