GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Đức Tin nơi những người Kitô hữu lớn tuổi, giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ, nói chung, vẫn là một niềm tin hồn nhiên, thuần thành.Dù theo tư tưởng “cấp tiến” hay “ bảo thủ”, những người Kitô hữu lớn tuổi hiện nay vẫn tương đối dễ dàng chấp nhận, và chấp nhận như một chân lý đương nhiên, những tín điều cũng như phần lớn những giá trị quen thuộc trong Giáo Hội.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Ngỏ…

Đức Tin nơi những người Kitô hữu lớn tuổi, giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ, nói chung, vẫn là một niềm tin hồn nhiên, thuần thành.Dù theo tư tưởng “cấp tiến” hay “ bảo thủ”, những người Kitô hữu lớn tuổi hiện nay vẫn tương đối dễ dàng chấp nhận, và chấp nhận như một chân lý đương nhiên, những tín điều cũng như phần lớn những giá trị quen thuộc trong Giáo Hội.

Đối với những người Kitô hữu trẻ hiện nay, có một sự lung lay, nếu không muốn nói là khủng hoảng, ngay trong nền tảng sâu xa của lãnh vực đức Tin. Phần lớn những Kitô hữu giáo dân vẫn không dám chối bỏ điều gì trong vốn giáo lý mình được học, nhưng họ bắt đầu càm thấy những giá trị được trình bày trong đạo, chẳng những kgông ăn nhập gì với đời sống thường ngày, nhưng còn tỏ ra không hay, không đẹp. Ta có thể nhận ra hiện tượng này khi thấy phản ứng của nhiều người Kitô hữu bình thường đối với những lời khuyên của những giáo dân đạo đức, những “ cán bộ tôn giáo” nhiệt thành. Rồi khi xảy ra vấn đề gì đụng chạm đến cơ chế và những điều khoản của luật lệ Giáo Hội, những người Kitô hữu ấy bắt đầu cảm thấy khó chấp nhận đường lối của Giáo Hội; họ cảm thấy rõ sự khác biệt giữa cách thức lý giải và cũng như cách thức giải quyết của” đức tin” với những giải quyết khác hợp với những giá trị nhân bản của thời đại hơn. Những vụ việc xảy ra như thế trở thành cửa ngõ đi ra ngoài Giáo Hội mà thật sự nguyên nhân là chính sự bất ổn về những giá trị quen thuộc trong niềm tin.

Đối với một số tu sĩ trẻ, vấn đề khác biệt hay xung đột giữa những giá trị quen thuộc trong Kitô giáo và những giá trị nhân văn cũng như lý trí tự nhiên được bộc lộ rõ hơn.Trong khi những người giáo dân” bất mãn” vẫn dè dặt trong phản ứng của mình vì không thấu hiểu được nhiều lý lẽ cao sâu trong đạo, thì những tu sĩ trẻ, trong khi học hỏi, tìm tòi và tranh luận với giáo sư, đã mạmh dạn hơn để khẳng định một thái độ khác với truyền thống. Một số ít vấn đề căn bản của niềm Tin được tạm cho vào trong ngoặc: tội tổ tông, ân sủng siêu nhiên trong tâm hồn…; một số nhiều hơn những giá trị thiêng liêng bị chối từ: công phúc, ơn xá, tập luyện nhân đức, tính cách thành sự” máy móc” của bí tích hay lời khấn…

Nói chung, ta có thể nơi giới trẻ có những dấu hiệu chớm nở của một sự khủng hoảng căn tính. Những chân lý đức Tin, giáo lý đức Tin ít được nhìn nhận như một nét đẹp, như một giá trị tích cực cho cuộc sống. Lời giảng dạy của các tu sĩ và linh mục trẻ phần lớn nhằm triển khai những giá trị Tin Mừng thích hợp với những giá trị nhân bản và tạm bỏ qua, tạm làm thinh về nhiều điều mà chính mình cũng chưa chấp nhận một cách an hòa.

Trong tình hình bấp bênh của nền tảng đức Tin ấy, chúng ta còn thấy manh nha một tác nhân gây khủng hoảng khác: sự xâm nhập của tư tưởng và văn hóa Á Châu trong khuynh hướng hội nhập văn hóa hiện nay. Đối diện với những tư tưởng ấy, một số tu sĩ trẻ lại càng khó chấp nhận những khuôn khổ suy tư, những tổ chức nề nếp, những giá trị “ trên trời” trong đạo lý đức Tin.

Chính những điều ấy là nguyên nhân sâu xa của những trục trặc trong đời sống tu trì, trong ơn gọi linh mục cũng như trong đời sống đức Tin của Kitô giáo nói chung. Ta có thể gọi đó là một sự khủng hoảng căn tính mà những nỗ lực xoay sở trong các lĩnh vực mục vụ, tu đức, giáo lý… vẫn chưa đụng tới và chưa hóa giải được.

Tuy nhiên, cơn khủng hoảng ấy, nếu có thật, không hẳn là một dấu hiệu bi quan. Đó có thể là một thứ khủng hoảng để trưởng thành hơn.

Những suy tư trong tập sách này được thành hình từ những cảm nhận lờ mờ về cơn khủng hoảng ấy và là một chút gợi ý cho một ngõ mở.

Tập sách này là những bài chia sẻ trong một tuần tĩnh tâm, được sắp xếp bằng cách vừa xác định tính chất” Gặp Gỡ Chính Chúa” trong những điểm căn bản của đời sống đức Tin: Đức Giêsu Kitô, nhiệm cục Mạc Khải, nhiệm cục Giao Ước, nhiệm cục Lời Chúa, nhiệm cục An Sủng và nhiệm cục Cánh Chung; đồng thời vừa thử diễn tả tính chất gặp gỡ ấy trong một số khía cạnh tương đối tương ứng: đời sống cầu nguyện, sống bí tích, đời sống thiêng liêng, sự tự do của con cái Chúa…

Đây là một cố gắng phát họa hành trình đi từ thái độ thực dụng đến sự tự do của con cái Chúa.

Đối với con người nói chung, nhất là nơi những người bình dân, yếu tố giao tiếp cụ thể luôn luôn là một yếu tố căn bản của cuộc sống. Sống là sống với. Phẩm chất người chỉ có thể được thể hiện trong cuộc sống liên đới và con người chỉ chỉ có thể hoàn tất cuộc sống của mình một cách sung mãn khi được sống trong sự hiệp thông với những ngôi vị khác.

Đó cũng là nét tiêu biểu của Kitô giáo mà đỉnh cao chính là đón nhận “ Thần Khí Nghĩa Tử” để sống sung mãn phẩm giá cao quí của những người con tự do.

