Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 10 (Phần cuối)

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Suy niệm Tin Mừng Ga 3, 25-30 "25Bấy giờ, có một cuộc tranh luận xảy ra giữa các môn đệ của ông Gio-an và một người Do-thái về việc thanh tẩy. 26Họ đến gặp ông Gio-an và nói : "Thưa thầy, người trước đây đã ở với thầy bên kia sông Gio-đan và được thầy làm chứng cho, bây giờ ông ấy cũng đang làm phép rửa, và thiên hạ đều đến với ông." 27Ông Gio-an trả lời: "Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban. 28Chính anh em làm chứng cho thầy là thầy đã nói : 'Tôi đây không phải là Đấng Ki-tô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người.' 29Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. 30Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi”.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

XII. Thánh Đaminh BÙI VĂN ÚY

Thày giảng dòng Ba Đaminh (1812-1839) / Ngày 19 tháng 12

Suy niệm Tin Mừng Ga 3, 25-30

"25Bấy giờ, có một cuộc tranh luận xảy ra giữa các môn đệ của ông Gio-an và một người Do-thái về việc thanh tẩy. 26Họ đến gặp ông Gio-an và nói : "Thưa thầy, người trước đây đã ở với thầy bên kia sông Gio-đan và được thầy làm chứng cho, bây giờ ông ấy cũng đang làm phép rửa, và thiên hạ đều đến với ông." 27Ông Gio-an trả lời: "Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban. 28Chính anh em làm chứng cho thầy là thầy đã nói : 'Tôi đây không phải là Đấng Ki-tô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người.' 29Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. 30Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi”.

Người đóng trọn vai phụ

Đaminh Bùi Văn Úy sinh năm 1812 tại họ Tiên Môn, làng Kẻ Rèm, tỉnh Thái Bình. Từ bé cậu đã được gia đình gởi vào nhà xứ, sống với cha Tự. Sau khi học thành thày giảng, thày luôn hoạt động bên cha tại xứ Kẻ Đanh rồi Kẻ Mốt (Bắc Ninh).Thầy bị bắt lúc mới 26 tuổi.

1. Khát vọng cuộc đời

Khát vọng được là chính mình là một khát vọng chân thật. Tuy nhiên, trong khi con vật được sinh ra và đương nhiên nó là nó, thì con người sinh ra còn cần phải “nên người”, cần phải “thành nhân”. Trong con người luôn có khát vọng vươn lên, vượt qua chính điều mình đã là để trở thành điều mình sẽ là. Khát vọng ấy thật chân chính, vì đó không là gì khác hơn chính khát vọng Thiên Chúa đặt để trong con người để con người khát vọng chính Chúa.

Ơn gọi làm người cao quí như vậy, nhưng ơn gọi ấy cũng là thách đố lớn lao nhất của phận người. Chính khát vọng vươn lên một cách không chân chính là nguyên nhân của tội tổ tông cũng như của muôn vàn thứ tội trong lịch sử con người. Con người khát vọng vươn lên và luôn muốn xác định vị thế của mình bằng cách đặt mình vào mối tương quan với ai khác. Qủa thật con người là tương quan, con người là chính mình trong tương quan.

Người ta có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theo hệ qui chiếu; người ta có thể là đẹp hay xấu tuỳ vào việc so sánh với những người xung quanh.... Và đây là thách đố lớn, gây ra biết bao nhiêu khổ luỵ trong cuộc sống con người.

Một khi người ta muốn xác định mình trong tương quan so sánh với người khác, một sự so sánh hàm chứa bài toán hơn thua, người ta sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn vô vọng của phận người. Tôi giỏi thì sẽ có người khác giỏi hơn tôi. Tôi kém thì đương nhiên vận mạng cuộc đời tôi đã là một sự thua cuộc.

