Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 9

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Suy niệm Tin Mừng Mt 8,16-22 "16 Chiều đến, người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giê-su. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, 17để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a : Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta. 18Thấy xung quanh có đám đông, Đức Giê-su ra lệnh sang bờ bên kia. 19Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng : "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." 20Đức Giê-su trả lời : "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." 21Một môn đệ khác thưa với Người : "Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã." 22Đức Giê-su bảo : "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ."

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

VIII. Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông)

Trùm họ (1790-1855) / Ngày 15 tháng 7

Suy niệm Tin Mừng Mt 8,16-22

"16 Chiều đến, người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giê-su. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, 17để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a : Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta.

18Thấy xung quanh có đám đông, Đức Giê-su ra lệnh sang bờ bên kia. 19Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng : "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." 20Đức Giê-su trả lời : "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."

21Một môn đệ khác thưa với Người : "Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã." 22Đức Giê-su bảo : "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ."

Đi cho trọn hành trình

Anrê Nguyễn Kim Thông sinh khoảng năm 1790 tại Gò Thị, một họ đạo kỳ cựu nhất của giáo phận Qui Nhơn, thôn Xuân Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, cách tỉnh 20 cây số về hướng Bắc. Ông còn có tên khác là Năm Thuông.

1. Đời người như một hành trình

Cuộc đời con người như một cuộc hành trình. Hành trình được khởi hành từ ngày cất tiếng khóc chào đời; được đón nhận bao nhiều công sức và tình nghĩa của cha mẹ, ông bà, người xung quanh để mau lớn khôn; hành trình vươn lên với khát vọng được ăn học thành tài,... Người ta khát vọng tìm được đỉnh cao của đời người...

Nếu không có khát vọng vươn lên, cuộc sống con người sẽ chằng còn dáng vẻ người. Khát vọng vươn lên thúc đẩy biết bao người nỗ lực từng ngày, khổ công tập luyện, hăng say học hành... Bao nhiêu cảnh nhộn nhịp của một ngày sống, từ buổi sáng tinh mơ đã có những người vội vã với công việc làm ăn; đến tận nửa đêm vẫn có người lầm lũi tìm cách thu gom từng đồng trong gánh hàng rong...

Đời người như một hành trình !

Dĩ nhiên, vẫn có không ít người tiêu phí cuộc đời trong những thú vui trác táng, đó là những người đã dừng bước trên cuộc hành trình. Nhưng vẫn luôn có không ít người miệt mài ra đi, nỗ lực đi xa hơn trong hành trình cuộc đời của mình...

Dĩ nhiên, có biết bao người không thể đạt được thứ “đỉnh cao đời người”, hoặc do sự lựa chọn sai lầm của bản thân, hoặc do sự xô đẩy khắc nghiệt của cuộc sống, và hành trình cuộc đời chỉ còn là cuộc chiến thảm hại để sống còn, sống còn từng ngày trong sự ê chề. Nhưng cũng có biết bao người khác tìm đạt được đỉnh cao; rồi khi công thành danh toại, người ta lại phải tiếp tục tìm cách củng cố chỗ đứng của mình... Đó là những người muốn “neo mình mãi ở đỉnh cao”.

Có một độ vênh nào đó trong hành trình đời người !

Những kẻ dừng lại chào thua thì đã rõ, nhưng nhưng kẻ thành đạt rồi đi về đâu ? Thân phận dở dang từ bản chất của phận người vẫn cứ dính liền với cuộc đời của mọi người. Người ta nỗ lực vươn lên để thoát khỏi sự đeo đuổi của bóng hình dở dang ấy, nhưng có ai nhẩy qua được cái bóng của chính mình đâu. Lối sống “neo mình mãi ở đỉnh cao” khiến cho người ta trở nên dị hợm, lố bịch. Đó là hình ảnh những người sợ hãi bóng hình dở dang, nên không chịu bước qua triển dốc bên kia của cuộc đời; càng bám vúi vào thành công của quá khứ, tâm tính trở nên “càng già càng khó” và không bao giờ chịu cho thế hệ sau vượt hơn mình...

Có một hành trình nào khác không ?

Sau ba tháng tù, cụ Anrê Thông nhận được án phát lưu vào Mỹ Tho thuộc miền Lục tỉnh, Nam Kỳ. ... Từ Bình Định vào Mỹ Tho, đường xa xôi diệu vợi, chập trùng hiểm trở... Ông Trùm cả, tuổi già sức yếu, cổ mang gông, tay bị xiềng, vẫn kiên trì tiến bước dưới ánh nắng gay gắt, vẫn leo đèo vượt suối, băng rừng...