Tư Cù

Bài 1: TỪ THÁI ĐỘ THỰC DỤNG

1. Người thanh niên nhiệt thành

Người thanh niên nhiệt thành và đầy thiện chí tha thiết đi tìm con đường để nên trọn lành [x.Mt 19,16-22]. Anh ta đã thực hành hết mọi chỉ dẫn của Lề luật, nhưng vẫn chưa thỏa mãn. Nghe biết Đức Giêsu là một vị Thầy có những lời lẽ và phong cách của một ngôn sứ, anh ta tìm đến bàn hỏi để biết cách đi xa hơn nữa trên con đường hoàn thiện.

Là môt người trẻ đầy nhiệt huyết; hơn nữa, lại là người giàu có, người thanh niên ấy không tìm hưởng thụ cuộc sống và chạy đua theo nẻo đường thăng tiến xã hội. Nỗi khao khát của anh chính là tìm sự sống chân thật,” sự sống đời đời”:

“Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời” [Mt 19,16].

Trong cuộc sống xã hội hôm nay, một xã hội mà người người, nhà nhà, nước nước đều lao vào cuộc kiếm tiền, vào chương trình phát triển kinh tế, hình ảnh người thanh niên nhiệt thành không thỏa mãn với của cải phong phú của mình, hình ảnh đó vừa là một lời chứng vừa là một mẫu gương đẹp cho con người, nhất là cho những người trẻ hôm nay.

Hình ảnh người thanh niên nhiệt thành ấy làm chúng ta liên tưởng đến nhiều người tín hữu đạo đức và nhiệt thành mà chúng ta vẫn gặp thấy trong trong đời sống Giáo Hội; hình ảnh ấy cũng làm chúng ta liên tưởng tới những người dấn thân vào nẻo đường tu trì, các chủng sinh, tu sĩ và linh mục. Đó là những hình ảnh đẹp và đáng trân trọng. Thánh Marcô diễn tả thái độ của Chúa Giêsu đối với người thanh niên nhiệt thành: “ Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến” [Mc 10,27]. Có lẽ chúng ta cũng có thể nghĩ về lòng yêu mến của Chúa Giêsu đối với những người nhiệt thành ngày hôm nay, những người tín hữu nhiệt thành sống giữa đời và những người đi vào nẻo đường dâng hiến nói chung.

2.Một chút trệch hướng

Thế nhưng, kết cục của câu chuyện làm chúng ta ngạc nhiên. Đó là một sự “ thất bại”, không phải của những người biệt phái giả hình, không phải của những người có chức quyền kiêu hãnh, cũng không phải của những người hời hợt bốc đồng, mà là sự thất bại của một con người thiện chí, đạo đức, và khá sâu sắc. Trình thuật này, lại một lần nữa, cho thấy nẻo đường “khác người” của Chúa Giêsu và cho thấy rõ hơn tính cách độc đáo của ơn cứu độ trong Đức Giêsu.

Người thanh niên thiện chí ấy đã thực hiện trọn vẹn những điều trong luật, nhưng anh ta vẫn chưa thành đạt. Anh đã tưởng rằng cần phải làm thêm nhiều điều nữa, cần phải gia tăng hơn nữa những nỗ lực sống ngay lành. Vì thế, khi đến với Chúa Giêsu, anh chỉ nghĩ tới việc hỏi về điều lành. Anh ngỡ rằng vị Thầy Ráp-bi có thể giúp anh như một người chỉ đường, để tìm học một bài học khôn ngoan. Thế nhưng, Chúa Giêsu nhắc khéo anh về sự trệch hướng ấy:

“Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một đấng tốt lành mà thôi”[ Mt 19,17].

Con đường tuân giữ các điều răn, con đường của Cựu Ước, có thể đưa đến “cõi sống”, nhưng để nên hoàn thiện, anh ta cần làm một cuộc đổi hướng căn bản, một cuộc đổi đời làm đảo lộn toàn bộ dự tính của anh:

“Đức Giêsu đáp: Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”[ Mt 19,21]

Vấn đề không phải là “làm điều lành”, nhưng là “theo Chúa Giêsu”. Hai nẻo đường ấy hoàn toàn khác nhau. Một đàng là thái độ tự bảo vệ và tìm vun đắp cho bản thân mình, dù là vun đắp bằng những điều lành, bằng việc tuân giữ những giới răn của Cựu Ước. Nẻo đường thứ hai bao gồm một sự buông bỏ chứ không phải vun đắp; đây lại là một cuộc phiêu lưu theo một Con Người, một “Đấng tốt lành”.

Quả thật, vận mạng con người không thể được giải quyết bằng cách tự vun đắp cho mình; cuộc sống hằng ngày chung quanh con người không phải chỉ là một “khu mỏ” để con người khai thác những công đức cho bản thân.Ngược lại, vận mạng con người chỉ có thể giải quyết cùng với tha nhân, nghĩa là trong sự gặp gỡ thực sự với một ngôi vị khác. Khi ấy, cuộc sống trở thành môi trường để gặp gỡ, những lo toan trong cuộc sống hằng ngày là hành trình kết dệt nên tình tự yêu thương của đời người. Từ chối hoặc “lợi dụng” tình tự yêu thương ấy, dù là với lý tưởng cao đẹp nào, đó cũng là một trệch hướng đưa vận mạng con nngười đến ngõ cụt.

3.Hai cuộc vượt qua cần thiết

Sách Sáng thế cho chúng ta thấy một cuộc vượt qua căn bản của tiến trình làm người: Adong sau khi đã khẳng định quyền làm chủ của mình đối với mọi sinh vật, ông không tìm thấy người trợ tá tương xứng. Chỉ khi gặp được Evà, Adong mới reo lên được reo lên vui của phận người và tìm thấy một bình diện mới cho cuộc sống của mình[ x. St 2, 18- 25].

Vượt qua từ cuộc thống trị thế giới để đạt đến sự gặp gỡ người với người, đó là bước đầu tiên của hành trình làm người. Tự bản chất, con người được sáng tạo giống hình ảnh Thiên Chúa, luôn mang trong mình khát vọng hiệp nhất và yêu thương. Khát vọng ấy không được thỏa mãn trong tài năng, trong tri thức và cả trong đức độ. Tất cả những điều ấy đều rất cần thiết, nhưng chưa ngang tầm với vận mạng cao quí của con người. Trên bình diện phận người, chúng chỉ là phương tiện, là chặng đường phải vượt qua; hoặc chúng trở nên một thứ

“tra ngụy” khi muốn chiếm vai trò tác nhân chính yếu trong đời người.

