Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 8
“18Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá.19 Người bảo các ông : "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá." 20Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. 21Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông.22 Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.”
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
IV. Thánh Giuse TRẦN VĂN TUẤN
Nông Dân – (1824 – 1862) / Ngày 07 tháng 06
Suy niệm Tin Mừng Mt 4, 18-22
“18Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá.19 Người bảo các ông : "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá." 20Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
21Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông.22 Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.”
Tìm thấy ơn gọi và sứ mạng
Giuse Trần Văn Tuấn chào đời năm 1824 tại làng Nam Điền, một họ đạo xứ Phú Nhai, trong mái gia đình sinh sống nghề ruộng nhiều đời trên vùng đồng bằng sông Hồng thuộc tỉnh Nam Định (nay là Hà Nam Ninh)
1. Từ nghề nghiệp đến ơn gọi
Cũng như hàng ngàn người nông dân Việt Nam, niềm vui của anh là con trâu, luống cày, để thu hoạch những bông lúa nặng trĩu do những giọt mồ hôi và công sức của mình.
Có hai cách thức để con người đi vào xã hội :
- Hoặc là vì cần phải có một phương thế sinh nhai, nên người ta chọn lấy một nghề để kiếm tiền. Nghề nghiệp như cách thức đáp lại đòi hỏi của xã hội bên ngoài, nghề nghiệp như một phương tiện thuần tuý; và nếu như cuộc đời cung cấp cho họ một cơ duyên khác để kiếm tiền, an nhàn hơn, thu nhập cao hơn, thì đương nhiên người ta sẽ đổi nghề.
- Hoặc là người ta, không phải chọn một phương tiện kiếm tiền, mà là chọn chính mình, chọn cách mình là, chọn cách để mình sống cuộc đời theo ý nghĩa chân thật của đời mình... Trong trường hợp này, người ta sẽ đi vào đời, sống nghề nghiệp của mình như một ơn gọi. Ơn gọi là ý nghĩa bên trong, thấm đẫm ý nghĩa nhân văn với con người và thân thương đối với một ngã vị. Người ấy thi hành nghề nghiệp không phải như một phương tiện, không phải như một phương cách để kiếm tiền, nhưng như cách thức để hoàn thành ý nghĩa cuộc đời mình.
Nói một cách hình bóng, nghề nghiệp thì có “nghỉ hè”, nghĩa là người ta có quyền, trong một thời gian nào đó, bỏ hết mọi lo âu, mọi bận tâm về nghề nghiệp. Trong khi đó, ơn gọi lại là lối sống “không có nghỉ hè”, nghĩa là người ta không thể bỏ hết mọi lo âu, mọi bận tâm, dù trong một thời gian ngắn. Khi người ta chọn đời sống tu trì như một ơn gọi thì không thể có “nghỉ hè tu”; khi người ta sống ơn gọi làm mẹ, thì không thể có lúc nào được phép “nghỉ hè làm mẹ”. Ơn gọi là ý nghĩa gắn liền với hành trình và vận mạng làm người.
Anh Giuse Trần Văn Tuấn đã bắt đầu cuộc sống với một nghề, nghề nông dân. Nhưng Thiên Chúa lại có một kế hoạch khác trên người nông dân chân chất ấy. Cuộc đời của anh Tuấn không còn là con trâu, luống cày, không còn là niềm vui, sự an bình trên mảnh đất trần gian, nhưng là gông cùm, là đòn vọt, là máu và nước mắt... Cuộc đời anh không còn là niềm vui thanh thản nữa, mà là cuộc đời hướng tới một nỗi mừng của cả phận người. Anh bước vào một cánh đồng khác để canh tác một vụ mùa khác.
Cùng với những giáo hữu đồng cảnh ngộ, cuộc đời anh Giuse Tuấn bỗng nổi cơn sóng gió vì những chiếu chỉ cấm đạo của nhà vua. Cuộc bách hại vào giai đoạn cao điểm này đã ảnh hưởng đến các phần tử nhỏ bé tầm thường nhất trong Giáo Hội Việt Nam. Năm 1860, anh Tuấn bị bắt vào năm 36 tuổi, và bị giải tới phủ Xuân Trường cùng với một số giáo hữu khác. Về sau, anh lại bị phân sáp vào làng An Bái, Thuộc huyện Thụy Anh...
2. Từ ơn gọi đến sứ mạng
Ơn gọi thôi thúc đến sứ mạng, trong khi nghề nghiệp chỉ đòi buộc công tác. Công tác là điều người ta phải làm để đáp trả với những đòi hỏi bên ngoài. Người ta chu toàn công tác khi đã cố gắng vừa đủ sức mình, theo như điều kiện bên ngoài cho phép.
