Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 5
Trọng tâm của lịch sử nhân loại nằm ở đâu ? Những chủ thuyết chăng ? Những thành đạt khoa học chăng ? Những nhân vật ưu tú lưu danh trong sử xanh chăng ? Trọng tâm của lịch sử là con người !
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Trọng tâm của lịch sử nhân loại nằm ở đâu ?
Những chủ thuyết chăng ?
Những thành đạt khoa học chăng ?
Những nhân vật ưu tú lưu danh trong sử xanh chăng ?
Trọng tâm của lịch sử là con người !
Không phải những con người trừu tượng của một học thuyết.
Những học thuyết phải dựa trên thực tại.
Không phải những cá nhân thành đạt.
Những con người thành đạt sẽ qua đi.
Không phải những vị lãnh đạo tài đức.
Đóng góp của những nhà lãnh đạo tài ba tất sẽ nhạt nhoà.
Trọng tâm của lịch sử nằm ở phận người !
Người nghèo vẫn còn mãi và vẫn là lời chất vấn căn bản của lịch sử.
Những nỗi oan khiên của phận người không trôi đi, không nhạt nhoà...
Oan khiên của phận người cô đọng hơn, se sắt hơn, sôi sục hơn... qua dòng thời gian...
Oan khiên của phận người càng ngày chồng chất như một kho thuốc nổ.
Không một phương cách nào có thể gỡ ngòi nổ để vùi lấp kho thuốc nổ ấy.
Không một nhân vật nào được quyền đứng trên nấm mồ oan khiên của lịch sử
để vỗ ngực tự hào về thành tích của mình !
Trọng tâm của phận người nơi đáy dòng sông lịch sử ấy
chỉ có thể tìm lại được ngõ mở để giải phóng năng lực,
trong một ý nghĩa chân thực nguyên sơ của sự sống :
tình yêu tha thứ !!!
Sự chết chỉ có thể được vượt qua bằng sự sống dám dâng tặng !
Tính ác chỉ có thể được hoá giải bằng tình yêu, yêu đến cùng !
Lộ trình chân lý ấy chung đúc nên tên gọi của mình : Tử Đạo.
Bài V Tử Đạo, tìm lại nguồn mạch chứng tá
1. Thăng trầm của khái niệm chứng tá
Có lẽ người ta thường cho rằng, trong khi nhân loại còn chưa có được nhiều những phương cách kiểm nghiệm của lý trí và những phương pháp khoa học, thì yếu tố “làm chứng” mới được coi như điều cần thiết để người khác có thể nhìn nhận sự thật. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như thế. Trước tiên bởi vì việc minh chứng bằng lý trí hoặc kiểm chứng bằng khoa học chỉ có thể thực hiện được với một số sự kiện nào đó. Thế mà, chẳng những trong cuộc sống con người có vô số những điều không thể kiểm chứng được bằng phương cách như thế; nhưng hơn nữa, đối với những điều trọng yếu nhất của cuộc sống con người, như lòng tin tưởng, tình yêu, sự hiệp thông, cũng như bao nhiêu điều ẩn chứa trong cõi lòng con người… lại luôn là những điều không thể minh chứng. Đối với những sự kiện độc nhất vô nhị, đối với những con người vốn là những hữu thể vốn độc nhất vô nhị và sâu thẳm khôn lường, nhất là đối với một Thiên Chúa mà bản chất của Ngài là siêu việt, thì chứng tá chính là một đường lối thông truyền chân lý đúng đắn nhất.
Với người tín hữu, chúng ta cần ghi nhận sự kiện này, đó là trong khi thế giới càng ngày càng phát triển về mặt khoa học, và không ít người Kitô hữu vì thế mà cảm thấy đức Tin bị đe doạ, thì ý thức của Giáo hội nói chung lại càng ngày càng nhận ra tầm quan trọng cũng như tầm giá trị cao quí của khái niệm chứng tá, đến độ ta có thể nói Kitô giáo chính là tôn giáo của niềm tin và của chứng tá.