Vận mạng con người chỉ được giải quyết trong mối tương quan giữa các ngôi vị (trong tập sách này, tất cả những cụm từ ”tương quan ngôi vị” đều có thể thay bằng cụm từ quen thuộc hơn “tương quan liên vị”[ relation intersonnelle]. Tuy nhiên, người viết muốn dùng cụm từ ”tương quan ngôi vị” để nhấn mạnh mối tương quan ở bình diện ngôi vị.), nghĩa là trong sự gắn bó yêu thương giữa người với người, và nhất là giữa con người với một Thiên Chúa ngôi vị.

Mặt khác, chúng ta biết rằng Cựu Ước không phải là một bộ luật vô hồn, nhưng chính là mhững điều khoản nằm trong giao ước của Dân với Thiên Chúa. Người Dân không giữ luật, một cách chính yếu, vì sự hợp lý của luật, nhưng vì trung tín với Giavê Thiên Chúa. Người Ít-ra-en chân chính chỉ tuân giữ luật Môi-Sê, nghĩa là luật của Giao ước với Thiên Chúa; Và chỉ lắng nghe tiếng nói của ngôn sứ chân thật, nghĩa là tiếng nói của chính Chúa.

Thế nhưng, mối tương quan ngôi vị giữa Thiên Chúa và Dân trong qui chế giao ước cũ vẫn chưa trọn vẹn. Mối tương quan ấy được gồm gói trong một giao ước của luât pháp,trong những qui định đã xong của các điều khoản, và thể hiện theo kiểu “thử thách” lòng trung tín của nhau. Trong Tân Ước, luật pháp không còn là những điều khoản cứng nhắc và đã được xác định xong, lòng trung tín cũng không còn được thể hiện theo kiểu vượt qua một cuộc thử thách để kiểm tra. Nhiệm cục Tân Ước là chính sự hiện diện của Thiên Chúa như một Đấng yêu thương, hy sinh mạng sống cho bạn hữu. Ở đây, chủ tâm của người Kitô không còn là bám vào luật lệ, nhưng là đi vào cuộc phiêu lưu theo chính Chúa, thể hiện bằng sự nhạy bén lắng nghe và thực hành Thánh Ý Chúa. Nẻo đường phiêu lưu này vượt qua những qui định có sẵn, để chiều ý nhau trong sự tự do của tình yêu và dám hy sinh cho nhau trong ” kế hoặch chung”.

Thiên Chúa đã trở nên Đấng Emmanuel. Dân Chúa được mời gọi để vượt qua từ thái độ” tạm” giữ Luật để diễn tả lòng trung tín với Chúa, đến mức độ thực sự cùng chia sẽ vui buồn với Chúa trong tất cả mọi chi tiết của cá nhân mình, cũng như chấp nhận bị đảo lộn chương trình vì sẵn sàng đón nhận chương trình kỳ diệu của Chúa. Đây là cuộc vượt qua thứ hai.

Chúa Giêsu mời gọi người thanh niên tiến từ chỗ làm những điều lành theo đúng luật Cựu Ước đến chỗ bán hết tài sản mà đến theo ngài. Điều đó cũng giống như đòi hỏi trong cuộc tình của những người yêu nhau, đòi hỏi một sự dâng hiến mọi sự cho nhau, chấp nhận mọi sự của nhau.

Tuy nhiên, bước nhảy ấy không phải ai cũng vượt qua được. Anh thanh niên nhiệt thành đã từ chối lời kêu mời của Chúa Giêsu, anh ta không muốn làm lại hành trình mà mình đã đi. Quả thật, tất cả những thứ “của cải” của con người, từ tiền bạc, cho đến kiến thức, tài năng, danh tiếng và cả đức độ đều có thể trở thành những hành trang lỉnh kỉnh, nặng nề, cản trở trên con đường phiêu lưu” sống với”.

“Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải”[Mt 19,22]

G. Marcel thật có lý khi nhận định rằng người nào chỉ sống với phạm trù” chiếm hữu” sẽ không thể vươn lên tới phạm trù” hiện hữu”. Người lại còn dễ biến những huyền nhiệm của hiện hữu trở thành vấn đề chiếm hữu.

4. “Đạo” thực dụng ( Xc. Nguyễn Trọng Viễn, những căn bệnh Trầm Kha trong Đời sống đức Tin Công Giáo tại việt Nam, Bài”Đạo” Thực Dụng).

Ta có thể nói chung rằng tất cả những lập trường chọn giải pháp căn bản cho đời mình bằng những “điều lành” là một thứ “đạo thực dụng”. “Đạo thực dụng”bao gồm tất cả những chủ trương muốn giải quyết cuộc đời con người bằng những sự vật chứ không phải bằng sự gặp gỡ với ngôi vị khác. “Đạo” thực dụng cũng là thái độ đặt tất cả tầm quan trọng của phận người vào việc áp dụng những phương thức có tính kỹ thuật, nhằm tìm một đời sống “tốt đẹp” bằng cách trau chuốt bản thân mình.

Theo tiêu chuẩn ấy, chúng ta có thể nhận ra một thứ “đạo” thực dụng sâu xa trong đời sống đức tin Kitô hữu, nhất là nơi người Công Giáo Việt Nam, thể hiện trong những điểm trọng tâm nhất của kitô giáo:

Người Kitô hữu chỉ coi thái độ của con người trước mạc khải chính Chúa như là sự chấp nhận những chân lý siêu vời và cần phải nhắm mắt tin nhận;

Người Kitô hữu sống trong Giao Ước mới, Giao Ước làm cho người Kitô hữu sống với Chúa trong một “cộng đồng ngôi vị”, nhưng vẫn lo lắng sợ sệt như một người làm công;

Người tín hữu Công giáo đọc Lời Chúa như là những bài học luân lý chứ không mấy khi nhận ra Lời Chúa là lời ngỏ với chính bản thân và việc đáp lại lời ngỏ của Ngài làm nên một lịch sử nghĩa tình;

Người Kitô hữu chỉ đón nhận An sủng như là những sự vật, nghĩa là những món quà từ Thiên Chúa chứ không phải đón nhận chính Đấng ban An Sủng;

Người Kitô hữu mong lên trời để được hưởng mọi sự vui sướng chứ không phải để được sống trong tình yêu Thiên Chúa…

Đó là những” căn bệnh” của đời sống đức Tin. Căn nguyên của những căn bệnh ấy, có lẽ, không là gì khác hơn”đạo thực dụng”; và cách thức “chữa trị” những căn bệnh ấy, có lẽ, cũng không là gì khác hơn việc làm sáng nên lên độc đáo của Kitô giáo: Gặp Gỡ Chính Chúa.

Tất cả những điều đẹp nhất của Kitô giáo đều nằm trong tình yêu thương có tính ngôi vị, đó là một sự gặp gỡ và sống với Chúa như một Đấng đang ở cùng chúng ta.