Mỗi ngày đoàn tù nhân chỉ đi được bảy tám dặm, tối đến được tạm giam trong các đồn canh hay nhà tù địa phương.

2. Hành trình “đi theo ai”

Nhưng nếu hành trình đời người tự bản chất đã không thể giải quyết được “cái vẻ dở dang”, thì hành trình ấy lại có thể ẩn chứa một “cái dáng tính hoàn bị” ngay trong lòng cuộc hành trình ấy.

Nếu ai đó chỉ cân đo “lượng tính” của cuộc đời, chỉ thấy hành trình đời người “như thế nào” thì không thể nào hiểu được một chiều kích khác, không thể nào cảm nhận được “phẩm tính” hành trình đời người, hé lộ trong “hành trình đi theo ai”.

Phẩm tính đầu tiên trong đời sống đức Tin Kito giáo là chọn lựa “sống với ai” chứ không phải “sống thế nào”. Từ chọn lựa ấy, đức Tin Kito giáo hé mở những giá trị căn bản của đời sống đức Tin : trung tín quan trọng hơn trình độ đạo đức, hướng tới bề dày nghĩa tình hơn là đạt được bất cứ đẳng cấp thành đạt nào...

Tự căn bản, hành trình đi theo ai là một hành trình mang tính chất phiêu lưu. Không gì phiêu lưu bằng cách qui chiếu đời mình vào một ngã vị, một ngã vị tự do, một ngã vị sáng tạo, một ngã vị huyền nhiệm... Tính phiêu lưu của hành trình này phá đổ hết mọi tiêu chuẩn “sống thế nào”. Không có một điều kiện cụ thể nào được coi là tiên quyết đối với hành trình đi theo ai.

Đức Giêsu xác định phẩm tính hành trình của người Kito hữu là “bước theo Thầy”.

Khi bị bắt giam, Ông trùm cả không bị đánh đập, và thỉnh thoảng lại được phép về thăm nhà.... Ông nói: "Tôi đã già, cũng chẳng ham sống lâu nữa. tôi sẵn sàng chịu tù đày và chịu chết vì danh Đức Kitô, nhất định tôi không vận động xin tha". Rồi ông lại tình nguyện vào ngục trình diện.

Nhiều lần quan tỉnh gọi ông Trùm cả ra công đường, nhỏ nhẹ khuyên ông bỏ đạo. Quan nói : "Ông dẫm chân lên thập giá đi ! Chỉ tôi và ông biết thôi, rồi về xưng tội là xong chứ có chi đâu". Ông trả lời: "Không được, thập giá tôi tôn kính mà dẫm lên sao được". Và ông khẳng định với quan: "Thà tôi bị lưu đày và chết vì Chúa chớ tôi không chối đạo".

3. Hành trình không thể dừng chân

Nếu loại “hành trình như thế nào” được tính toán để khỏi rơi vào “hư vô chủ nghĩa”, muốn tránh thứ dở dang bi đát của một hành trình bị chấm dứt vì không tiến lên được nữa, muốn mau thành đạt và chậm rời đỉnh cao, lo lắng vì sợ mất mát nhiều thứ đã thu nhặt được... thì cuộc “hành trình đi theo ai” lại có một mục tiêu duy nhất, thẳng tiến, tuyệt đối, đó là mục tiêu của tình nghĩa không có mức độ giới hạn nào cả. Càng đi sâu vào hành trình này, con người càng nếm cảm được sức hút, nếm cảm được sự ngọt ngào, nếm cảm được ý nghĩa vận mạng đời mình, nếm cảm được hạnh phúc chân thật và càng muốn đi nhanh hơn, mạnh hơn, trọn vẹn hơn đến với ai...

Vào đến Gia Định, quan Tổng Trấn cho phép ở lại đây, nhưng thánh nhân từ chối vì muốn đi cho đến đỉnh đồi Canvê của mình. Và khi đã tới Mỹ Tho, sức cùng, lực kiệt, ngài còn năn nỉ người ta dìu tới Gò Bắc ở cuối tỉnh, tới trại giam lưu đày vĩnh viễn được chỉ định. dù chỉ sống thêm ít phút. Thánh Anrê Thông đã hoàn tất hành trình chứng tá cho Thiên Chúa và đã tới đích Thiên Đàng vĩnh cửu.