2. Truyền thống Sách thánh
Trong truyền thống Sách thánh, chứng tá là một khái niệm quan trọng. Từ trong Cựu ước, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của việc làm chứng của con người. Tuy nhiên, chúng ta biết lời chứng của con người luôn có nguy cơ sai lạc, vì sự dối trá. Tác giả Thánh vịnh cho thấy nhiều người công chính bị hàm oan do những thứ làm chứng dối :
“Xin đừng phó mặc con cho kẻ thù hung hãn,
vì lũ chứng gian đứng dậy tố con,
giương bộ mặt hằm hằm sát khí”.(Tv 27,12. Xc. Tv 35,11…)
Từ khi có giao ước Thập giới, lời chứng dối bị lên nghiêm cấm nặng nề (xc. Dnl 5,20) và bị coi như điều Thiên Chúa ghê tởm (xc. Cn 6,19)… Hơn nữa, trong Sách thánh, ta thấy chính Thiên Chúa cũng “đứng ra” để làm chứng. Thiên Chúa làm chứng cho những giao kèo giữa con người với nhau, giao ước hôn nhân, hoặc những thứ giao kèo khác (Xc. St 35,53 tt; Gr 42,5…) và chính Thiên Chúa tự làm chứng bằng cách công bố “tên” của Ngài và bằng những sự kiện chứng thực được bằng kinh nghiệm của con người để có thể bảo đảm cho giao ước, cho quyền năng và cho giáo huấn Ngài ban cho Dân…
Trong Tân Ước, ta thấy khái niệm lời chứng vượt qua mức độ luật pháp, đạt đến thái độ luân lý và mức độ tôn giáo. Khi ta biết một người nào là tốt lành thì làm chứng cho người ấy, như thái độ của người Do thái với đức Giêsu (x. Lc 4,12); đối với Cornelio (x. Cv 10,22); hoặc thái độ của cộng đoàn tiên khởi đối với các phó tế tiên khởi (X. Cv 6,3)… Cuối cùng thì Sách thánh cho thấy chính đức Giêsu là nhân chứng trung thành tuyệt hảo :
“Xin Đức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta,…”(Kh 1,5. Xc Kh 3,14)
Nếu như trong Nhất lãm và sách Tông Đồ Công Vụ, sứ mệnh loan báo Tin Mừng là mệnh lệnh ưu tiên số một, các phép lạ kèm theo là để làm chứng cho lời rao giảng, thì trong Gioan cũng như trong thánh Phaolô, việc làm chứng trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Tin Mừng Gioan cho thấy Chúa Cha làm chứng cho đức Giêsu; bản thân đức Giêsu là Lời Chứng, lời nói và hành động của đức Giêsu cũng là lời chứng. Ngài làm chứng về những gì đã nghe và thấy nơi Chúa Cha (xc. Ga 3,11.32); làm chứng cho chính Chúa Cha (Xc. Ga 5,31t.37t); Người làm chứng chống lại thế gian (Xc. Ga 7,7)…. Trong lời khẳng định trước mặt Philatô, đức Giêsu tỏ bày mục đích nhập thể của Ngài là để làm chứng cho chân lý :
“Ông Phi-la-tô liền hỏi : "Vậy ông là vua sao ?" Đức Giê-su đáp : "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi."(Ga 18,37)
3, Truyền thống triết lý và khoa học Tây Phương
Trong khi đó, trong truyền thống văn minh Hy La và thế giới Tây phương lại biểu lộ một sự coi thường đối với sự hiểu biết bằng chứng tá, dựa trên niềm tin tưởng. Trong hệ thống siêu hình của mình, Platon đề cao lối tri thức bằng toán học và biện chứng pháp, vì đó là những loại tri thức không cần tới chứng cứ của cảm giác để đạt tới những chân lý tự nội, tức là đạt tới những hữu thể thuần khiết trong “ý giới”. Tri thức đích thực đối lập với cảm giác và với các ý kiến. Tri thức luận của Aristote vẫn không vượt qua được cái bóng của thầy Platon và chủ trương một sự hiểu biết khoa học phải là tri thức cái cái phổ quát như một điều tất yếu; hơn nữa, còn cần phải biết vì sao đó là điều tất yếu…
Từ những bậc thầy trong lịch sử triết học như thế, người ta thấy một khao khát sâu xa trong tâm thức người Hy lạp, khao khát một sự hiểu biết có tính khoa học (episteme). Khao khát ấy chi phối mạnh mẽ suốt dòng lịch sử triết học Tây phương. Ngay trong thời Trung cổ, với các triết gia thuộc về tôn giáo mạc khải như Avincenne (980-1036), Averroès (1126-1198) trong Hồi giáo; hoặc Berenger de Tours (999-1088), hay Roger Bacon (1214-1294) trong Kitô giáo, người ta vẫn thấy ít nhiều có khuynh hướng đề cao một sự hiểu biết hợp lý của lý trí hay bằng phương pháp khoa học hơn các loại hiểu biết khác. Trong thời cận đại, thời của lý trí, và nhất là trong thế kỷ XIX, thời đại của khoa học thực nghiệm, thì dĩ nhiên, đường lối nhận thức của ưu tiên nơi hầu hết các triết gia Tây phương, cả trong học thuyết duy lý lẫn duy nghiệm, dành một sự suy tôn tuyệt đối đối với phương cách nhận thức bằng lý trí và bằng phương pháp khoa học. Đặc biệt, với Auguste Comte (1798-1857) và học thuyết tam trạng (giai đoạn tôn giáo nhường bước cho giai đoạn triết lý; rồi giai đoạn triết lý lại phải nhường bước cho giai đoạn khoa học), thì những loại tri thức bằng niềm tin, bằng chứng tá dường như đã bị lên án tử.