Trong khi đó, một con người bắt đầu nhận ra được ơn gọi, thì sẽ “bị” chính ơn gọi thôi thúc muốn sống cuộc đời mình như một sứ mạng. Sứ mạng là sự thôi thúc không giới hạn và không bao giờ ngừng nghỉ. Một người thi hành công tác có thể xoa tay thoả mãn với sự liêm chính của mình, nhưng người thi hành một sứ mạng thì buông đời mình trôi nổi theo sự thành đạt của sứ mạng. Người thi hành sứ mạng đã làm đủ, làm hơn, làm hết sức,...mà vẫn cảm thấy thôi thúc làm hơn nữa, mà vẫn nhận ra còn nhiều điều mình phải làm tốt nữa...
Từ khi về làng An Bái, anh Giuse Tuấn bị giam trong ngục chật hẹp, cổ mang gông, chân mang cùm xiềng xích. Nhưng người chiến sĩ đức tin vẫn kiên trì chịu đựng trong nhẫn nại và vui vẻ. Theo chiếu chỉ phân sáp tháng 08-1861, quân lính nung đỏ thanh sắt, và khắc vào má của anh một bên chữ "Tả Đạo", một bên là nguyên quán làng xã.
Khi sức mạnh bên ngoài của gông cùm xiềng xích càng giương hết móng vuốt của chúng, thì người lãnh sứ mạng lại tìm thấy sức mạnh vượt thắng từ một ý nghĩa bên trong. Gông cùm hành hạ thể xác, và chữ “Tả đạo” thích vào bên má đè nặng tâm hồn... những thứ đó đã phá nát nghề nghiệp nông dân của anh Tuấn, và chặn đứng tương lai của anh. Bỗng nhiên, anh nông dân Giuse Tuấn trở thành một chiến sĩ đức Tin. Anh nhận ra ơn gọi và sứ mạng của mình. Anh chịu đựng những nỗi đau ấy với một thái độ “nhẫn nại” và “vui vẻ”. Làm sao mà nhẫn nại và vui vẻ được, nếu không phải là từ một nguồn sức mạnh của một con người nhận ra ơn gọi và sứ mạng của mình ?
3. Sứ mạng làm chứng
Ngày 07.06.1862, trên đường tới nơi xử trảm, anh Giuse Tuấn bình thản đi sau đám quân lính, vừa đi vừa sốt sắng đọc kinh Cầu Các Thánh. Tới nơi, lý hình đã vung gươm chém đầu vị chứng nhân, đang khi anh qùy gối, miệng vẫn liên tục kêu tên cực trọng Chúa Giêsu.
Con người của nghề nghiệp thì lấy cái tôi làm trung tâm. Người ấy làm việc để vật lộn sống còn cho cái tôi, người ấy sống đạo đức để củng cố cho tôi, người ấy thăng tiến để cái tôi được trương nở hơn nữa trước mắt người khác... Nhưng con người của sứ mạng thì mục đích chính yếu không còn là chiều hướng quy mọi sự về cái tôi, mà là trao tặng cả mạng sống của mình cho ai khác. Khi ấy, ý nghĩa sống vì ai, sống với ai, sống cho ai, sẽ trở nên nguồn mạch chính yếu để đi trọn hành trình làm người.
Con đường dâng hiến ấy sẽ hoàn thành vận mạng của cái tôi đích thực, đó là con đường dám tiêu hao cái tôi giới hạn để tìm được một cái tôi tuyệt đối, cái tôi đụng chạm được đến ý nghĩa tuyệt đối trong sự hiệp thông. Mầu nhiệm hiệp thông các thánh sẽ được hé lộ nơi một con người tìm thấy ơn gọi và sứ mạng. Nẻo đường được hợp đoàn cùng các chính nhân, trong nhà Cha, nẻo đường ấy mang Tên Giêsu.
Chúa ơi,
Con cứ tưởng con vẫn đang sống liêm chính.
Con vẫn bằng lòng với đời sống không làm hại ai.
Con rút mình vào một nếp sống phòng vệ, an toàn.
Có phải không, con vẫn chưa lao mình vào cuộc sống này với tất cả niềm hăng say của một người được Chúa gọi và được Chúa trao sứ mạng ?
V. Thánh Giuse HIỂN
Linh mục dòng Đaminh (1769 – 1840) / Ngày 09 tháng 05
Suy niệm Tin Mừng Mc 15, 33-39
“33Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín.34 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng : "Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni !" Nghĩa là : "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?"35 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói : "Kìa hắn kêu cứu ông Ê-li-a."36 Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói : "Để xem ông Ê-li-a có đến đem hắn xuống không."37 Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở.38 Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. 39 Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su, thấy Người tắt thở như vậy liền nói : "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa."