Từ sau khi nguyên tổ phạm tội, cửa Địa Đàng đóng lại, hành trình đời người không còn có thể đi đến đích được nữa. Hành trình đời người, nỗ lực, vươn lên, lo lắng xuống dốc, bận tâm bám víu... vẫn chỉ là “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”.

Chỉ có một Con Người có thể đi lại hành trình đời người, đó là đức Giêsu, và hành trình đời người chỉ có thể “đổi hướng” để trở thành “đi theo Ai”. Chính hành trình này mới đưa con người đến được cội nguồn hạnh phúc mà con người mãi khát mong.

Con không thể hiểu được một con người như thánh An-rê Thông.

Cuộc sống ngày hôm nay thực dụng quá,

Thực dụng ngay cả trong tình yêu ...

Con không thể hiểu được vì một ý nghĩa gì, vì động lực nào mà thánh An-rê Thông có thể đi được một hành trình như vậy, và nhất quyết phải đi đến nơi....

Nhưng con thật sự kính trọng và muốn khám phá chiều khích tâm linh còn huyền nhiệm này.

Xin Chúa giúp con với.

IX. Thánh Phêrô NGUYỄN KHẮC TỰ

Thày giảng (1808 –1840) / Ngày 10 tháng 07

Suy niệm Tin Mừng Ga 18, 15-27

"15Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. 16Còn ông Phê-rô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào. 17Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô : "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao ?" Ông liền đáp : "Đâu phải.". 18Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó ; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ. 19Vị thượng tế tra hỏi Đức Giê-su về các môn đệ và giáo huấn của Người. 20Đức Giê-su trả lời : "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. 21 Sao ông lại hỏi tôi ? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì." 22Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói : "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư ?" 23Đức Giê-su đáp : "Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào ; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?" 24Ông Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói.

25 Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông : "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao ?" Ông liền chối : "Đâu phải." 26Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi : "Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao ?" 27Một lần nữa ông Phê-rô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy”.

Mối dây Nghĩa Tình

Phêrô Nguyễn Khắc Tự sinh năm 1808 tại Ninh Bình thời vua Gia Long. Từ nhỏ cậu Tự đã được vào nhà Đức Chúa Trời, rồi trở thành thày giảng theo giúp cha già Quế. Khi cha già qua đời, thày được cử đến giúp linh mục Dumoulin Borie Cao.

1. Cuộc đời khắc nghiệt

Đồi Can-vê là một bài toán trắc nghiệm lòng trung thành. Chẳng phải chỉ những người dân, trước đó hô vang “Hoan hô con vua Đa-vít” rồi sau đó lại hò hét “Đóng đinh nó vào thập giá” mới là những người phản bội. Những tông đồ và môn đệ gắn bó với đức Giêsu suốt ba năm trời cũng sợ hãi bỏ trốn. Điển hình nhất là vị tông đồ trưởng Phê-rô đã ba lần chối Thầy... Đó quả là sự thật xót xa của phận người. Không phải tất cả chỉ là một tình nghĩa giả tạo như Giu-đa, kẻ bán Chúa. Có lẽ có, nơi các tông đồ khác, một phần nào đó tấm lòng chân thành và có tình có nghĩa với Chúa.

Tuy nhiên, đọc trình thuật thường khó của đức Giêsu, chúng ta có thể nhận ra một sức mạnh ghê gớm của thế gian, một quy luật nghiệt ngã bao phủ, giằng xé và xô đẩy con người.

Nếu Phêro là hình ảnh tiêu biểu của sự phản bội, thì ta cũng có thể thấy nơi Phêro một tình trạng tiêu biểu của phận người. Khi chưa vào cuộc, Phêro đã tuyên bố : “Ông Phê-rô thưa : "Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ? Con sẽ thí mạng con vì Thầy !" (Ga 13,37). Rồi khi mà sức mạnh của Satan ập xuống, Phêro như thể bị xô đẩy, chưa kịp hoàn hồn vì cơn sóng này thì lại tiếp tục bị vùi dập vì cơn sóng khác... Qua hình ảnh Phêro, Ta có thể nói được rằng phần lớn con người chúng ta, sở dĩ chưa phạm tội là vì chưa có điều kiện phạm tội đó thôi. Satan đâu có để ta ngồi yên trên ghế, rồi với cung giọng nhẹ nhàng, thân ái và tôn trọng để hỏi ta có tin vào Chúa hay không. Satan giống như tên võ sĩ giáng liên tiếp những đòn đau điếng làm ta choáng váng, và những gì là nhát sợ, yếu đuối, ích kỷ tham lam trong lòng ta tuôn đổ ra một cách phũ phàng.