Dĩ nhiên, trong trào lưu của văn minh hiện đại, khi mà não trạng suy tôn khoa học vẫn còn thống trị trong đại đa số con người hiện đại, và khi mà những phương cách kiểm nghiệm khoa học tìm được nhiều cách thức kiểm chứng rõ rệt, khoa học, thì thứ hiểu biết bằng chứng tá bị coi thường, gắn liền với thứ hiểu biết mơ hồ, đầy nguy cơ lầm lạc ….
Sự trái ngược giá trị của khái niệm chứng tá cho thấy một sự khác biệt sâu xa giữa hai hệ thống giá trị khác nhau, và điều đó chắn chắn không phải là vấn đề nhỏ trong việc sự sống và trong sức sống của đức Tin. Quả thật, đằng sau những vấn đề trọng yếu của đức Tin, phẩm chất của đức Tin, việc loan báo Tin Mừng,… có một vấn đề có vẻ thuộc về lãnh vực phương pháp, nhưng lại dính dáng sâu xa đến phẩm chất của đời sống đức Tin Kitô giáo, vấn đề chứng tá. Không nhận ra ý nghĩa cũng như tầm mức quan trọng của chứng tá, người Kitô hữu có thể bị lạc bước trong phẩm chất sự sống đức Tin, lạc điệu trong việc loan báo Tin Mừng …
4. “Phẩm giá” của chứng tá
Từ những phân tích của Paul Ricoeur, người ta có thể thấy ba ý nghĩa của chứng tá. Trước tiên, chứng tá mang một ý nghĩa là sự tường thuật điều mà người ta nhìn tận mắt, nghe tận tai, hoặc điều gì gần như thế, về một sự kiện hoặc về một câu chuyện. Ý nghĩa thứ hai mang tính luật pháp, khi người ta là nhân chứng trong một vụ kiện, nhằm để ủng hộ một bên nào đó. Ý nghĩa thứ ba mang tính đạo đức, nó bao hàm một sự xác tín nội tâm của chính người làm chứng, và một sự dấn thân vào cuộc của chính bản thân người làm chứng, đến độ người đó có thể liều cả mạng sống mình để làm bảo chứng cho điều mình xác tín. Nếu cộng cả ý nghĩa thứ nhất và ý nghĩa thứ ba, và đôi khi cả ý nghĩa thứ hai nữa, chúng ta có được điều được diễn tả trong từ ngữ tử đạo (martyr), nghĩa là làm chứng một cách trịnh trọng và trọn vẹn. Đó chính là phẩm chất trọn vẹn nhất của đời sống đức Tin Kitô giáo.
Ý nghĩa chứng tá như thế biểu lộ một đẳng cấp tương giao đúng với phẩm giá con người. Con người được Thiên chúa sáng tạo nên để sống-với, sống với Chúa và sống với nhau. Ý nghĩa sống-với không phải chỉ là một phần nhỏ trong hành trình đời người, nhưng nằm trong nền tảng của hữu thể người và là phẩm chất chính yếu của hiện sinh con người. Con người chỉ là mình trong tương quan, và tương quan ở mức độ phẩm giá con người chính là mối tương giao dính dáng đến bản thân chứ không phải chỉ là những gì liên quan đến sự vật (hiểu như là những gì có thể tách biệt với chính bản thân, như tài năng, sắc đẹp, đức độ,…và dĩ nhiên là tiền tài, địa vị…). Trở nên chứng nhân, nghĩa là từ bỏ thái độ của một người đứng bên lề cuộc đời, nghĩa là chọn thái độ dấn thân, và đây không phải là dấn thân vì cái gì mà là dấn thân vì ai khác. Tha nhân không phải là một đối tượng khách quan mà người ta có thể thấu triệt bằng khảo sát khoa học, bằng kiến thức, hay bằng lý chứng của triết học. Tha nhân là một huyền nhiệm mà người ta chỉ có thể đạt đến được trong thái độ rộng mở chính bản thân của mình để đón nhận, trong kinh nghiệm cụ thể, trong hành trình dấn thân.