Một khí con người tìm được sự xác định chính mình trong tương quan cội nguồn, trong tương quan của tình yêu chân thật thì người ta sẽ tìm thấy được vị thế của mình như một tuyệt đối. Ghen tuông gây ra biết bao nhiêu đau khổ. Tuy nhiên, ghen nghĩa là muốn “tôi phải là số một”, và đây là một tình cảm thật, là khát vọng đúng. Ở đây, cũng như trong nhiều lãnh vực khác, ta có thể thoáng thấy con người chỉ có thể tìm được chính mình một cách chân thực trong tương quan với Chúa mà thôi. Tôi chỉ hoàn toàn thoả mãn khát vọng “ghen” khi tôi nhận ra Chúa nhìn tới tôi và yêu thương tôi vì chính tôi. Bởi vì, đối với Chúa, mỗi con người là một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải kỹ thuật; và trong ý định của Thiên Chúa, mỗi con người đều có phẩm giá tuyệt đối (X. MV 24). Giống như người mẹ, mặc dù có nhiều đứa con, thì tình thương của mẹ dành cho mỗi đứa con vẫn trọn vẹn, trọn vẹn như một đứa con duy nhất, thì cũng thế, chỉ có một Thiên Chúa mới có thể yêu thương mọi người và mỗi người, yêu thương mỗi người một cách tuyệt đối.

Lần khác quan như muốn dạy khôn thày : "Anh còn trẻ hãy nghĩ lại và khôn ngoan một chút, ta chỉ yêu cầu anh bước qua một khúc gỗ mà". Thày Úy đáp : "Đúng là khúc gỗ thưa quan, nhưng khúc gỗ đó tượng trưng cho Chúa tôi thờ. Quan nghĩ sao nếu tôi đạp lên ảnh vẽ hình cha mẹ tôi ?".

2. Vai chính và vai phụ

Chính khát vọng căn bản và chân chính ấy là thách đố căn bản của kiếp người. Một khi chấp nhận mối tương quan thân tình với Chúa, con người được là mình và được quyền “ghen”, được quyền khát vọng là “số một” nơi tình thương của Thiên Chúa. Chỉ bằng con đường này, con người mới tìm thấy được mảnh đất vững chắc để đứng, tìm được cội nguồn phong phú để yêu, tìm được sức sống chân thật để dám cho đi trong tình yêu.

28 Chính anh em làm chứng cho thầy là thầy đã nói : 'Tôi đây không phải là Đấng Ki-tô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người.' 29 Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. 30 Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi.

Ngược lại, khi không còn có Chúa, từ nền tảng, con người cảm thấy xao xuyến vì chưa được là mình, và người ta tìm mọi cách để mình được là “vai chính” trong lối nhìn so sánh với ai khác. Được là vai chính, đó là khát vọng chính đáng, nhưng điều quan trọng trong cách giải bài toán cuộc đời chính là : mỗi người được là vai chính đối với ai ? với Chúa hay với con người ?

Bình thường, trong lối nhìn so sánh của xã hội, người ta sẽ tìm xác định bản thân mình trong sự hơn thua với người khác. Đó là một nguy cơ, vì người ta đã tìm một chuẩn mực sai. Chuẩn mực sai, khiến cho việc biết được sự thật về chính mình cũng sai, và đây là nguyên nhân của biết bao nhiêu đổ vỡ trong cuộc sống hôm nay.

Nếu so sánh vai này với vai kia, người ta có thể thấy một sự bất công. Nhưng nếu đặt mỗi vai trong cái nhìn toàn thể của bộ phim, thì mọi vai trò đều có giá trị riêng, giá trị độc đáo, giá trị tuyệt đối. Trong đời sống xã hội cũng giống như trong một bộ phim, một vở kịch, luôn có kẻ đóng vai chính và có kẻ đóng phải phụ. Không thể mọi người đều đóng vai chính cả. Tuy nhiên, trong phim ảnh, tiểu thuyết hay trong cuộc đời thực, cả vai chính và vai phụ đều cần thiết, cần thiết một cách thiết yếu để bộ phim được thành toàn tốt đẹp.

Ước mơ lớn nhất của thày Uý là được đóng vai "Lê Lai thế mạng" để cha Tự khỏi bị bắt. Khi đào hang trú ẩn, thày đào hai ngăn rồi tình nguyện ở ngăn bên ngoài. Thày nói với mọi người : "Nếu các quan đến truy lùng, tôi sẽ ra trước nộp mình để cha khỏi bị bắt, hầu cha có thể giúp anh chị em".