Ngày 31.07.1838, sau khi quân lính bắt được linh mục thừa sai Borie Cao, các tín hữu sợ liên lụy nên làm ngơ như không quen biết.

Kito giáo không phải là một chủ nghĩa anh hùng. Kito giáo không dành riêng cho những vị anh hùng, và cũng không phải hối thúc con người tập luyện để đạt được những nhân đức anh hùng. Kinh nghiệm tâm linh Kito giáo chính là điều thánh Phaolo trải qua : Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh (X. 2 Cr 12,10).

Kito giáo mời con mỗi người hãy biết mình, biết rõ thân phận yếu đuối của mình. Chỉ khi đó, con người mới mở toang được cánh cửa tự ái, kiêu căng trong tâm hồn, để cho Chúa Thánh Thần chuyển thông sức sống của Ngài.

2. Dấu tích tình thương

Vòng xoáy nghiệt ngã của cuộc đời có lẽ sẽ còn vùi dập Phêro sâu hơn nữa, nếu như không có tiếng gà gáy (X. Ga 18,27). Dĩ nhiên, chẳng phải là tiếng gà có khả năng làm được chuyện mà khả năng của con người khó lòng làm được. Nhưng tiếng gà gáy là một dấu chỉ giúp Phêro nhớ lại lời đức Giêsu. Trong vòng xoáy nghiệt ngã của sự ác, chỉ có mối tương quan ngã vị, tương quan của tình nghĩa mới có thể giúp con người vượt qua.

Trong bốn năm giúp cha Cao, thày tỏ ra rất nhiệt tình, hiền từ và tận tuỵ. Bốn năm cùng làm việc tuy chẳng lâu, nhưng đã phát sinh một mối tình thân thiết đặc biệt giữa hai người. Chính sự gắn bó đó đã đưa thày Tự vào vòng lao lý khi muốn theo vị linh mục đến cùng.

Kinh nghiệm đời người cũng cho thấy những tù nhân nào sợ hình phạt khổ sở của cảnh tù tội, sẽ dễ dàng sám hối, nhưng đó là sự sám hối giả. Một nỗi sợ về những chuyện bên ngoài chỉ có thể đe doạ nhất thời; khi những nỗi đe doạ bên ngoài ấy xa đi, nhẹ đi, nhạt đi,.. thì người ta lại dễ dàng rớt vào tình trạng cũ. Chỉ có một sự sám hối vững bền và căn bản khi con người tìm được ý nghĩa bên trong, một ý nghĩa lớn của cuộc đời mình. Ý nghĩa lớn bên trong chỉ có được do tình nghĩa. Tiếng gà gáy đã làm sống lại tình nghĩa của Phêro với Thầy của mình.

Thầy Tự tuyên bố với mọi người : mình là đệ tử của người bị bắt, và năn nỉ với ngài : "Xin cha cho con theo cha đến cùng".

Lời tuyên bố khẳng khái của thầy Tự có phần khác với lời tuyên bố bốc đồng của Phêro, vì sau đó thầy Tự không một lần chối thầy như Phêro đã chối Chúa ba lần. Tuy nhiên, cũng đừng ai nghĩ rằng lời tuyên bố của thầy Tự là một một thái độ anh hùng. Kito giáo không phải là đạo luân lý, và không bao giờ đặt tất cả tầm quan trọng của một đời người vào đẳng cấp của luân lý (sống thế nào). Đối với Kito giáo, tầm quan trọng mang tính quyết định của đời người chính là lòng trung tín với ai; và qua nẻo đường trung tín ấy mà người ta đi vào một sự thông hiệp thần trí. Sức mạnh của các thánh không phải do nơi đức tính luân lý riêng, nhưng là ơn huệ của Thánh Thần nhờ mối tương quan thuận thảo với Chúa...

Như thế, lời tuyên bố của thầy Tự cũng có phần giống với lời tuyên bố của Phêro, xét như là bước khởi đầu của tình nghĩa tự nhiên. Chính tình nghĩa ấy sẽ được biến đổi và đạt tới phẩm tính ân sủng siêu nhiên, nơi Phêro là qua tiếng gà gáy, còn nơi thầy Tự là qua nửa chiếc khăn làm bằng chứng tình nghĩa mà cha Cao đã trao cho.