Việc gặp gỡ chính Chúa ở đây, dĩ nhiên, không phải chỉ là một lý thuyết, dù lý thuyết luôn góp phần định hướng quan trọng, mà là một “tinh thần”, một thái độ dính dáng đến cả phương thức quản trị trong Giáo Hội, dính dáng đến nội dung những lời rao giảng Tin Mừng, cũng như dính dáng đến cách diễn tả đức Tin trong nghi thức phụng vụ, trong đời sống cầu nguyện, trong đời sống tâm linh…

Không dám vơ đũa cả nắm, nhưng chúng ta vẫn có thể khẳng định rằng:

- Có nhiều người, trong suốt hành trình cuộc đời, đã không thực hiện được cuộc vượt qua thứ nhất, và đành an phận trong thế giới sự vật, suốt đời vẫn tìm cách gia tăng quyền bính của mình trên các sự vật và không ra khỏi chính mình để gặp gỡ tha nhân.

- Có nhiều Kitô hữu, không phải là số ít, đã chẳng thực hiện được cuộc vượt qua thứ hai, và vẫn sống mãi đời sống đức Tin trong thái độ Cựu Ước. Các Kitô hữu ấy sống đời sống đức Tin Kitô giáo với bao nhiêu lo âu, sợ hãi, vá víu để cố gắng đạt đến nước Thiên đàng.

Kết

Chúa Giêsu vẫn cất lời kêu gọi mọi người:”Hãy theo tôi”[Lc 5,27]; và người môn đệ của Chúavẫn phải thường xuyên đặt câu hỏi”Thầy ở đâu?”, để lại được nghe lời kêu mời ”Đến mà xem”[Ga 1,38]. Đó là một cuộc đối thoại không ngừng và là một cuộc sống liên đới không ngừng sống động qua hành trình lịch sử đời người.

Không có cách nào khác, con người chỉ có thể giải quyết vận mạng của mình khi nghe được kêu mời theo Chúa Giêsu, bước theo Ngài trong tình huynh đệ, tình bằng hữu. Đó là một mối tình có khả năng mỗi ngày mỗi giải gỡ thêm những nỗi cô đơn, mỗi ngày mỗi dầy thêm nghĩa tình khi chia sẻ cho nhau những gánh nặng của trách nhiệm và mỗi ngày lại mỗi thâm sâu hơn, vì được “ở trong nhau” một cách trọn vẹn hơn.

“Hãy ở lại trong Thầy

Như Thầy ở lại trong anh em”[ Ga 15,4].

Một cô gái làm thuê trong một gia đình giàu có. Cô ta và cậu chủ trong nhà yêu thương nhau tha thiết.

Khi biết chuyện, bà mẹ của cậu chủ gọi cô gái tới và nói: tôi biết cô và con trai của tôi yêu nhau. Nhưng con trai của tôi không thể lấy cô được. Vậy cô hãy cầm lấy số tiền rồi về quê làm ăn, kiếm tấm chồng khác.

Cô gái đau lòng, khóc lóc, nhưng cũng can đảm trả lời: Thưa bà, tôi không cần tiền, tôi cần tình yêu của cậu. Tuy nhiên, tôi yêu cậu nên tôi cũng sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của cậu. Bà cứ giữ lại những đồng tiền này. Ngay ngày mai tôi sẽ ra đi.

Không cần phải học hỏihay tập luyện nhân đức gì, cô gái, nhờ tình yêu, đã vượt trên tiền bạc và biết sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu. Đó là sự cao cả nhất của một đời người.

Bài 2.1 VÀI DỮ KIỆN CĂN BẢN TRONG NHIỆM CỤC CỨU ĐỘ DO THÁI _ KITÔ GIÁO

Trong niềm tin, chúng ta xác tín rằng nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô là con đường duy nhất để giải quyết vận mạng con người. Tuy nhiên, trong thời đại đa phức về tôn giáo, trong nỗ lực đối thoại và hợp tác với các tôn giáo khác cũng như với những nỗ lực nhân bản khác nhằm mang lại những gì tốt đẹp nhất cho nhân loại, chúng ta lại cần phải hiểu rõ nét riêng biệt và độc đáo của niềm tin vào ơn cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô. Quả thật chính trong cuộc đối thoại và hợp tác ấy mà chúng ta càng thấy rõ hơn những điều căn bản của niềm tin Kitô giáo. Trong chiều hướng ấy, xin tạm” hệ thống hóa” những dữ kiện căn bản của nhiệm cục cứu độ trong những điểm chính yếu như sau:

1. Gắn liền với cuộc sống

Mặc khải Do Thái – Kitô giáo khởi đi từ kinh nghiệm về những bất toàn trong cuộc sống hằng ngày, kinh nghiệm về đau khổ, chiến tranh, bệnh tật, ganh ghét, giết chóc… Giống như bao nhiêu tôn giáo và học thuyết cứu độ khác, chính những kinh nghiệm về đau khổ thôi thúc con người suy tư về nguyên nhân của chúng để có thể tìm ra con đường giải thoát. Mười một đoạn văn đầu tiên trong sách Sáng Thế đi trước các đoạn văn khác trong thứ tự Sách Thánh nhưng lại là niềm tin đến sau” kinh nghiệm” về cuộc sống. Chính những ưu tư về cuộc sống, được niềm tin soi sáng, đã hình thành nên những trình thuật về sáng tạo và sa ngã chứ không phải ngược lại.Cụ thể, có lẽ những đoạn văn này, sử dụng những truyền tụng trong dân gian, chỉ thực sự hình thành nên sách Thánh khi Dân Ít-ra-en đã vào đất hứa ( X. Nguyễn Thế Thuấn, Kinh Thánh Cựu Ước, Nxb. t/p Hồ Chí Minh, 1999, tiễu dẫn vào Cựu Ước, trang XXI-XXII) và ta có thể coi đây như là một minh giải những kinh nghiệm của cuộc sống dưới ánh sáng niềm tin được mặc khải.

Với ánh sáng mạc khải, các thánh ký trình bày nguyên nhân và nguồn cội căn bản nhất, sâu xa nhất của mọi trục trặc trong cuộc sống chính là tội phạm của con người. Đó là một nguyên nhân thuộc trật tự tôn giáo làm cho con người phải đau khổ và chịu chết. Đồng thời, mặc khải cũng mở ra một giải pháp, giải pháp giải gỡ khỏi tội và để mang lại hạnh phúc cho cuộc sống của con người.Đây cũng là một phải pháp mang tính tôn giáo, nhưng không phải một thứ tôn giáo đi bên cạnh cuộc sống hoặc thoát ra khỏi qui luật của cuộc sống. Con đường giải thoát này nhằm “sửa đổi” và hoàn tất chương trình sáng tạo, chứ không phải nhằm đào thoát khỏi thế giới để xây dựng một kiếp sống khác.