Chiêm ngưỡng Thập giá
Giuse Hiển sinh năm 1796 tại làng Quần Anh Hạ, tỉnh Nam Định. Từ thuở bé, gia đình đã gởi gấm cậu đến sống với Đức Cha Delgado Y, dòng Đaminh. Sau khi học xong thần học, thầy Hiển được thụ phong linh mục và được gởi đi du học ở Manila. Ngày 12-01-1812, cha được lãnh áo dòng Đaminh và năm sau cha khấn dòng. Trở về Việt Nam cha giúp nhiều giáo xứ, lâu nhất là xứ Cao Mộc. Mọi người công nhận cha sống thánh thiện, miệt mài với kinh nguyện, một nếp sống có khả năng hoán cải lòng người. Ai nghe cha khuyên nhủ cũng thấy lòng mình sốt sắng muốn canh tân sửa đổi đời sống sao cho xứng danh kitô hữu.
1. Mâu thuẫn kỳ lạ nhất thế gian
Kito giáo là đạo mạc khải, và trọng tâm của mạc khải, theo công đồng Vatican II, là mạc khải chính Chúa. Thiên Chúa mạc khải chính bản thân Ngài, và Ngài thường tỏ bày chính Ngài trong những gì là bé mọn, tầm thường (X. Mt 25,40), thậm chí trong những gì mâu thuẫn kỳ lạ. Ta có thể suy niệm một vài ý nghĩa từ phương cách mạc khải của Thiên Chúa.
1/ Con đường tìm đến Chúa sẽ còn ở tận đâu xa, trên trời hay ở chân trời góc biển nào, nhưng ngay trước mặt, trong tầm tay...(X. Dnl 30, 11-14). Thiên Chúa muốn cho mọi người có thể được đón nhận ơn cứu độ.
2/ Thiên Chúa tỏ mình ra nơi những điều tầm thường để con người luôn phải hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng-Khác. Chủa tỏ bày sự hiện diện của Ngài nơi dân Israen, một dân tộc nhỏ bé, nhưng đừng tưởng rằng chính Dân Israen là Chúa. Cũng thế, Chúa tỏ mình trong Giáo hội, nhưng không được đồng nhất Giáo hội hữu hình với GIÁO HỘI là Nước Trời.
3/ Cách thức mạc khải như thế mời gọi một thái độ tự do, chủ động, tích cực, sáng tạo của chính con người. Đức Giêsu tỏ mình ra như một hài nhi bình thường; Đức Giêsu luôn chú ý đến những thái độ chủ động tìm kiếm của con người; đức Giêsu chọn cây thập giá ô nhục để tỏ bày vinh quang của Thiên Chúa...
Như thế, ta có thể hiểu được thập giá là một mạc khải kỳ diệu, mâu thuẫn nhất trên thế gian này. Một hình khổ tủi nhục của nhân loại được Thiên Chúa lựa chọn để tỏ bày vinh quang; một sự thua cuộc tỏ tường lại được giương lên như ngọn cờ chiến thắng; một sự chà đạp phẩm giá con người ở tận cùng lại được dùng để tỏ bày một tình yêu lớn hơn mọi tình yêu cho con người.
Ấn tượng đẹp nhất trong cuộc tử đạo của thánh Giuse Hiển là hình ảnh cụ già 71 tuổi, sau bao cực hình tra tấn ban ngày, mỗi tối nằm dài trong nhà lao nắn nót vẽ trên vải từng mẫu ảnh thánh giá mỹ thuật, với những nét hoa văn tinh tế, khi giáo hữu đến thăm cha phát cho mỗi người mỗi mẫu, khuyên họ cung kính suy ngẫm và xin ơn bền đỗ. Có người được ban ơn lạ vì mang trên mình hình ảnh thánh giá đó. Thế là trong tù cha vẫn phát động phong trào suy tôn thánh giá ở Nam Định. Về sau, vì số người đến xin ảnh nhiều quá cha phải nhờ một anh bạn tù khắc mẫu Thánh Giá đó vào gỗ rồi dùng mực in ra nhiều bản mới cung ứng đủ nhu cầu.
2. Cứu độ bằng tình yêu
Thiên Chúa là Đấng Quyền Năng, và Ngài có thể cứu độ con người bằng quyền năng lớn lao của Ngài. Thiên Chúa là nguồn thông sáng, và Ngài có thể cứu độ con người bằng nẻo đường dạy bảo những điều hay lẽ phải. Nhưng sâu xa hơn hết, Thiên Chúa là tình yêu, và Ngài muốn tỏ bày tất cả quyền năng lớn lao, trí khôn vô lượng của Ngài qua một tình yêu kỳ diệu nhất.
Các quan khi thì tra tấn dã man, khi thì dùng lời dụ dỗ ngọt ngào, nhưng trước sau như một, cha dứt khoát không chịu xuất giáo. Cha nói : "Tôi đã già chẳng sống được bao lâu nữa, tôi sẵn sàng chết vì Đấng đã chết cho tôi".(...)