Mối tương giao ấy vượt trên sự hiểu biết thuần lý trí, vượt trên cách cư xử đúng đắn khách quan của lễ nghĩa, vượt trên mức độ “sống đúng” của người chính nhân quân tử… Chỉ trong đẳng cấp sống-với, con người mới tìm thấy chân trời rộng mở để có thể đạt đến ý nghĩa trọn vẹn của tình yêu :
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. (Ga 15,13)
Thực sự đức tin của người Kitô hữu không phải là một thái độ do cá nhân tự lựa chọn; và nội dung đức Tin không phải do người Kitô hữu sáng tạo ra. Từ cội nguồn, đức Tin là một sự lãnh nhận, cả sự sống đức Tin cũng như nội dung của đức Tin cũng đều là được lãnh nhận. Tuy vậy, phẩm chất của đức Tin lại không phải đơn giản là một sự nắm bắt các chân lý khách quan bằng lý trí, cũng không phải đơn giản là một sự thông truyền các tư tưởng khách quan, mà chính là một dòng sự sống được trao ban và lãnh nhận, được nhào nặn và thấm nhuần, được sáng tạo và lại được trao lại cho anh chị em của mình. Cái duy nhất của đức Tin được thể hiện trong cái đa phức trong mỗi cá nhân mà không mất đi tính duy nhất mà cũng chẳng làm khô héo cái đa phức. Đức Tin trong dòng sức sống chính là một sự lãnh nhận (thụ động) một cách đầy tính chủ thể (chủ động). Tin là tự hiến mình để cho chân lý của Chúa được tỏ hiện, để cho bản thân mình được nhào nặn trong chân lý và tỏ hiện trong nét đa dạng phong phú khôn lường mà vẫn nằm trong một dòng sự sống duy nhất.
“Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. (Ga 17, 17-19)
Do đó, cái duy nhất của chân lý trong nội dung “chúng tôi tin” không làm giảm nhẹ cái chứng tá đặc thù của “tôi tin” và ngược lại. Ý nghĩa chứng tá là một khái niệm trọng tâm để diễn tả dòng sức sống ấy. Chúng ta có thể thấy rõ ý nghĩa căn bản này trong quan niệm và linh hứng Thánh kinh Công giáo, theo đó, các thánh ký, cá nhân hay tập thể, không phải chỉ là những người thụ động ghi chép chân lý mặc khải một cách khách quan, nhưng là “người” sống và tường thuật lại chính kinh nghiệm đức Tin của mình để làm chứng cho Chúa. Từ hành vi đơn giản của sự sống đức tin như làm dấu, cho đến việc làm thần học, với những khám phá lại đường nét căn bản của nội dung đức tin, tất cả đều thiết yếu là tìm về một kinh nghiệm đức Tin mang tính cá nhân, một thứ kinh nghiệm rộng mở bản thân mình cho chân lý của Chúa, thứ kinh nghiệm có khả năng đưa tới hành động chia sẻ đức Tin, hoặc như một xác tín cá nhân, hoặc như một sự khởi đầu của hành trình khám phá lại nét phong phú của đức Tin (làm thần học) ….
5. Sức sống đức Tin như một dòng chứng tá
Người ta có thể thấy một sự chuyển biến ý nghĩa sâu xa từ Vatican I đến Vatican II. Trong khi Vatican I coi Giáo hội, với những phẩm chất như duy nhất, thánh thiện, vững chãi, rộng khắp, phong phú, như là một dấu chỉ bày tỏ trước mặt muôn dân, thì Vatican II lại tìm phương cách nhân hoá và nội tâm hoá dấu chỉ Giáo hội và luôn nói tới “chứng tá của các kitô hữu”. Chính những người Kitô hữu với đời sống thánh thiện và những cộng đoàn Kitô hữu, với đời sống hiệp nhất và yêu thương, mới biểu lộ rõ rệt “dấu chỉ Hội thánh”. Từ Vatican II, dấu chỉ Hội thánh được quy chiếu một cách thiết yếu vào phạm trù chứng tá. Trong các hiến chế cũng như trong các tuyên ngôn và sắc lệnh của Vatican II, người ta thấy khái niệm chứng tá trở nên đầy tràn, phong phú trong mọi khía cạnh… Sau Vatican II, đặc biệt trong tông huấn của Kitô hữu giáo dân của đức Gioan Phaolô II, phạm trù chứng tá vẫn là một trục chính của việc loan báo Tin Mừng.