3. Phẩm giá và chức năng

Cũng như trong một gia đình, phẩm giá của mọi người đều bình đẳng với nhau, nhưng không thể cào bằng mọi chức năng. Đứa con có phẩm giá bằng với cha mẹ, nhưng đứa con không có chức năng làm chủ gia đình. Cũng như trong một lớp học, thầy cô và học sinh đều bình đẳng về phẩm giá; điều đó không có nghĩa là học trò có thể đóng vai trò (chức năng) dạy học, còn thầy cô lại trở thành học sinh...

Một xã hội, cũng như một cộng đoàn, đều cần phải vượt qua não trạng nhập nhằng giữa phẩm giá và chức năng. Chức năng giúp cho vận hành của cộng động được xuôi xắn, tốt đẹp, và có những người đóng vai trò quan trọng hơn và có những người có vai trò nhỏ bé hơn trong guồng máy. Nhưng người ta sẽ “ăn gian” khi nghĩ rằng một chức năng quan trong làm gia tăng phẩm giá làm người. Một ông giám đốc hống hách với công nhân, một người trí thức khinh rẻ những người bình dân thất học, hoặc một đại gia vung tiền để điều khiển người khác...đều là những lối sống ăn gian.

Phẩm giá một con người nằm ở chính ngã vị căn bản,

Hôm khác khi bị dụ dỗ bước qua Thánh Giá, thày khẳng khái nói : "Thưa quan có giám bước qua mặt Đức Vua không, mà lại bảo tôi bước qua mặt Chúa tôi được?". Quan nghiêm nghị phán : "Tên phạm thượng ta sẽ chém đầu mi". Người chiến sĩ đức tin vui vẻ reo lên : "Anh em ơi, tôi sắp được chém đầu rồi".

Như thế, vai phụ trong tấn tuồng xã hội, không có nghĩa là vai phụ trong cuộc đời của mỗi người. Mỗi người đóng trọn vai trò của mình, hoàn thành vai trò của mình, thực hiện đúng phẩm giá của mình như Chúa muốn và điều đó sẽ được chính Chúa xác nhận như vai chính quan trọng nhất.

Điều khá là lùng là :

khi con đóng vai chính, con được mọi người chăm chú khen ngợi. Con vinh vang, nhưng đó là thứ vinh vang nhạt nhẽo.

Khi con đóng trọn vai phụ của con trong cuộc đời, con hiểu ra mình đang đóng vai chính trong lòng những người thân yêu nhất của con. Vai chính trong mối tương quan nhân thân, tình nghĩa này quả là chân thực và đậm đà.

Có phải Chúa vẫn thương con bằng tình nghĩa đậm đà ấy, ngay cả khi con tầm thường, quá tầm thường trong cuộc sống ?

Có phải con đã bỏ quên một mối tình đậm đà dành riêng cho con !

XIII. Thánh Vinh Sơn PHẠM HIẾU LIÊM

Linh mục dòng Đaminh - (1732 – 1773) / Ngày 07 tháng 11

Suy niệm Tin Mừng Lc 12, 49-53

49 "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! 50 Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất !

51 "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. 52 Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. 53 Họ sẽ chia rẽ nhau : cha chống lại con trai, con trai chống lại cha ; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng."

Cái lý và cái lẽ

Vinh sơn Phạm Hiếu Liêm mở mắt chào đời năm 1732 tại Thôn Đông, làng Trà Lũ, Phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam Hạ. Thân phụ cậu, ông Antôn Doãn, là một thân hào trong thôn. Thân mẫu cậu, bà Maria Doãn, một người mẹ đạo đức, đã hết mình với việc giáo dục con cái. Năm 12 tuổi, cậu Liêm vào tu trong nhà Đức Chúa Trời ở Lục Thủy.