Như thế, tính cách tôn giáo ở đây, trước tiên và rốt ráo, không phải là một sự xa lánh thế gian, khinh chê trần thế, nhưng thực sự là một lòng trân trọng, là tấm lòng tha thiết với cuộc sống con người. Niềm hy vọng cánh chung của mạc khải cứu độ bao hàm sự thành toàn của tất cả tạo thành chứ không phải chỉ là một sự phá đổ, xóa sổ bàn cờ thế giới để xây dựng một thế giới khác lạ nào. Mạc khải Kitô giáo không phải là một thứ mạc khải dửng dưng, thuần khiết từ trên trời rớt xuống, nhưng là câu trả lời cho nỗi ưu tư khắc khoải của con người trước những vấn nạn của cuộc sống khổ đau.

2.Thực trạng con người

Nguyên nhân đau khổ và giải pháp cứu độ ấy chỉ có thể hiểu được trong một quan niệm về nguồn cội và bản chất của con người. Con người được Thiên Chúa, một Thiên Chúa duy nhất, sáng tạo “từ hư vô”. Chủ trương này gạt bỏ mọi hình thức đa phần và phiếm thần. Con người không phải là một thần linh bị sa đọa, không mang trong mình giọt máu thần linh nào. Con người “chỉ” được Thiên Chúa sáng tạo” giống hình ảnh Thiên Chúa”[ x. St 1,26-27].

Khẳng định này cho thấy vận mạng của con người hết sức cao quí, nhưng cũng hết sức “ bấp bênh”. Con người được đặt trong sự dằn co giữa sống và chết:

“Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn và cây cho biết điều thiện điều ác”[ St 2, 9]

Con người được trao phó cho quyền quyết định vận mạng của mình:

“Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: hết mọi trái cây của trong vườn, ngươi cú ăn, nhưng trái cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết”[ St 2, 16 - 17]

Được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người chỉ có thể thành toàn vận mạng của mình khi sống với Thiên Chúa, nhưng đây không phải là một sự hòa nhập tự động, đương nhiên, hoặc hòa tan hoàn toàn trong Thiên Chúa. Con người không có cùng bản tính với Thiên Chúa, nhưng được mời gọi đến với Ngài bằng tự do, bằng sự chấp nhận mối tương quan thân tình, bằng thái độ tín trung và giáo huấn của Ngài. Con người được mời gọi sống thân tình với Thiên Chúa, một “ Thiên Chúa là tình yêu”[Ga 4, 8]; và tình yêu trong quan niệm này luôn có tính chất “ tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Trong tình yêu ấy, con người vẫn là mình chứ không phải biến thành Thiên Chúa; con người “nên một” với Thiên Chúa bằng sự tự do chấp nhận thánh ý Ngài, chứ không phải biến tan trong Ngài.

Điều này làm cho tôn giáo trong truyền thống Do Thái Kitô giáo luôn có tính chất luân lý. Vận mạng con người được quyết định trong sự tự do lựa chọn, chứ không phải là một sự giải thoát kkhỏi u mê, lầm lạc. Lịch sử cứu độ là những bước thăng trầm của mối tương quan có tính ngôi vị giữa Thiên Chúa và con người chứ không phải là một chu kỳ xoay vòng tự nhiên của qui luật trời đất; tình yêu Kitô giáo luôn mang tính chất ngôi vị chứ không phải là một hòa đồng của bản tính.

3.Một nguyên nhân có tính toàn diện

Dưới ánh sáng mạc khải, thân phận con người được nhìn ở mức độ căn- để nhất, mức độ tôn giáo. Con người đã cắt đứt mối liên hệ với Thiên Chúa là Đấng sáng tạo, đánh mất “ hình ảnh Thiên Chúa” được ghi khắc trong tâm hồn, con người đã “quay về với tạo vật”, đó là nguồn cội của mọi đau khổ trên trần gian. Vận mạng con người được nhìn ở tầng sâu tôn giáo và nguyên nhân của đau khổ cũng được truy tìm ở mức độ tôn giáo. Việc truy nguyên này cho thấy tất cả những nỗ lực xoay sở, tu luyện của con người đều không thể giải quyết tình trạng vong thân hiện tại. Tội” tổ tông” không phải chỉ là một sự sai sót nhỏ tình cờ xảy ra, không phải là tình trạng cá biệt của một số người, hoặc chỉ làmột thứ sa đọa của một thời đại.” Tội tổ tông” liên quan đến tất cả mọi người và ảnh hưởng trên toàn bộ vận mạng của nhân loại. Nói như thế không có nghĩa là tất cả mọi người và mọi hành vi của con người hiện nay đều là xấu. Nhưng” tội tổ tông”, trước tiên, liên quan đến vận mạng chung của cộng đồng nhân loại và người ta không còn có thể tự mình xây dựng được một thế giới đại đồng, huynh đệ. Thứ đến, do ảnh hưởng của tội tổ tông, không một cá nhân nào có thể sống trọn vẹn” hình ảnh Thiên Chúa” đã được ghi khắc trong bản chất con người, không một ai có thể tự mình hoàn thành cuộc đời một cách trọn vẹn nữa. Thân phận con người trở nên” nhân vô thập toàn” và” con người là sinh vật có bệnh”. Thân phận con người trở nên” nhân vô Thân phận con người trở nên” nhân vô thập toàn” và” con người là sinh vật có bệnh”. thập toàn” và” con người là sinh vật có bệnh”. Khẳng định này, một cách nào đó, là một lời từ chối những hy vọng xoay sở, những phương cách siêu thoát bằng những nỗ lực trong mức độ con người.

Sau cùng,với” tội tổ tông” hoặc nói cách khác, với tình trạng đổ vỡ của thân phận con người, mỗi người đều liên lụy với cộng đoàn nhân loại trong những khiếm khuyết, trong mối tương tác thâm sâu của những người cùng hội cùng thuyền; và mọi người điều liên đới trách nhiệm với nhau trong tội lụy.

4.Ơn cứu độ duy nhất

Thay vì tìm những cách giải quuyết mang tính triết học như người Hy Lạp, hoặc mang tính luân lý như những nền đạo giáo phương đông,con đường giải thoát của Do Thái _ Kitô giáo lại hy vọng một ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa. Nguyên nhân căn bản của đau khổ thuộc trật tự tôn giáo và con đường giải thoát cũng chỉ có thể có được nơi một giải pháp tôn giáo, một ơn cứu độ để giải thoát thân phận chung của nhân loại và ơn cứu độ cần thiết một cách thiết yếu cho tất cả mọi cá nhân. Ơn cứu độ Do Thái – Kitô giáo không đề nghị một ngõ thoát hiểm riêng, không chỉ khuyến khích con đường tu đức hoặc một thái độ siêu thoát của các bậc chính nhân quân tử, không chào thua những đổ vỡ của thế giới và thân phận con người, nhưng trông cậy nơi một ngày thành toàn của tất cả tạo thành.