Chỉ có tình yêu mới có thể kêu mời một sự đáp trả thật sự tự do. Thiên Chúa tôn trọng con người đến nỗi Ngài “phải” khai mở nẻo đường cứu độ bằng tình yêu, và bằng cách đi bước trước, trao ban trước một tình yêu lớn hơn mọi tình yêu : Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống cho bạn hữu (X. Ga 15,13).
Quan bắt hai vị đứng trước Thánh Giá rồi cho quản tượng dẫn ra hai thớt voi to lớn đứng ngay sau lưng. Theo lệnh của quan tượng, hai chú voi từ từ tiến tới đẩy hai vị đạp lên Thánh Giá. Nhưng hai vị đã khéo léo và bình tĩnh tránh ra một bên. Cha Hiển nói thẳng với quan : "Xin quan cứ tuân lệnh vua, đừng ép thêm vô ích, chúng tôi sẵn sàng chết để tỏ lòng yêu mến Chúa.
3. Chiêm ngưỡng thập giá
Quyền năng của Thiên Chúa không phải là một quyền năng thống trị nhằm đè bẹp đối phương, nhưng là thứ quyền năng có thể chinh phục được chính tự do của con người. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa không được tỏ hiện bằng cách bắt người khác phải khuất phục lý lẽ, nhưng là sự khôn ngoan có thể mời gọi tính chủ động đáp trả của con người. Quyền năng ấy và trí khôn ngoan ấy thật tinh tuyền. Quyền năng ấy không vấn vương một chút bạo lực nào; trí khôn ấy không vương một chút khoe mẽ nào. Bởi vì Thiên Chúa không nhằm đối phó với ai, Ngài thiết tha với ơn cứu độ cho mọi người. Bởi vì Ngài là tình yêu tinh tuyền, không vương một chút hận thù.
Vì chối không chịu đạp lên Thánh Giá, quan cho đánh cha 40 roi, tiết đông giá rét góp phần làm những vết roi thêm tê buốt. Sau đó, quan truyền lấy nước lạnh dội từ trên đầu xuống, các vết thương đang rướm máu nay gặp nước thì tím bầm lại. Quả là đau đớn và xót xa ! Dầu vậy, cha Hiển vẫn không hề than thở rên la một lời, cha chỉ kêu tên cực trọng Đức Giêsu và suy niệm về cuộc thương khó Chúa khi xưa.
Tất cả quyền năng, sự khôn ngoan và tình yêu của Thiên Chúa được gồm gói trong mầu nhiệm Thập giá. Ai chiêm ngưỡng được thập giá, đó thực sự là người được soi sáng nhờ Thần Khí của Thiên Chúa. Ai yêu mến được thập giá, đó là người thực sự nếm được tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Ai vui lòng vác thập giá, đó thực sự là người được thông phần sự sống của Thiên Chúa...
Đã có lần và nhiều lần
Con không muốn treo hình thập giá
vì không muốn cuộc đời cứ mãi bi ai, cứ mãi sầu buồn,
Và có lẽ vì thế mà con vẫn chưa được chìm ngập trong tình yêu lớn hơn mọi tình yêu của Chúa.
Xin dạy con biết chiêm ngưỡng thập giá của Chúa để con học được bài học yêu thương.
VI. Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến
Linh mục dòng Đaminh - (1764 – 1838) / Ngày 30 tháng 06.
Suy niệm Tin Mừng Ga 10
"7Vậy, Đức Giê-su lại nói : "Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ.9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.
11 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.12 Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn,13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên.14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi,15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.
Chân dung người mục tử
Vinh Sơn Đỗ Yến chào đời năm 1764 (thời Hậu Lê), tại Trà, xứ Phú Nhai, tỉnh Nam Định. Cậu Vinh Sơn Yến theo lời Chúa gọi sống đời tu trì ngay từ thời niên thiếu. Sau một thời gian rèn luyện nhân đức và học hỏi các môn triết, thần, thầy được Đức Giám Mục Delgado Y phong chức linh mục năm 1798.
1. Đức Giêsu, vị Mục Tử duy nhất
Giáo hội luôn khẳng định đức Giêsu là ơn cứu độ duy nhất cho con người. Khẳng định ấy có thể được minh định bằng nhiều khía cạnh, như đức Giêsu là Đấng duy nhất từ trời xuống, để tỏ bày những sự trên trời (X. Ga 3,13); và cũng có thể được minh định một cách cụ thể rằng chỉ có Đức Giêsu như Người Mục Tử Nhân lành có thể chăm sóc vận mạng con người cách toàn diện : “Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. (Ga 10,10).