1. Bình an của Chúa

Đối với Kito giáo, khát vọng bình an của con người và ơn huệ bình an của Chúa được tỏ lộ rất rõ ràng. Bầu khí mùa Gíáng Sinh đã luôn vang vọng từ ngữ “bình an” cùng với lời hát của thiên thần : “bình an dưới thế cho người Chúa thương”. Đức Giêsu chỉ thị cho các môn đệ, khi đi rao giảng Tin Mừng, trước tiên hãy chúc bình an : “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : "Bình an cho nhà này !"(Lc 10,5). Đức Giêsu nhiều lần chúc bình an cho các môn đệ, đặc biệt là sau khi Phục Sinh....

Sau ba năm học thành công xuất sắc, thày Liêm xin gia nhập dòng Đaminh và lãnh tu phục ngày 09.09.1753. Năm sau, thày tuyên khấn trọng thể cùng với ba tu sĩ đồng hương và lấy biệt hiệu là Vinh Sơn Hòa Bình (Vincente de la Paz). Tiếp đó, thày Vinh Sơn học thêm bốn năm thần học và được thụ phong linh mục năm 1758.

Thế mà, ở đây, chúng ta lại nghe một lời nói chướng tai của đức Giêsu : "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51).

Quả thật không dễ hiểu chút nào ! và quả thật ta cũng thấy có nhiều cách giải thích loanh quanh không đủ thuyết phục.

Bình an, hoà bình là khát vọng muôn đời của nhân loại. Dĩ nhiên sứ điệp cứu độ của đức Giêsu cũng nhằm mang lại sự bình an cho nhân loại. Nhưng Ngài lại nhắc nhủ : “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian“(Ga 4,27)

Chúng ta biết não trạng của Người Do Thái vốn không quan tâm nhiều tới việc nối kết hợp lý những khái niệm trừu tượng cho bằng việc công bố mang tính ngôn sứ, nghĩa là gắn liền một biến cố với ý nghĩa mà Thiên Chúa muốn tỏ lộ. Chắc chắn lối suy tư của người Do Thái nói chung và của đức Giêsu không phải là một thứ “tiền luận lý” hàm chứa mâu thuẫn, nhưng là một lối suy tư trong mối bận tâm lớn nhất : muốn tìm giải pháp cuộc đời trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, muốn tìm ý nghĩa siêu việt, vượt quá cách nghĩ bình thường...

Do vậy, nếu đức Giêsu đã phải nói một cách mạnh mẽ về một sự nghịch lý : Thầy đem chia rẽ chứ không phải hoà bình..., thì chúng ta cũng biết Ngài muốn nhấn mạnh về một tình trạng phổ biến của con người : mơ tưởng một thứ hoà bình dễ dãi, tìm thứ hoà bình giả tạo, xây dựng một thế đứng hoà bình tạm thời ...

Đi đến cùng của vấn đề, ta hiểu ra: quả thực không thể có thứ hoà bình xuê xoa, ngoảnh mặt trước bất công, vùi lấp những oan khiên chồng chất trong dòng lịch sử. Như một vết thương nhiễm độc cần phải mổ xẻ, một núi oan khiên dồn nén cũng cần phải có một thứ “bạo lực” nào đó...

Muốn có hoà bình chân thật, hoà bình được xây dựng trên chân lý vững bền và chân thật, lại cần phải chấp nhận chia rẽ, chấp nhận thứ “bạo lực” nào đó... Có thứ chia rẽ để phá tan nhưng cũng có thứ “chia rẽ” để hợp nhất trọn vẹn hơn; có thứ bạo lực để bùng vỡ nhưng cũng có thứ “bạo lực” để hàn gắn. Và điều hết sức quan trọng cần biện phân, đó là việc chấp nhận chia rẽ và bạo lực ở đây, theo đường lối của Tin Mừng, không phải là dùng phương thức của thế gian để chơi với thế gian, không phải lả dùng bạo lực để chống lại bạo lực... mà là chấp nhận để cho qui luật của thế gian ập xuống, đổ xuống trên bản thân mình; là lãnh nhận bạo lực vào thân mình, để hoá giải chúng bằng sự hy sinh bản thân trong thứ “yêu đến củng” (X. Ga 13,1).