Nguyên nhân của đau khổ mang bản chất tôn giáo và con đường cứu độ là con đường, tự bản chất, cũng có tính tôn giáo. Sự đổ vỡ của nhân loại là một sự đổ vỡ chung thì ơn cứu độ chính yếu cũng là một cộng đồng hiệp thông trong ơn phúc, nhằm tới một sự phục hồi toàn thể thân phận con người. Như thế, có thể nói một cách lô-gích, ơn cứu độ nơi Đấng Mê-si-a trong truyền thống Do Thái-Kitô giáo, tự bản chất, thiết yếu là ơn cứu độ duy nhất. Nhân loại chỉ có thể tìm được lý tưởng cộng đồng hiệp nhất yêu thương; và cá nhân mỗi người chỉ có thể hoàn thành khát vọng sống hiệp nhất yêu thương trong cộng đồng nhân loại duy nhất ấy, nhờ một chung cuộc thành toàn do Thiên Chúa thực hiện mà thôi.

5. Tính cách lịch sử

Vũ trụ và nhân loại đã có một điểm khởi đầu trong chương trình sáng tạo và cũng có một thời điểm thành toàn chung cuộc. Nhiệm cục ơn cứu độ ấy được mang tên “lịch sử cứu độ”, trong đó, Thiên Chúa can dự vào cuộc hành trình của con người một cách kiên nhẫn; Thiên Chúa thích nghi vào tâm thức, kiến thức, văn hóa, mức độ luân lý của con người một cách quảng đại. Tính cách lịch sử là nét đặc trưng của con đường giải thoát Do thái _ Kitô giáo; đường lối ấy là một cách thức gắn liền với” qui chế hiện hữu” của con người. Con người sống trong thân xác và thực hiện vận mạng của mình qua một quá trình. Sự thành toàn của con người không phải chỉ do từ một quyết địng trong nháy mắt, nhưng do một thái độ lựa chọn liên lỉ, một sự trưởng thành từng ngày…

Con đường cứu độ như thế cũng không hệ tại một thái độ siêu thoát, một cú giác ngộ nhưng là lời mời gọi sống trung tín qua những lựa chọn hằng ngày, kết dệt nên một bề dầy nghĩa tình giữa Thiên Chúa và con người. Một cách nào đó, con đường cứu độ Do Thái _ kitô giáo diễn ra như một” đường ngang”, đón nhận và xuyên qua những biến cố, những sự kiện và hướng tới một chung cuộc hoàn tất cho cả lịch sử nhân loại.

6.Theo tinh thần Sê-mit và hoàn cảnh dân Ít-ra-en

Một sự kiện cụ thể là Thiên Chúa đã chọn dân Ít-ra-en để khởi đầu chương trình cứu độ của Ngài cho nhân loại. Việc chọn lựa ấy bao hàm cả những đường nét văn hóa cụ thể của dân Sê-mit (Sémites là tên gọi những chủng tộc được coi như thuộc dòng dõi ông Sem, một trong những người con của ông Noé. Những dân tộc thuộc nhóm Sémites thường được kể là: Assyriens, phéniciens, Ả-Rập và Hébreux. Kinh Thánh còn kể cả những dân Élamites, Araméens trong nhóm này). Lịch sử cứu độ vượt quá, nhưng không thể tách rời khỏi những dữ kiện căn bản ấy nữa. Chúng ta chỉ có thể hiểu được sâu xa đường lối cứu độ của Thiên Chúa cho con người qua nhiều phong tục, đường nét tinh thần của dân tộc này( Đức Thánh Cha Pio XI, trong bài phát biểu với đòan hành hương của đài truyền thanh Công Giáo Bỉ ngày 6-12-1938, nói rằng:” Tất cả chúng ta là những người Sê-mit trong tinh thần”[“ Nous sommes tous spirittuellement des sémites…”], Xc.Théos. Nouvelle Encyclopédie catholique, Droguet-Ardant/ Fayard, tr. 350a.)..Ta có thể kể ra một vài nét tiêu biểu:

6.1 Một kinh nghiệm riêng biệt

Có một số dân tộc khác cũng nhận mình là dân riêng của Thượng Đế, chẳng hạn dân Ai-Cập, Babylon… và dấu hiệu minh chứng cho phẩm tước đây là: một dân tộc lớn, văn minh, hùng mạnh, giầu có… Dân Ít-ra-en cũng nhìn nhận mình là dân riêng của Thiên Chúa, nhưng với một lý do hoàn toàn trái ngược:

“Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân”.[ Đnl 7,7]

Đó là kinh nghiệm riêng biệt và trở thành nét độc đáo đặc trưng của việc Thiên Chúa tuyển chọn trong lịch sử cứu độ. Nhiệm cục cứu độ là sáng kiến của Thiên Chúa, là ân huệ Tặng-không của Ngài chứ không phải do công nghiệp hay những tài năng của con người. Lịch sử cứu độ cho thấy Chúa thường tuyển chọn những người bình thường để trao phó những nhiệm vụ quan trọng; ngài đã dùng những người tầm thường nhất để cứu dân khỏi quân Madian [Tl 7,2.5-7]; bà mẹ của Samen tuyên xưng”cung nỏ người hùng bị bẻ tan, kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng” [l Sm 2.4]; Đa vít nhỏ bé hạ gục tên Phi-li-tinh khổng lồ [lSm 14,32]; nơi Bê-lem nhỏ bé, xuất hiện Đấng thống lãnh muôn dân[ Mk 5,11]; Mẹ Maria đã sống kinh nghiệm ấy với lời tuyên xưng mạnh mẽ”Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”[ Lc 1,52]; và những người Kitô hữu tiên khởi cũng là loại người”đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái” [xc. L Cr 1,26-29; 2, 3-5].

Ta có thể nói được rằng qui luật cứu độ ưu ái đặc biệt những người nghèo là một qui luật điển hình của nhiệm cục cứu độ [ xc Mt 11, 25-30]. Hơn nữa, lịch sử Cứu độ còn cho thấy những người nghèo, người bé mọn mới được tập họp thành”số sót lại” chứ không phải những người khôn ngoan hay những kẻ hùng mạnh:

“Ngày ấy, sấm ngôn của Đức Chúa, chiên nào què, Ta sẽ quy lại, chiên nào đi lạc xa,hay bị Ta giáng họa Ta sẽ tập họp về. Ta sẽ dùng chiên què làm số sót, biến chiên đi lạc thành dân tộc hùng cường. Đức Chúa sẽ cai trị chúng tại núi Xi-on từ nay đến muôn đời muôn thuở”[ Mk 4, 6-7].