Trong khía cạnh thứ hai, ta thấy có một sự thiếu hụt trong đời sống Giáo hội hiện nay. Nền thần học hiện nay của Giáo hội, theo cách diễn tả của đức J. Ratzinger, giống như một chàng hề. Chàng hề muốn báo động cho dân chúng về một trận hoả hoạn, nhưng vì anh mặc trang phục của một anh hề, nên dân chúng thay vì lo chữa cháy, lại cười vui với lời kêu gọi khẩn thiết của anh hề. (J. Ratzinger, Đức Tin Kito giáo, Qua và Hôm Nay, bản dịch của Athanasio Nguyễn Quốc Lâm,Nxb Tôn giáo 2009, trang 38). Nhà thần học hiện nay muốn nói về chính thực tại của nhân loại, nhưng không cởi bỏ được chiếc áo của những những chuyện “trên mây”. Không thể phủ nhận rằng, ít nhiều, với cách trình bày thần học ngày nay, người tín hữu như thể chỉ thấy một thế giới tôn giáo bên ngoài, bên trên, và song song với cuộc sống thực.
Tin Mừng cho ta thấy việc công bố ơn cứu độ duy nhất cho con người cần được khởi đi, trước tiên, từ chính bản thân đức Giêsu, từ sự gắn bó với đức Giêsu, từ việc thấm nhập tinh thần và giáo huấn của đức Giêsu.
Trong 3 tuần lễ bị giam, nhờ sự can thiệp của ông lang Hàn, cha Vinh Sơn Yến không phải mang gông xiềng, được phép nhận lương thực giáo hữu thăm nuôi khá đầy đủ. Ngày đêm ngài chỉ chuyên cần nguyện kinh và trầm lặng trong suy niệm lâu giờ.
Nhưng nẻo đường ấy chỉ có thể khai mở được bế tắc của nền thần học ngày nay, khi Giáo hội bận tâm đến con người, khi những người mục tử trong Giáo hội hiểu con người, biết những khát vọng ẩn kín trong tâm hồn con người, và nhìn đến con người bằng ánh mắt bao dung của người Mục Tử Duy Nhất.
Các mục tử theo chân Vị Mục Tử Duy Nhất thì không thể thi hành sứ vụ như một công chức, không thể chỉ thấy có “con đường một chiều” từ Huấn Quyền và nhà thần học đổ xuống; mà không biết khai mở nẻo đường lắng nghe nhu cầu của Dân Chúa để chuyển đạt lên.
Hình ảnh Vinh Sơn Đỗ Yến đọng lại trong tâm trí người đương thời là một cụ già tuổi ngoài thất tuần, râu tóc bạc phơ, luôn tận tụy với đoàn chiên Chúa tại nhiều giáo xứ ở Hải Dương. Trong hơn bốn mươi năm đảm nhận vai trò mục tử, vị linh mục cao niên khả kính, đạo đức, hiền từ ấy giống như một lương y tận tâm với con bệnh, luôn hiện diện giữa giáo hữu trong mọi cơn thử thách.
Nơi hình ảnh linh mục Vinh Sơn Đỗ Yến, không có sự bối rối về ngôn từ thần học, không phải là sự khô cứng của lập trường giáo luật hoặc luân lý, nhưng là một một thực tại sống động của sự hiện điện, của sự đồng hành và liên luỵ, của sự thuộc về nhau trong một gia đình đức tin.
2. Chân dung người mục tử
Đức Giêsu xác định rõ tiêu chuẩn để phân biệt giữa mục tử đích thực và kẻ chăn thuê : “...Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.12 Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, 13vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên”.
Người Do Thái mong chờ một Đấng Mêsia hùng mạnh, thống trị, oai phong như hình ảnh “Con Người ngự giá mây trời” (Dn 7,13), “xét xử muôn dân” như ngôn sứ Daniel trình bày. Hình ảnh ấy không sai, nhưng chỉ tỏ hiện trong lần Chúa đến thứ hai. Trong khi đó, khi Chúa đến lần thứ nhất, Ngài thực hiện điều ngôn sứ Isaia tiên báo trong hình ảnh Người Tôi Trung của Thiên Chúa. Người Tôi Trung thì đến trong sự liên luỵ khổ đau, gánh lấy hệ quả của tội nhân thế trên bản thân của mình. Đức Giêsu là Mục Tử Duy Nhất, và chân dung mọi mục tử đều không thể nào khác hơn đường nét “dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên”.
Không thể phủ nhận có nhiều vị mục tử đã, đang và vẫn thiết tha vì đoàn chiên, hao tổn sức lực, tâm trí cho đoàn chiên; nhưng cũng không thể không thấy rằng vẫn có, trong tâm tư riêng hoặc trong bầu khí Giáo hội, một thứ văn hoá danh giá, một nỗ lực thăng tiến, một hình ảnh thành đạt trong sứ vụ mục tử.
Vì thuơng đoàn chiên đang cảnh ngộ gian nan, cha Vinh sơn Yến ở lại giữa họ, nay ở nhà này, mai ở nhà khác, ban đêm lo cử hành phụng vụ dâng lễ, ban ngày đến khuyên bảo các tín hữu và ban bí tích cho họ. Tất cả những điều đó cha phải làm kín đáo, tương tự thời sơ khai của Giáo Hội.