Thánh Vinh Sơn Liêm nhận lấy danh hiệu hoà bình, nhưng ngài cũng phải chấp nhận chia rẽ, chấp nhận gươm giáo, chấp nhận bạo lực... trên chính bản thân của mình.

2. “Cái lý” và “cái lẽ”

Ngôn ngữ tiếng Việt khá mộc mạc nhưng rất tinh tế khi dùng hai từ “lý” và “lẽ”. “Lý” là tính cách lô-gích của những yếu tố bên ngoài, là thứ chân lý khách quan thuần tuý chung cho mọi người. “Lẽ” là mạch sống bên trong gắn liền với tự do lựa chọn và niềm xác tín nội tâm của một con người. “Lẽ sống” không luôn đồng nhất với “lý sự”. Hai bình diện này tương tác mật thiết với nhau, nhưng cũng có khi bị tách biệt hoàn toàn với nhau.

Có những người có nhiều “lý” và nói nhiều “lý”, khẳng định nhiều kiến thức... nhưng lại không có một sự thôi thúc sống những điều mình nói. Cha ông ta diễn tả loại người ấy là “mồm miệng đỡ tay chân”, đó là thứ “môi mép”, thứ “tuyên xưng ngoài miệng”. Loại người này, dễ rơi vào tình trạng nói mà không làm, tình trạng giả hình...

Nhưng cũng có những người bộc lộ “cái lý” như một sự trào vọt từ “cái lẽ” bên trong, đây là những người nhiệt thành, muốn lao cả cuộc đời mình vào một sứ vụ.

"Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! 50 Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất !

Cái lẽ sống tạo nên một sự thống nhất của cả con người, định hướng cuộc đời và thôi thúc dấn thân đến cùng như một đòi hỏi tuyệt đối trong tâm hồn. Với lẽ sống, con người không khiếp sợ những đe doạ, không dễ dàng thích nghi để lấy lòng người khác, không dễ dàng du di, không quá lo lắng thứ lịch sự bên ngoài hoặc những tục lệ chỉ nặng “lễ nghĩa”. Nơi Đức Giêsu, ta thấy được một dáng đứng rõ nét của lẽ sống, một sức mạnh không từ nhượng bất cứ điều gì, một sức mạnh tuôn trào từ lẽ sống chân chính của Ngài.

"Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”. (Lc 12,51)

Thánh Vinh Sơn Liêm là mẫu người thiết tha làm chứng cho Chúa bằng lời rao giảng, làm chứng đạo lý của Chúa bằng những tranh luận trong Hội Đồng Tứ Giáo, và trong những cuộc đàm luận với những bậc quyền quí trong nước...

Có một quan lớn là chú của chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Mẹ của quan lớn, bà Thượng Trâm, quê xứ Hải Dương, vốn có đạo. Nhiều lần bà khuyên con tòng giáo. Quan lớn liền nảy ra sáng kiến triệu tập đại diện bốn tôn giáo để trình bày về đạo của mình. Quan nói: "Lòng ta chuộng sự thật muốn biết đạo nào là đạo chính để thờ phượng". Cuộc trao đổi kéo dài ba ngày, mỗi ngày một vấn đề về nguồn gốc con người, mục đích cuộc đời và đời sau của mỗi người. cha Liêm và cha Gia đại diện đạo Thiên Chúa đã khéo léo trình bày đến nỗi quan lớn phải trầm trồ khen ngợi...

Những lời lẽ nhã nhặn và sáng sủa, những phân tích sâu sắc về lịch sử với các trích dẫn chính xác kinh điển của Khổng Tử, Lão Tử và Phật Giáo, đã được ghi lại trong cuốn "Hội Đồng Tứ Giáo".

Nhưng thánh Vinh Sơn Liêm không phải thuộc loại người chỉ biết “cái lý” bên ngoài. Từ khi còn dạy học ở chủng viện Trung Linh, cha đã tha thiết muốn dấn thân rao giảng Tin Mừng. Chẳng những cha hằng say với sứ vụ mục tử ở giáo xứ, nhưng cha còn thiết tha rao giảng Tin Mừng cho các làng ngoại giáo, muốn dấn thân ở những vung nguy hiểm nhất của thời cấm đạo, và không nề hà bất cứ điều kiện sống khó khăn nào...