Việc khám phá lại ý nghĩa của phạm trù chứng tá không phải chỉ là một sự đổi mới để thích nghi mà là một sự đổi mới nhờ biết trở về nguồn. Ý nghĩa ấy nằm trong mối liên hệ hữu cơ với những đổi mới khác về ý nghĩa đức Tin.
Trong lịch sử việc loan báo Tin Mừng của Giáo Hội, không có thời gian nào đẹp và mang dáng dấp một cuộc loan báo Tin Mừng chân chính cho bằng ba trăm năm đầu của Lịch sử Giáo Hội. Trong thời gian này, lựa chọn niềm Tin là một thách đố liên can đến chính mạng sống và chứng tá của các Kitô hữu bị bách hại lại chính là hạt giống làm trổ sinh đức Tin Kitô giáo. Trong thời gian này, sức mạnh chính yếu của việc loan báo Tin Mừng hoàn toàn dựa vào quyền năng Chúa nơi sự sống và những giá trị chân chính của Tin Mừng, chứ không phải dựa vào một thế lực chính trị hoặc văn hoá của một lục địa nào. Trong thời gian này, toàn thể Giáo hội, với tất cả mọi thành phần, đều đi vào một cuộc loan báo Tin Mừng chứ không phải dồn nỗ lực vào việc “củng cố nội bộ”.
Những Kitô hữu đầu tiên đã sống Tin Mừng như một lựa chọn liên hệ đến tất cả cuộc sống, liên hệ đến mạng sống và đối diện với cái chết. Quả thật, chính khi phải đối diện với những đợt bách hại của đế quốc Rô-ma, Tin Mừng của Chúa Giêsu thể hiện, không phải chỉ là một sinh hoạt song song, bên lề cuộc sống, nhưng chính là căn tính của toàn bộ đời sống. Đức tin ấy được đặt trong bình diện sống-chết, và lựa chọn đức tin chính là lựa chọn một ý nghĩa chính yếu của của toàn bộ cuộc sống, có khả năng đối diện và vượt qua được cả cái chết.
Do đó, trong suốt 300 đầu của lịch sử Giáo hội, “tử đạo” luôn là nguồn sức sống căn bản của đời sống và cũng là chứng tá hiển nhiên nhất của đời sống đức tin Kitô giáo. Chứng tá tử đạo đã chinh phục được nhiều tâm hồn cho đức Giêsu. Origène đã xin lãnh bí tích Rửa tội khi chứng kiến thân phụ chịu tử đạo; còn Tertuliano thì nói rằng : “Các vị càng tiêu diệt chúng tôi, chúng tôi càng gia tăng” . . . vì “máu tử đạo là hạt giống trổ sinh Kitô hữu”. Thánh Justino, trong tác phẩm Apologie, đã kể lại tâm trạng của mình như sau : “Khi tôi còn là môn đệ của Platon, tôi tin vào những cáo buộc chống lại người Kitô hữu; nhưng khi nhìn thấy các người Kitô hữu cam đảm trước cái chết là điều mọi người sợ, tôi tự nhủ rằng họ không thể làm điều xấu và sống trong đam mê khoái lạc được”.
Quả thật, tự căn bản, đức tin không phải là một sinh hoạt bên lề của đời sống. Khi người ta muốn tìm một cuộc sống dễ dãi, khi đức tin chỉ là một cách thế sống khác chứ không phải cách thức căn bản, khi người ta tìm cách thể hiện đức tin của mình một cách “luồn lách”, tính toán sao cho đòi hỏi của đức tin càng ít có những hệ luỵ tới đời sống hàng ngày càng tốt, thì khi ấy đức tin ấy cũng chẳng còn có giá trị chứng tá. Đức tin trở thành nhạt nhẽo và vô bổ, trở thành dư thừa và vướng víu. Chính điều ấy làm mất căn tính của đời sống đức tin và cũng làm mất đi động lực Loan báo Tin Mừng.
Đức tin là một lựa chọn căn căn bản của tất cả đời sống Kitô hữu. Người Kito hữu cần thẳng thắn nhìn nhận vận mạng của người sống giá trị Tin Mừng luôn giống như “chiên con đi vào giữa bầy sói” {Lc 10,3}. Người Kitô hữu, dầu không luôn là những mẫu gương đạo đức và Kitô giáo cũng chẳng phải là một chủ trương duy đức, nhưng luôn luôn vẫn hiệp thông với cộng đoàn các phúc nhân trong nỗ lực làm men làm muối cho đời. Đó là trách nhiệm không thể thoái thác của mọi Kitô hữu, trách nhiệm sống niềm tin chân chính của mình và trở nên nhân chứng cho Nước Trời.