3. Vận mạng người mục tử
Đức Giêsu từng nói : môn đệ không hơn Thầy. Đức Giêsu đã chọn đường lối cứu độ theo thánh ý Chúa Cha, đường lối hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Như thế, mọi người mục tử, tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu, cũng không thể có một vận mạng nào khác.
Không thể phủ nhận nỗ lực của nhiều vị mục tử trong việc thăng tiến giáo xứ, tổ chức nhiều sinh hoạt phong phú, xây cất sửa sang cơ sở...; nhưng cũng phải thấy nhiều mục tử đã biến vai trò của mình thành người quản trị chứ không còn là mục tử. Nhà quản trị thì chỉ thấy “cái chung” mà dễ dàng gạt bỏ những trường hợp cá biệt; người mục tử thì phải biết chiên và biết từng con một. Chỉ người mục tử mới có thể bỏ 99 con lại để lên đường đi tìm con chiên lạc. (X. Lc 15,4)
Chính mối tương quan sống động, mang tính ngã vị, là nẻo đường đặc trưng của Kito giáo. Người mục tử theo chân đức Giêsu không thể không “biết đức Giêsu”; và qua đức Giêsu, cũng “biết Cha” và “biết chiên”...
“1Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi,1 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.
Một khi mối tương quan ngã vị được thiết lập như nền tảng của sứ vụ, người mục tử mới có thể thi hành sứ vụ của mình, theo phong cách “đánh cái gì vì ai”. Ngược lại, khi chỉ chăm chút và việc quản trị, người mục tử sẽ vô tình rớt vào tình trạng “đánh ai vì cái gì”.
Tại Hải Dương, 3 ngày sau vị tông đồ được đưa ra trước công đường, quan tuần phủ tỉnh này vốn lòng nhân hậu, lại có lời can thiệp của ông lang Hàn, y sĩ chữa bệnh cho quan, nên không muốn vấy máu người có đạo. Ông xin vị linh mục tự nhận là lang y để ông phóng thích. Vị chứng nhân trả lời : "Không, tôi không phải là thày lang. Tôi là thày cả chuyên giảng đạo và tế lễ Thiên Chúa. Tôi sẵn lòng chịu chết vì lẽ đó, chứ không nói dối để được sống".
Chính nẻo đường tình yêu, nẻo đường “biết ai” chứ không phải là nẻo đường “làm thế nào” hoặc “sống thế nào” sẽ có khả năng dẫn dắt hành trình của người mục tử chân chính đi vào vận mạng mà đức Giêsu đã chọn lựa.
Con người ngày nay làm việc gì cũng có phương pháp
Những thứ phương pháp rất khoa học, rất mạch lạc...
Và cuộc sống hình như cũng mạch lạc... như một bộ máy !
Con người chẳng con khả năng biểu lộ một thứ tinh thần và chẳng còn khả năng cảm nhận một thứ tinh thần thấm đượm, như “linh hồn” của một cung cách.
Chúa ơi, xin cho con nhìn ra được tinh thần của Chúa và biết nhìn ra sự sống của Chúa như “linh hồn” trong đời sống của con.
VII. Thánh Anê LÊ THỊ THÀNH (Bà Thánh Đê)
(1781-1841) / Ngày 12 tháng 07
Suy niệm Tin Mừng Lc 11, 27-28
”27Khi Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người : "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm !" 28 Nhưng Người đáp lại : "Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa."
Nguồn mạch chữ Phúc
Anê Lê Thị Thành sinh khoảng 1781 tại làng Bái Điền, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Ngay từ nhỏ, cô Thành đã theo Mẹ về quê ngoại ở Phúc Nhạc, một giáo xứ lớn, nay thuộc giáo phận Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình. Năm 17 tuổi, cô kết hôn cùng anh Nguyễn Văn Nhất, người cùng xã, và hai người sống với nhau rất hạnh phúc, thuận hoà, sinh hạ được hai con trai tên Đê và Trân và bốn gái : Thu, Năm, Nhiên, Nụ. Tục lệ địa phương thường gọi tên cha mẹ bằng tên người con đầu lòng, vì thế mới có tên ông Đê, bà Đê.
1. Phúc đức tại mẫu
Người mẹ trong gia đình thường là người gần gũi với con cái nhiều hơn hết, nhất là trong những năm tháng đầu đời, tức thời gian hình thành nhân cách căn bản của một con người.
Tâm hồn an hoà nhiều ít của bà mẹ khi mang thai sẽ ảnh hưởng trên tính phòng vệ nhiều ít của đứa con trong bụng mẹ. Tình thương của mẹ với con cái là điều không gì tuyệt diệu hơn trong tâm thức một con người, tình thương ấy làm nên một “quê nhà” thân thương, ngọt ngào cho đứa con trong suốt hành trình làm người. Thái độ quảng đại của bà mẹ trong gia đình có thể hình thành trong tâm hồn con cái một bầu khí thuộc về nhau trong tương quan của mọi người trong nhà. Tư cách của người mẹ trong giao tiếp, ứng xử với xóm giềng có thể xây dựng nền móng mọi tương quan của một con người khi đi vào xã hội....