“Cái lý” và “cái lẽ” nơi cha Vinh sơn Liêm đan quyện vào nhau, bổ túc và thôi thúc nhau, làm nên một mẫu tu sĩ Đa Minh : nếp sống “nói với Chúa và nói về Chúa”, tinh thần “thiết tha với ơn cứu độ các linh hồn”, đảm nhận sứ vụ “dấn thân vào những biên cương mới”...

3. Trở nên “Hạt giống hoà bình”

Hoà bình không rơi từ trên không trung; hoà bình không đơn giản có thể hình thành nhờ tình trạng giác ngộ của cá nhân; hoà bình cũng không đơn giản một sự kềm chế các thế lực đối kháng của thế giới bên ngoài, hoặc những xung đột nội tâm mỗi con người. Hoà bình chỉ được thực sư xây dựng từ trên nền móng của thực tại, một thực tại hỗn độn, hư hoại, nhưng được đảm nhận bằng dòng sự sống của chứng tá.

Ngày 07.11, hai cha bị đem đi xử, dân chúng đi xem rất đông. Khi đoàn người dừng trước hoàng cung, một viên quan đọc bản án. Theo phong tục thời đó, lúc này vua có thể ân xá cho tội nhân. một viên quan khác lớn tiếng nói : "Hoa Lang Đạo đã bị nghiêm cấm, nhưng cho đến nay, chưa người dân Việt nào bị xử tử vì đạo này (6) nên vua đại xá cho tên Liêm". Nghe thế cha Liêm vội lên tiếng thưa rằng:

"Cha Gia bị án trảm quyết vì lẽ gì thì cũng phải lên án trảm quyết cho tôi vì lẽ đó. Cha Gia là đạo trưởng, tôi cũng là đạo trưởng. Nếu luật nước không kết án tôi thì cũng không được kết án cha Gia. Vì tôi là công dân nước Việt, lẽ ra tôi phải giữ luật nước hơn ngài. Nhưng nếu giết cha Gia, còn tôi lại tha, án của vua không công bằng. Yêu cầu tha thì tha cả hai, giết thì giết cả hai. Thế mới là án công bình".

Khó có thể bắt bẻ được “cái lý” của cha Vinh sơn Liêm, cái lý vững chăc. Cái lý ấy đỏi hỏi quan phải tha cho cả hai người hoặc giết cả hai người. Cái lý ấy cũng cho thấy một sự điềm tĩnh phát xuất từ cái lẽ bên trong, khác xa với thái độ khôn vặt, khác với kiểu lý sự cùn, khác với những thứ “suy tư minh hoạ” chỉ để hùa theo lập trường của ai đó.

Cái lý và cái lẽ của cha Vinh sơn Liêm đưa cha đến cái chết. Nhưng cái chết ở đây lại chính là biểu lộ của một dòng sự sống. Có một thứ chết nằm ngay trong lòng sự sống, khi mà sự sống trở thành vô nghĩa; và có một thứ “sống” ngay trong lòng cái chết, khi mà sự sống thể hiện trọn vẹn ý nghĩa chân chính ngay trong cái chết, ý nghĩa chân chính như một nhịp cầu để đưa sự sống trần gian bước vào sự sống vĩnh cửu.

Hai vị anh hùng đức tin đã vui mừng đọc kinh Tin Kính và hát kinh Lạy Nữ Vương trên đường ra pháp trường Đông Mơ. Những nhát gươm định mệnh, chứng tá tuyệt hảo cho Đức Kitô. Thi hài các ngài được rước về an táng tại Trung Linh.

Sự sống biểu lộ tính phong phú khi sự sống trào vọt từ “cái lẽ” đến cái lý”; sự sống thể hiện được ý nghĩa chân lý, khi sự sống dám chấp nhận con đường yêu thương và yêu đến cùng như lẽ sống duy nhất của đời mình.