Bài VI Tử đạo trong bối cảnh thế giới ngày nay
1. Tử Đạo dưới mắt con người ngày nay
Con người ngày nay có còn ai dám đi vào nẻo đường tử đạo nữa không ? Tại sao tử đạo lại có nguy cơ trở thành “chuyện cổ tích” với những con người ngày hôm nay ? Ý nghĩa nào của hành trình tử đạo, hoặc nói cách khác, linh đạo tử đạo vẫn còn giá trị nơi con người ở thế kỷ XXI này không ?
1.1 Thúc bách xô bồ của cuộc sống
Thế giới ngày hôm nay là thế giới tiêu thụ. Mỗi ngày chúng ta được/bị nghe, nhìn biết bao nhiêu quảng cáo. Có quá nhiều nhu cầu được tạo ra do thế giới quảng cáo ! Có nhiều chuyện bình thường đã được thế giới quảng cao nâng cấp trở thành nhu cầu của cuộc sống ! Quá nhiều những nhu cầu nhỏ nhặt đã được thế giới quảng cáo nâng lên thành nhu cầu lớn ! và cả quá nhiều những điều nguy hại đã được tôn lên thành giá trị thời thượng, giá trị đẳng cấp… Biết bao nhiêu sự vật được con người sử dụng như phương tiện để có một cuộc sống dễ dàng hơn, nhưng cuối cùng con người lại bị nô lệ cho những chính sự vật ấy. Tâm trí của con người bị chi phối, hoặc bị quy định do quảng cáo. Hành trình làm người bị quá nhiều áp lực xô bồ.
Có quá nhiều thứ rình rập để đi vào tâm thức chúng ta như một đòi hỏi tuyệt đối, không có không được, bất cứ giá nào phải đạt được, chúng trở thành điều chính yếu để một con người hiện hữu trước người khác… Một chai dầu gội đầu, một chiếc váy thời trang cũng có thể làm cho con người lịch lãm hơn và người ta không thể thiếu được nó… Một thứ chủ nghĩa tuyệt đối giả tạo đã thay đổi “lập trình nền tảng” trong tâm hồn con người.
Dứt khoát phải có tiền ! Phải thành công bằng mọi giá ! phải chiến thắng trong cuộc cạnh tranh ! Không thể chấp nhận tình trạng này ! … Một thứ chủ nghĩa tuyệt đối giả tạo đang lên ngôi trong tâm hồn con người…
Con người bị cuốn vào vòng xoáy của những nhu cầu, nhưng nhu cầu do sự so sánh bên ngoài mà ra chứ không phải do tự khát vọng chân thực từ bên trong. Đây là đường lối của “phàm nhân”.
1.2 Lời thầm thì của chủ nghĩa tương đối
Thế giới tiêu thụ của kinh tế đã tạo ra quá nhiều sản phẩm tuyệt đối giả tạo. Thế giới chính trị được tô vẽ bằng quá nhiều ngôn từ đao to búa lớn. Thế giới tình yêu như một ảo ảnh muôn đời dụ dỗ kiếp nhân sinh.. …. Đây lại là một phản ứng đầy minh triết đối nghịch với nẻo đường “phàm nhân”.
Mọi thứ đao to búa lớn, mọi thứ linh thánh huyền nhiệm, mọi thứ cao sang phú quý… rồi cũng có lúc trở thành nhàm chán. Không có gì quan trọng, không có gì lớn lao, không có gì cần thiết tuyệt đối cả… mọi sự đều phải đến lúc tàn lụi… Từ một thái cực khác phản ứng lại thứ chủ nghĩa tuyệt đối giả tạo, chủ nghĩa tương đối trở nên thời thượng. Con người thất vọng về những thứ bánh vẽ tuyệt đối và tìm đến chủ nghĩa tương đối như môt thái độ minh triết.