Trước thái độ chí tình, vị linh mục xúc động, xé chiếc khăn quàng làm hai, trao một phần cho người môn sinh, cũng là cộng tác viên đắc lực nhiều năm qua và nói : "Cầm lấy, hãy cầm lấy nó làm bằng chứng cho lời thày đã hứa". Và thày Tự đã giữ miếng vải đó suốt hai năm trời cho đến ngày tử đạo.

3. Gặp nhau ở cửa ngõ Thiên Đường

Đối với Kito giáo, ơn huệ của Thánh Thần không phải sức mạnh vô ngã, nhưng là nguồn sức sống từ một Ngã Vị. Ơn huệ ấy được thông ban qua mối tương quan tình nghĩa. Từ cuộc tử nạn của đức Giêsu cho đến cuộc tử đạo của các vị thánh, không bao giờ ta thấy một thứ chủ nghĩa anh hùng nhưng luôn là sức mạnh của tình nghĩa, tình nghĩa của đức Giêsu với Chúa Cha, tình nghĩa của các thánh với đức Giêsu, và tình nghĩa của hiệp thông trong Giáo hội. Thánh Thần nhiệm xuất từ mối tương quan yêu thương giữa Chúa Cha và Chúa Con. Trong Đức Giêsu, trong sự hiệp thông với Giáo hội, người Kito hữu được lãnh nhận Thánh Thần, và ơn huệ Thánh Thần luôn biểu lộ trong mối tương quan nghĩa tình.

Cuối cùng vào tháng 07.1840, nhà vua cho lệnh thi hành bản án. Khoảng 100 binh lính áp giải chứng nhân Chúa Kitô ra pháp trường Đồng Hới. Rất nhiều tín hữu cũng như lương dân đi theo. Đến nơi thày Tự hỏi cho biết chính xác chỗ trước đây đã xử Đức Cha Cao, rồi vui vẻ quỳ ngay xuống đó để cầu nguyện. Hai người con ông Quỳnh đến chào giã biệt thày, thày hứa sẽ cầu nguyện cho họ, và nhắn lời chào giả biệt đến các tín hữu.

Giờ hành quyết đã điểm. Thày Tự nằm xuống cho lính thòng dây qua cổ. Được lệnh hai người lính cầm hai đầu dây cùng xiết mạnh, đưa thầy giảng 32 tuổi về hưởng phúc với Chúa Kitô, tại chinh nơi đầu người cha tinh thần thầy rơi xuống. Ông Quỳnh cũng bị xử giảo (xiết cổ) như vậy. Hôm đó là ngày 10.07.1840.

Nơi cửa ngõ Thiên Đường ấy, thánh Phêro Tự lại được gặp gỡ với cha Dumoulin Borie Cao, người cha già mà thầy hằng quí mến. Mối dây tình nghĩa ấy sẽ chẳng bao giờ bị chia lìa nữa.

Quả thật cuộc đời này vẫn còn những chuyện đẹp như cổ tích

Quả thật cuộc đời này vẫn còn những con người dám sống vì tình nghĩa và chết vì tình nghĩa.

Không phải là thái độ bi luỵ vì tình.

Mà là thái độ biết cử hành, trân trọng và trang trọng, cử hành cuộc sống của mình như một hiến lễ tình yêu

X. Thánh Phanxicô TRẦN VĂN TRUNG

Cai đội – (1825 – 1858) / Ngày 06 tháng 10

Suy niệm Tin Mừng Mt 11,16-19

"16Tôi phải ví thế hệ này với ai ? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi lũ trẻ khác, 17 và nói : "Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không đấm ngực khóc than.".

18Thật vậy, ông Gio-an đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo : "Ông ta bị quỷ ám." 19Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo : "Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi." Nhưng đức Khôn Ngoan được chứng minh bằng hành động."

Cuộc đời như một cuộc chơi

Phanxicô Trần Văn Trung sinh khoảng năm 1825 tại Phan Xá, tỉnh Quảng Trị, dưới thời vua Minh Mạng, thuộc gia đình Công Giáo. Thân phụ cậu trước cũng là cai đội. Khoảng năm 24 tuổi, anh Trung kết hôn với một thiếu nữ cùng làng, và sinh được bốn người con. Như các gia đình Công Giáo khác, ông cai đội chu toàn trách vụ Kitô hữu.