Nỗi khắc khảo của đức Giêsu cho thấy một đà sống sung mãn và chân chính, những lý và lẽ của thánh Vinh Sơn Liêm cũng không là gì khác hơn việc nối tiếp mạch sống từ chính Đấng là nguồn mạch sự sống đích thực.

Chúa ơi, khi “có tuổi” một chút, con mới hiểu rằng : sống không phải là dễ.

Phải chiến đấu với bệnh tật, đó cũng đã là nỗi lo thường xuyên trong con.

Nhưng để sống trọn vẹn ý nghĩa sự sống Chúa ban, điều đó lại càng khó khăn hơn biết mấy;

Và lạy Chúa, có lẽ chỉ khi thấy khó, thấy nỗi bất lực của đời con, thì con mới hiểu ra : con cần Chúa biết bao !

Lời Bạt

* Đức Tin Kito giáo gắn liền với thực tại,

không phải là một tôn giáo xuê soa,

“bôi dầu nóng” lên những vết thương rỉ máu,

bằng những ý tưởng thoát tục hoặc thuần luân lý...

* Hành trình của đức Tin Do Thái Kito giáo

là hành trình dấn thân, đón nhận cuộc đời thật,

đón nhận lịch sử thật,

và biến lịch sử đời thành nên lịch sử ơn cứu độ.

Đức Tin tìm cách xử lý những biến cố, những xung đột trần thế

bằng cách khám phá chân lý siêu hình,

thứ chân lý chân thực và sâu xa nhất của thực tại

được sáng tỏ dưới ánh sáng Tin Mừng.

* Thực tại không phải chỉ là những gì người ta nhìn thấy bằng mắt,

Có thể, nghe, sờ, hoặc cân đong đo đếm theo lượng tính.

Đó mới chỉ là thực tại thô.

Trong ánh sáng đức Tin, thực tại phải được nhìn từ thế đứng của con người,

kẻ được trao quyền “đặt tên cho muôn vật” (X. St 2, 18-21).

Do đó, thực tại luôn gắn liền với ý nghĩa.

Có những ý nghĩa chỉ là chiếc áo mặc thêm cho thực tại,

nhưng “ý nghĩa siêu hình” chính là “da thịt” làm nên hình hài căn bản của “bộ xương sự kiện”...

* Sự sống là thực tại căn bản.

Yêu thương là ý nghĩa siêu hình của sự sống.

Sự sống không yêu thương là sự sống đi vào con đường cụt.

Sự sống ấy đã nằm trong thòng lọng của sự chết.

* Nguyên tổ đã phạm tội.

Sự sống nguyên thuỷ không còn ý nghĩa siêu hình

Sự sống không còn giữ được hình hài chân thực.

Tất cả vũ trụ trở nên hỗn độn.

Mọi thực tại đều bị biến dạng.

Môi trường sinh thái của thực tại trở nên chiến trường,

* Quyền lực và cạnh tranh đang nghiền nát thế giới,

tạo ra những “chất thải”

là oan khiên, là bất công, là sự chà đạp phẩm giá người....

Oan khiên, bất công... sẽ tiếp tục trở thành ngòi nổ chiến tranh

Đó là vòng tuần hoàn của sự chết.

* Chỉ có một nẻo đường để hoá giải oan khiên

Nẻo đường của sự sống chân thực

Nẻo đường đưa tình yêu đến vực thẳm sâu nhất của thực tại

Oan khiên được đón nhận bằng một tình yêu lớn nhất :

Tình yêu tha thứ.

Và sự sống tìm lại được ý nghĩa siêu hình.

* Có một bài hùng ca về sự sống

Sự sống là chân lý

Sự sống không bị vùi dập do cái chểt

Sự sống là sự thiện

Sự sống không bị mua chuộc bởi hận thù

và

Sự sống cất lên bài ca mới

Bài ca được viết bằng máu

Bài ca có cung điệu trầm hùng

Bài ca về nét đẹp lung linh nhất trần gian

Bài ca tử đạo.