Tất cả những điều ấy, và dĩ nhiên, con nhiều khía cạnh tinh tế khác nữa, làm nên một thứ “văn hoá gia đình”, nên một nguồn mạch của phúc lộc trong cả lịch sử của gia đình. Lời người phụ nữ trong Tin Mừng diễn tả nguồn mạch phúc đức ấy : "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm”.
Hai ông bà sống hiền lành đạo đức, rất quan tâm đến việc giáo dục con cái. Cô Lucia Nụ, con gái út cung khai khi giáo quyền thẩm vấn trong việc điều tra phong thánh như sau :
"Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục chúng tôi. Chính người dạy chúng tôi học chữ và giáo lý, dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc dục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ".
Một người con khác, cô Anna Năm cũng xác minh: "Song thân chúng tôi chỉ gả con gái cho những thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi kết hôn thân mẫu thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những điều tốt lành. Có lần người dạy tôi : Tuân theo ý Chúa con lập gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng đón nhận Thánh Giá Chúa gởi cho. Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi : "Hai con hãy sống hòa hợp, an vui, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ".
2. Ơn gọi phụ nữ trong Giáo hội
Đức Giêsu không hề chối bỏ nguồn mạch phúc đức tự nhiên của người mẹ, và của đức Maria, nhưng Tin Mừng còn mở rộng một chân trời phúc đức căn nguyên và phong phú hơn : "Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.".
Kẻ “lắng nghe” và “tuân giữ” Lời Thiên Chúa có thể được hiểu một cách đơn giản là người tín hữu chân chính. Lời khẳng định ấy có nghĩa cần vượt qua giới hạn không thể vượt qua được của tình nghĩa cốt nhục mẹ con, và mở rộng con đường phúc đức cho mọi người tin. Đồng thời lời khẳng định ấy cũng nối kết một cách sâu xa giữa tình nghĩa của “người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm” và nét nhạy bén “nữ tính” của người tín hữu trong đời sống Giáo hội.
Trong sứ vụ công khai của đức Giêsu, vẫn có những người phụ nữ đi theo Ngài. Những người phụ nữ đã hiện diện bên Chúa Giêsu, và trung tín cho đến tận đồi Sọ, khi mà các tông đồ đã bỏ trốn hết... Ta có thể dễ dàng nhận ra điểm khác biệt trong cách thức của các người phụ nữ này so với các tông đồ. Trong khi mà các tông đồ, từ đầu và trong suốt thời gian theo Chúa trong sứ vụ công khai, vẫn dính dáng tới niềm hy vọng được ở bên hữu hoặc bên tả trong Nước Trời Vinh Quang của Chúa, thì các phụ nữ lại đi theo Chúa chỉ với tấm lòng chân thành và gắn bó với chính bản thân của Chúa.
Cần phân biệt “bản thân” và những thứ “râu ria” được gắn vào “bản thân” và có thể bị rơi rụng khỏi bản thân. “Bản thân” một con người, có lúc đầy tài năng nhưng cũng có lúc không còn chút năng lực nào; có lúc có nhiều quyền lực, nhưng cũng có lúc bị tước đoạt tất cả; có lúc có dáng vẻ đẹp đẽ nhưng cũng có lúc xấu xí già nua; và cũng có lúc đầy đức độ rồi có thể có lúc sa ngã ê chề... Bản thân là điều bến vững, còn “râu ria” luôn bấp bênh.
Theo đức Gioan Phaolo II, người nữ luôn có “thiên tài” hiểu con người hơn người nam và thường có một tình thương gắn liền với bản thân hơn là người nam. Ý nghĩa này không phải chỉ là chuyện nhỏ thuộc về tính khí, nhưng diễn tả một đường nét chính yếu xác định được tính chất chân thật của tương quan con người với Chúa và con người với nhau. Nói một cách chung, linh đạo của truyền thống Do Thái Kito giáo là “sống với ai”; khác với những nền linh đạo của tôn giáo luân lý là “sống thế nào”.
Ông bà Đê có lòng bác ái hay thương giúp đỡ người, nhất là trọng kính và sốt sắng giúp đỡ các linh mục gặp khó khăn trong thời cấm đạo. Ông bà dành một khu nhà đặc biệt để các linh mục thừa sai trú ẩn. Chính đức ái đó đã đưa bà Đê đến phúc Tử Đạo.