Thái độ tương đối mang dáng vẻ minh triết biết bao khi mà, một lúc nào đó ta ham thích nóng bỏng về một chiếc điện thoại nhiều chức năng, rồi chẳng mấy chốc ta lại thấy nó cũng chẳng có gì quan trọng; một lúc nào đó, ta thấy mình đang chìm ngập trong niềm vui của một cuộc họp mặt huynh đệ, chén thù chén tạc trong sự ngây ngất của tình nghĩa anh em; rồi một lúc nào khác, ta lại ngầm ngùi nhận thông báo về người anh em nối khố đã từ giã cõi đời; khi mà, một lúc nào đó, ta say sưa theo đuổi một lý tưởng cao quý, rồi một lúc nào đó, ta lại thấy có xoay xở mấy cũng chẳng đi đến đâu; …
Sách Giảng Viên nói : ” 8 Chuyện gì cũng nhàm chán, chẳng thể nói gì hơn. Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới.9 Điều đã có, rồi ra sẽ có, chuyện đã làm, rồi lại sẽ làm ra : dưới ánh mặt trời, nào có chi mới lạ ?” (Gv 1,8)
Vòng thời gian của con người ngày hôm nay như xoay vần mau hơn. Những tiến bộ quá mau và những thôi thức phải hợp thời đã gia tăng mã lực cho bánh xe thời gian thật nhiều. Túi thời gian của nhân loại đã được đổ quá đầy những sự kiện, và những sự kiện ấy hối thúc bước chân con người. Hành trình đời người không còn là nẻo đường để đi mà là vòng đua để chạy. Đặt mình trong dòng biến chuyển của thời gian ấy, con người không còn khả năng nếm cảm phẩm tính cuộc sống trong từng bước hành tình mà là đo đếm số lượng những cột mốc đã vượt qua… Cũng chính thứ văn hoá nhanh ấy làm tẻ nhạt cuộc sống và càng gia tăng cảm nhận và sự qua đi, cảm nhận về mọi sự đều có thời của chúng… Ý thức tương đối tìm được một môi sinh lý tưởng để phát triển. Phải chăng đây chính là nẻo đường của những “triết nhân”.
2. Trân trọng hay trầm trọng ?
Có đúng không thế giới hiện nay có quá nhiều những điều trang trọng giả tạo ? La Rochefoucaul nói rằng : trang trọng là một xảo thuật của thân xác được bày ra để cho dấu những yếu đuối của tâm hồn.
Những con người trầm trọng là những con người biến những điều lẻ tẻ trở nên quan trọng quá đáng… Trong thế giới đã có quá nhiều thách đố, người ta không muốn làm trầm trọng thêm bằng bất cứ điều gì. Trong một thế giới đã có nhiều căng thẳng, con người muốn “hạnh phúc” phải biết làm nhẹ vấn đề, làm nhẹ mọi vấn đề… Có không ít những phương thức tìm “hạnh phúc” bằng cách đừng làm cho cuộc đời trở nên trầm trọng; và tìm cách vui hưởng những niềm vui thật, giản dị thôi, nhẹ nhàng thôi...
Cuộc sống thật rõ ràng là một điều bình dị. Rõ ràng là những thứ trang trọng, những thứ “đao to búa lớn” có vẻ như một trò hề… Làm gì phải đau buổn đến thế ? Làm gì phải giận dữ như vậy ? Làm gì phải nghiêm trang như thế ? làm gì phải nghiêm trọng như thế ? Có vẻ như cái nhìn triết nhân nói cho ta thấy mọi sự đe doạ trên cuộc đời ta, thật ra chỉ là một thứ ảo ảnh cho chính tâm ta bày ra. Ta sợ chính mình, ta đấu tranh với chính mình, ta tự biến mình thành kẻ thù, kẻ đe doạ, kẻ xâm lấn chính mình ??? Cái nhìn triết nhân thực sự là cái nhìn thấu triệt chân lý của cuộc đời, hay đó cũng lại là một phương thức làm ảo thuật trên vận hành của cuộc đời ?
Có quá nhiều những sự trầm trọng giả tạo trong thế giới hôm nay, nhưng không phải vì thế mà mọi điều trầm trọng đều là giả tạo. Thật ra, người ta muốn loại bỏ những thứ trầm trọng giả tạo, nhưng không thể loại bỏ được khát vọng nào đó “trầm trọng thực sự” trong đời sống con người.
Có một điều trầm trọng nhất đó là chính sự tôn nghiêm của bản ngã, trầm trọng của chính bản thân, trầm trọng của một vận mạng đời người. Một sự trân trọng bản thân một con người đòi hỏi ta cũng nhận ra một sự trầm trọng của một tình trạng vong thân nào đó. Một con người, bản thân và cuộc đời, dù là một con người bé bỏng hoặc một con người tệ hại thế nào, cũng không bao giờ là một điều gì “nhẹ tựa lông hồng”…
Một đàng, cuộc đời lại không để cho con người được an vui trong sự bình dị thường ngày. Không thiếu trường hợp "cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”. Đàng khác một cuộc đời không có ấn dấu của tuyệt đối sẽ trở nên gánh nặng cho chính chủ nhân của nó. Khi người ta không tìm thấy được một ý nghĩa đủ để dẫn đưa cuộc đời đi cho trọn hành trình, thì người ta sẽ phải kéo lê cuộc đời, cuộc đời là một cuộc “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”.