Trong tinh thần ấy, kinh nghiệm của Thánh Phaolô,”vì khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” [2 Cr 12, 10], chính là một loại kinh nghiệm đặc trưng của DoThái –Kitô giáo.

6.2. Tiếp xúc cụ thể

Với đám dân tiêu biểu cho những người bình thường và tầm thường ấy, Thiên Chúa thực hiện cách thức cứu độ của Ngài cũng theo một cách thức rất bình thường của đời sống con người và mọi người có thể đón nhận được: tiếp xúc cụ thể. Người Do Thái không có “đủ” đầu óc siêu hình để khám phá những qui luật phổ quát trừu tượng, hình thành những hệ thống quan niệm bao trùm mọi vấn đề; họ không thể sống với những chân lý khách quan vô ngã. Để diễn tả một khái niệm trừu tượng, người Do Thái thường dùng một loạt các động từ cụ thể; chẳng hạn để diễn tả sự thông hiểu như người Hy Lạp, họ dùng động từ “mở tai”; từ ngữ “biết” của người Do Thái lại có nghĩa cụ thể là thân quen, là ăn ở với nhau; biết ai là có những liên hệ cá nhân với người ấy (X. Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, giáo Hoàng Học Viện PIOX, Đà Lạt 1971, tư ”Biết”.)…

Chính vì vậy, người Do Thái không suy diễn ra Thiên Chúa như mọi yếu tố cần thiết trong hệ thống tư tưởng; nhưng họ kinh nghiệm về Thiên Chúa qua những kỳ công dấu lạ của người. Trong mối tương giao với Chúa, sinh hoạt chính yếu trong đời sống con người là sinh hoạt phượng tự; thái độ công chính không phải chỉ là sống ngay lành, nhưng là trung tín với lề luật của Chúa.

6.3. Tương ngôi giao vị

Điểm đặc sắc nhất trong não trạng này là mối tương giao có tính cách ngôi vị. Hình ảnh Thiên Chúa không phải là một nguyên lý hợp lý bất biến và xa xôi ở đâu đó. Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một Thiên Chúa ngôi vị, có suy tư, có ước muốn, có tuyên phán, có lắng nghe, có sự phập phồng sống động trong mối tương giao ngôi vị. Ngài là” vị thần ghen tương” [xc. Xh 20,5]. Đối thoại với Ngài, Abraham có thể trả giá[ xc. St 17, 22-23], và Mô-sê trò chuyện: diện đối diện”[ xc. Xh 33,11].

Ở đây, trong não trạng” bình dân” của người Do Thái, trong trình độ của những người tầm thường, ngày nay người ta lại nhận ra được một điều cao cả nhất của vận mệnh con người: mối tương quan tạo nên một “cộng đồng ngôi vị”. Đó là sự liên đới, đón nhận trọn vẹn”cái tôi” của nhau, giống như mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ với con cái trong gia đình (X. Công Đồng Vatican II, MV 49.). Chính ở bình diện này ta có thể nhận ra nét độc đáo duy nhất và căn bản nhất của ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô.

6.4. Sống theo thần khí

Tính chất tương quan ngôi vị là một khác biệt lớn đối với tinh thần Hy Lạp mà Giáo Hội đã ít nhiều chịu ảnh hưởng; và cũng khác biệt với các nền luân lý khác, chẳng hạn luân lý Khổng Mạnh.

Người Hy Lạp tìm thấy lý trí hiểu biết như một dụng cụ chính yếu để sống và hoàn thành cuộc đời của mình. Chính lý trí giúp con người nhận thức được nguyên lý điều hòa trong vũ trụ[ logos] và sự hiểu biết ấy có khả năng làm thay đổi cuộc sống cho người cho đúng với định luật của vũ trụ, của thần minh. Như thế, đối với người Hy Lạp, sự khôn ngoan của lý trí hiểu biết có khả năng làm cho con người nên giống thần thánh, và triết gia chính là mẫu người số một trong xã hội.

Ngược lại, đường nét chính tinh thần Do Thái-Kitô giáo là sống mối tương quan với Chúa, sống theo sự chỉ dẫn của Thần Khí Chúa. Trong truyền thống này,”logos” của vũ trụ không phải là một yếu tố vô ngã, nhưng là một “Đấng”; và yếu tố quan trọng có khả năng làm thay đổi cuộc sống chính là để cho Thần Khí của Chúa tác động. Cuộc sống sự tương tác cụ thể giữa các” thần trí” [thần trí xấu và thần trí tốt] của người này với người khác ( Xc. Con người không được phân biệt thành hồn xác như người Hy Lạp, nhưng, ít nhất, gồm có thần xác, linh hồn và thần trí. Xc. 1Cr 2,10-16:” Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa”[ c. 11]; đặc biệt, điều quan trọng nhất trong cuộc sống là đón nhận được “Thần Khí” của Chúa. Như thế, tầm quan trọng của ngôn ngữ, của lời nói, của lời chúc lành hay chúc dữ… không hệ tại tính chất lô-gích nội tại của diễn từ, nhưng hệ tại bản chất của” Thần Khí”. Chính vì thế, sau bài giảng trên núi, Đức Giêsu được nhìn nhận là”Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” [Mt 7, 29].

Trong lịch dân tộc Do Thái, yếu tố có tầm quan trọng quyết định không phải thầy dạy khôn ngoan như trong truyền truyền thống Hy Lạp; không phải là các vua hìng mạnh như người Roma; không phải những nhà hiền triết xã hội Á Đông, nhưng chính là các ngôn sứ, những người đón nhận được Thần Khí của Chúa và là những người có đời sống như “bạn hữu” với Thiên Chúa.

Mặt khác, Thánh kinh chỉ quan tâm đến con người trong mối tương quan với Thiên Chúa và suy tư tất cả vận mạng con người trong mối tương quan ấy. Như thế, để hoàn thành cuộc đời của mình, con người cần được giao tiếp với Chúa một cách “tuân phục”, thân tình, và sẵn sàng để cho Thần Khí của Chúa thúc đẩy.