3. Tìm lại mạch sống tình nghĩa tinh tuyền
Tấm lòng chân thành của phụ nữ trong sinh hoạt Giáo hội là điều rõ ràng, xưa cũng vậy và nay cũng vậy. Lòng chân thành ấy bộc lộ qua một sự gắn bó chân thật với chính bản thân của ai đó. Chúng ta thấy rõ điều đó nơi hình ảnh thánh nữ Maria Mađala. Trong khi mà các tông đồ sợ hãi và trốn tránh, trong khi mà các môn đệ thất vọng trở về quê, thì chỉ có thánh nữ vẫn còn thiết tha với Chúa, dù chỉ là để mang dầu thơm xức cho xác của Chúa. Niềm tin ấy vượt qua được giới hạn cái chết, nhờ vào tình yêu gắn bó bản thân với đức Giêsu.
Chúng ta cũng thấy một mạch sống tương tự nơi những người nữ trong Giáo hội. Khởi đầu từ “thiên tài của nữ giới”, tức khả năng hiểu con người, có một sự triển nở đến niềm tin và đến lòng can đảm làm chứng cho Chúa. Tất cả mạch sống ấy luôn mang dáng dấp sống với ai, luôn đậm đà trong tình và nghĩa.
Cha Lý được ông Trùm Cơ đưa sang vườn nhà bà Đê ở sát bên. Bà Đê chỉ cho cha đường mương khô ở sau vườn, cạnh một bụi tre. Bà nói : "Xin cha ẩn dưới rãnh này, Đức Chúa Trời gìn giữ thì cha thoát, bằng không cha và con đều bị bắt". Nói xong bà cùng con gái Lucia Nụ lấy rơm và cành khô che phủ lên. Nhưng quân lính đã trông thấy cha chạy qua vườn nhà bà, nên họ đến bắt cha Lý và bà Đê, chủ nhà. Ông Trùm Cơ, bốn hương chức trong làng và hai nữ tu Mến Thánh Giá Anna Kiêm và Anê Thanh cũng bị bắt.
Bản tính nữ giới vốn yếu đuối và dễ nhát sợ. Nhưng một khi được nối vào mạch sống tình nghĩa, người nữ lại tìm thấy một thứ niềm tin chân thật, đậm đà và mạnh mẽ không kém người nam.
Khi bị bắt, bà Đê rất sợ hãi, nhưng ...
Các quan truyền đánh đòn bà. Lúc đầu lính đánh bằng roi, sau dùng củi lớn quật vào chân bà. Bà không nản long. Khi chồng bà đến thăm, bà giải thích vì sao bà kiên tâm như vậy : "Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn không chịu nổi, nhưng tôi đã được Đức mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn".
... quan cho túm tay áo lại rồi thả rắn độc vào trong áo, nhưng bà Đê vẫn giữ được bình tĩnh cách lạ lùng..... Một nhân chứng tên Đang, về sau cho biết : "Bà Anê Đê đã bị đánh đập tàn bạo đến nỗi thân mình đầy máu mủ. Tuy vậy bà vẫn vui vẻ, và còn muốn chịu khổ hơn nữa".
Không có sự đe doạ nào có thể ngăn chặn được sức mạnh phát xuất từ một tình yêu chân thật như thế. Niềm tin của người nữ có thể “trôi nổi” theo tình cảm chứ không vững vàng trên nền tảng lý trí như người nam. Nhưng một khi sự bấp bênh tình cảm ấy được gắn vào một “ai”, thì trở thành một nguồn sức mạnh và tỏ hiện trong một lòng cam đảm kỳ lạ.
Cô Lucia Nụ, đến thăm Mẹ trong ngục, thấy y phục thân mẫu loang lỗ máu, cô thương mẹ khóc nức nở, bà an ủi con bằng những lời tràn trề lạc quan : "Con đừng khóc nữa, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?"
Như thế, chúng ta sẽ nếm cảm được sự sâu sắc thâm thuý điều đức Giêsu nói : “kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa", nếu chúng ta đối chiếu với những đường nét căn bản của Hiến chế tín lý về Mạc khải : Mạc khải là mạc khải chính Chúa, và Chúa mạc khải chính Ngài qua “lời ngỏ” và “hành động”. Lời ngỏ không phải là lời đông đổng nhưng là lời của Ai nói với ai; hành động thì không phải là việc làm ra sản phẩm, nhưng là cách diễn tả chính bản thân mình gửi cho ai.
Bà còn khuyên : "Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác Thánh Giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên nước Thiên Đàng".
Sức sống của niềm tin là sức sống được thông truyền từ ơn huệ mặc khải chính Chúa; nhờ nhận ra lời ngỏ của Chúa và hành động của Chúa mà cũng biết “lắng nghe và tuân giữa Lời Thiên Chúa”.
Hình ảnh người mẹ bao giờ cũng đẹp
Không phải đẹp như những cô gái trên sân khấu cho mọi người chiêm ngắm,
Nhưng đẹp cho những đứa con, những đứa con luôn bé bỏng trong lòng mẹ bao la.
Có phải không, đó cũng là nẻo đường để con nhận ra được vẻ đẹp của tình yêu Chúa dành cho con ?