3. Tử Đạo, dấu ấn của tuyệt đối
Chủ nghĩa tương đối có thể gặp thời khi mà những chủ trương tuyệt đối trở thành lạc hậu. Chủ nghĩa tương đối trở thành một cách sống dễ được chấp nhận trong thời cuộc có quá nhiều thách đố trên hành trình cuộc đời. Nhưng chủ nghĩa tương đối đã giải quyết khó khăn của hành trình bằng cách phá huỷ chính động lực và phá huỷ định hướng của cuộc hành trình.
Một thứ chủ nghĩa tuyệt đối khách quan quá khích khiến cho tha nhân bị đàn áp. Người yêu của tôi phải đẹp nhất, đảng của tao phải hay nhất, tôn giáo của tao phải đúng nhất… và thằng nào không công nhận như vậy thì phải “đánh bỏ mẹ nó”…, những thái độ như vậy tỏ ra quá lạc hậu với tâm thức con người hôm nay. Nhưng chủ trương tương đối hoá mọi thứ thì lại không thể giúp sức cho con người mạnh bước trên hành trình đời người. Chủ nghĩa tương đối biến cuộc đời thành một cuộc dạo chơi, cuộc đời chỉ còn là đi loanh quanh và có thể nghỉ chân ở bất cứ chỗ nào….
Thật ra, khẳng định một chân lý tuyệt đối khách quan không đương nhiên đưa đến một thái độ áp đặt trên người khác. Đúng hơn, một chân lý khách quan và tuyệt đối phải được phản chiếu vào chính khát vọng tuyệt đối nơi tâm hồn con người, một thứ tuyệt đối chủ quan (sự chân nhận giá trị tuyệt đối của chủ thể). Con người chỉ có thể vững bước trên hành trình làm nguời khi ôm ấp một lý tưởng siêu việt trong tâm hồn.
Thứ chủ trương tuyệt đối khách quan luôn mang tính áp đặt người khác nhân danh một chân lý bên ngoài. Trong khi đó, thái độ tuyệt đối chủ quan lại tìm được đất đứng từ thái độ bên trong. Sự sống chân thật bên trong ấy không đương nhiên và cũng không thường xuyên biến thành sự áp đặt đối với người khác. Ngược lại, kẻ cường bạo lại là người không còn một lộ trình thông thoáng bên trong, đó là người không còn trở về được với lương tri ngay thẳng, nên phải gắn xác tín của mình vào một hệ thống lý thuyết giáo điều, gắn vào một thói quen suy luân của người khác, hoặc bám vào “niềm tin” chung của đám đông đoàn lũ. Chính thứ tuyệt đối khách quan máy móc, thứ độc tài cường bạo, thứ mù quáng giáo điều, thứ quyền lực đoàn lũ... mới là những người làm trầm trọng cuộc đời. Trong khi đó, một thái độ tuyệt đối được tìm thấy từ bên trong, bắt rễ vững vàng nơi lương tri ngay thẳng, sẽ tạo nên một sự trân trọng thực sự với cuộc sống, mới có thể cử hành cái chết của mình một cách trang trọng như một hiến tế của tình nghĩa.
Điều các thánh tử đạo để lại cho con người ngày hôm nay không phải là một câu chuyện cổ tích hay, cũng không phải là mẫu gương của chủ nghia anh hùng, nhưng là một lời chứng (martyr) về khát vọng tuyệt đối của con người, lời chứng về một bản hùng ca về sự sống đạt đến độ sung mãn nhất khi được gắn vào tuyệt đối.
Chú thích:
[2] Phần này, xin coi Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, mục “lời chứng”…
[3] Xc. Dictionaire de Théologie, sous la direction de Peter Eicher, Les Edition du cerf, 1988, mục Témoignage.
[4] Xc. Dictionaire de Théologie fondamentale, sous la direction de René Latourelle, Edition du Cerf, mục Témoignage.
[5] Xc. Đào Trung Hiệu, Cuộc Lữ Hành Đức Tin,Uỷ Ban Đoàn Kết Công giáo Yêu Nước Việt Nam, t/p Hồ Chí Minh, 1990, tập I, trang 22- 23.
[6] Justin, Apologie {II, 12}; Xc. Daniel –Rops, L’Église des Apôtres et des Martyrs, Paris, Librairie Arthème Fayard. 1951. p. 223
[7] X. Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ, s.27.
[8] Von Balthasar, Obs. Rom. 23-12-1987.
[9] Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ, số 26.