Những đường nét cơ bản nói trên có thể giúp chúng ta nhận ra nhiều điều khác biệt, những khác biệt căn bản, giữa niềm tin Kitô giáo vào những đường lối giải thoát khác. Kitô giáo không phải chỉ là đạo ăn ngay ở lành như mọi tôn giáo, theo kiểu người ta vẫn nói, nhưng là cùng với Đức Giêsu Kitô để nên “hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” [Mt 5,48]. Kitô giáo không phải là đạo giải thoát, theo nghĩa giúp con người, cá nhân hoặc tập thể, trốn thoát khỏi cuộc sống và thế gian này; nhưng là đạo cứu độ, cứu độ toàn thể vũ trụ và hoàn tất vận mạng của cả vũ trụ. Kitô giáo không phải là “đạo tại tâm”, nhưng là lời kêu gọi sồng liên đới cụ thể trong cộng đoàn những người được cứu độ. Kitô giáo không phải là một nổ lực luân lý thuần túy, nhưng là chấp nhận thân phận giới hạn căn bản và để cho sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa cùng nhập cuộc. Kitô giáo không thể được trình bày như một con đường dành cho những người ưu tuyển, để rồi, vô tình hay hữu ý, một số đông những người nghèo hèn, bé mọn bị loại trừ khỏi gia sản thừa kế mà Đức Giêsu đã chia sẽ cho cho con người; vì Thiên Chúa là Cha, và”Thần Khí của Cha” tỏ hiện đặc biệt nơi việc Thiên Chúa kêu gọi những người bé mọn tầm thường.

Tóm lại Kitô giáo là tình yêu, một tình yêu liên đới, chấp nhận và hy sinh cho nhau một cách cụ thể. Kitô giáo là tình yêu hy sinh của Thiên Chúa để gặp gỡ con người, và để nhờ tình yêu ấy, con người lại có thể liên đới, chấp nhận và hy sinh cho nhau. Kitô giáo là một tình yêu có ước vọng biến đổi cuộc sống này trở thành Nước Trời tràn ngập yêu thương.

Chính khi ý thức những khác biệt cơ bản ấy, người Kitô hữu nhận ra trách nhiệm loan báo Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu một cách có ý nghĩa hơn.

Kết

Chúng ta có thể minh họa cách thức Thiên Chúa cứu độ con người bằng câu chuyện sau :

Trong một cuộc đi cắm trại trong rừng, một số người bị rơi xuống một vực thẳm khá sâu; một số người khác đứng trên miệng hố, bàn bạc với nhau tìm cách cứu những người bên dưới:

Cách thứ nhất: mhững người đứng ở trên, nhờ nhìn thấy rõ đường đi nước bước, có thể hướng dẫn con đường phải theo để leo lên. Cách thức này coi tôn giáo như một học thuyết luân lý, một thứ đạo dạy ăn ngay ở lành và ai có khả năng thì theo. Cách thức này rất tốt cho những người có được một số điều kiện thích hợp nào đó: có ý chí, có hoàn cảnh xung quanh thích hợp, có kiến thức…; nhưng không phải là phương cách mọi người có thể theo được, nhất là đối với những người” tầm thường”, những người sống trong cảnh “bần cùng sinh đạo tặc”…

Cách thứ hai: những người đứng trên kêu gọi những người ở dưới hô lên điều gì mình cần: cuốc, xẻng, giây…, để những người ở trên thả xuống. Đây là thứ đạo xin sỏ. Cách thức này hay hơn ở chỗ mọi người đều có thể cầu xin, khấn vái. Tuy nhiên, cách thức này rất thực dụng, cầu xin những điều trước mắt mà không hề thấy lòng đạo liên hệ gì với đời sống luân lý thường ngày. Đây là thứ “ đạo” ở những “tụ điểm” linh thiêng như các đền Bà, Lăng Ông,… Đó là một thứ tôn giáo bình dân, cách thức này làm cho những người tín hữu hạ thấp phẩm giá của mình.

Cách thứ ba: vì thấy có nhiều người ở dưới vực đã có vẻ nản chí hoặc an vui với cuộc sống ấy, nên những người ở trên khuyến dụ bằng cách đe dọa và nhử mồi: mưa sắp đến, hết thức ăn,...; đồng thời cũng kể những niềm vui: ráng lên khỏi vực ta sẽ đi nhậu…, nhằm để kích thích sức mạnh của những người ở dưới vực và để họ tự mình leo lên. Đây là thứ đạo thưởng phạt. Cách thức này có lẽ không tương ứng với một tôn giáo chính danh nào, nhưng lại biểu lộ trong nhiếu tôn giáo, đặc biệt trong chương trình sống đạo của người Kitô hữu…Cách thức này làm cho con người trở nên trẻ con, ấu trĩ, bị dẫn dụ bằng những phần thưởng và hình phạt…

Cách thứ tư: những người ở trên thòng dây xuống, những người dưới hố bám vào dây để những người bên trên kéo họ lên. Cách thức này tương ứng với đạo Cựu Ước, biểu lộ một sự can dự của Thiên Chúa vào cuộc sống con người, nhưng còn là một sự can thiệp” từ xa”. Cách thức này cũng có phần nào”bỏ rơi” những người không có đủ khả năng sống đạo, như ta thấy trong đạo Do Thái thời Chúa Giêsu; và cũng chưa diẽn tả được nét chính yếu của mầu nhiệm cứu độ Kitô giáo.

Cách thứ năm: Một người ở trên nhảy xuống, nắm tay và cùng với những người bị nạn để leo lên. Cách cuối cùng là cách cứu độ của thiên chúa chúng ta, qua mầu nhiệm nhập thể và cứu độ của đức Giêsu Kitô. Con người được mời gọi sống với “ Đức Giêsu dưới vực thẳm” như một người bạn.

Hình ảnh trên đây chăc chắn không thể diễn tả trọn vẹn Nhiệm cục Cứu độ của Thiên Chúa, nhưng có lẽ có thể giúp ta nhận ra một số sai lạc vẫn có và vẫn chi phối không nhỏ trên đời sống đức Tin của người Kitô hữu.

“Đạo ăn ngay ở lành”, “đạo xin sỏ” hay “đạo sợ hãi”, đều không thể thể hiện được nét căn bản của tinh thần Do Thái Kitô giáo. Hơn nữa, nẻo đường” thả dây’ cũng chưa diễn tả được nét “ đạo bằng hữu” mà Chúa Giêsu đã thể hiện trong mầu nhiệm nhập thể.

Một đường lối cứu độ chân chính phải đáp ứng được, ít là hai tiêu chuẩn cơ bản: mọi người có thể đón nhận được, và không hạ giá nhân phẩm của những người cần cứu độ. Kitô giáo là một hồng ân đặt biệt, thể hiện trong một đường lối cứu độ vừa tôn trọng phẩm giá con người vừa có khả năng đón nhận được tất cả mọi người, đặt biệt là những người nghèo hèn và tầm thường nhất. Kitô giáo là đạo của một Thiên Chúa Cha, đạo của một Đức Giêsu là bạn và là đạo của Thần Khí Nghĩa Tử được ban cho con người.

Hình ảnh vừa kể có thể giúp chúng ta nhận ra nét độc đáo của phương cách cứu độ nơi Đức Giêsu, Ngài nhập thể làm người, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế, yêu thương cho đến cùng…; và chính ngài mở đường như người đồng hành cho chúng ta đi vào gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa.

Xem tiếp phần 2