1. Luật chơi của xã hội con người

Xã hội con người có luật chơi, mỗi một nhóm và mỗi một giới cũng có luật chơi riêng. Con người muốn hoà nhập với người khác, phải chấp nhận luật chơi của xã hội. Người nào muốn tham gia vào một đoàn hội, một nhóm, một giới hay một đẳng cấp thì cũng đều phải chấp nhận luật chơi....

Làm sao cắt nghĩa được luật chơi trong một xã hội đảo điên ? Có những luật hợp lý, hợp lẽ, nhưng cũng luôn có những luật chỉ có thể hiểu được như là một cách áp bức, một cách hợp lý hoá và phổ biến tình trạng bất công. Chẳng phải chỉ có luật giang hồ mới hàm chứa những bất công, tàn bạo, nhưng mọi luật chơi của các nhóm hoặc giới, đều ít nhiều hàm chứa những điều bất công ngang ngược. Chỉ có điều, bởi vì luật chơi bất công và ngang ngược ấy đã thành luật, nghĩa là đã thành quen thuộc và ai cũng phải chịu. Nhưng kẻ nào muốn đặt lại vấn đề, muốn sửa đổi luật chơi bằng một giải pháp hợp lý và công bằng hơn thì sẽ chuốc lấy khổ luỵ. Đó là những kẻ “lớ ngớ”, rồ dại, những “thằng bờm” giữa cuộc đời. Luật chơi bất công rồi sẽ trở thành chuyện đương nhiên, luật chơi quen thuộc ấy sẽ trở thành tiêu chuẩn thay thế thứ lương tri ngay thẳng hồn nhiên của con người.

Đức Giêsu nói lên tính ngang ngược vốn đã thành luật trong xã hội thời của Ngài :

"Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không đấm ngực khóc than.".

Luật chơi của xã hội con người thật ra không khác gì những đòi hỏi vô lý của trẻ con; không khác gì thái độ lấy mình làm trung tâm của những kẻ thiếu trưởng thành. Ấy thế mà người ta vẫn cứ phải chấp nhận...

Một lần kia, cùng với mười một bạn đồng ngũ, ông phải dự cuộc khảo thí. Trong tình hình bất an thời bấy giờ, muốn việc thi cử trót lọt dễ dàng, phải hối lộ với quan trên. Dù đủ điều kiện trúng tuyển, ông không thể làm khác hơn. Không may, vì việc chia tiền không đồng đều, các quan tranh cãi với nhau. Vua Tự Đức biết tin liền cho cả 12 cai đội vào ngồi tù.

Ông đội Phanxicô Trần Văn Trung hẳn đã thấm thía luật chơi của giới quan trường trong thời đại của ngài. Dấu vết của một lần bị thua trong cuộc chơi ấy cũng góp phần giúp cho ông thắng cuộc trong ván chơi cuối cùng của cuộc đời.

2. Người liêm chính trong cuộc chơi xã hội

Luật chơi của xã hội con người chỉ có thể vận hành được khi mà mỗi người bỏ đi chuẩn mực căn bản của con người : chuẩn mực của lương tâm. Người nào bước vào cuộc chơi, tìm mọi cách để thích nghi với luật chơi bên ngoài, thì người đó buộc che dấu đi tiếng nói của thứ luật lương tri bên trong.

Nói cách khác, vì vị thế siêu hình căn bản của con người là “linh hồn nhập thể” nên thế đứng của con người bao giờ cũng hàm chứa phần bên trong, phần tinh thần, phần tự do phản ánh tính chủ thể của mỗi người; và phần bên ngoài chịu sự tương tác, xô đẩy của nếp sống quen thuộc của tổ chức, của dư luận... Người nào đánh mất thế giới bên trong, đánh mất chủ thể tính, sẽ để cho cuộc đời mình bị cuốn trôi theo đám đông, theo dư luận và dễ dàng lấy luật chơi của xã hội như “thánh kinh” của chính mình.

Trong cuộc sống xã hội như thế, vẫn sẽ có những “gã khờ”, những “thằng bờm” bị gạt ra khỏi cuộc chơi. Họ đành chịu chấp nhận thiệt thòi vì không thể gạt bỏ tiếng nói của lương tri. Khi mà sự mâu thuẩn giữa đòi hỏi bên ngoài và lương tri bên trong thể hiện trong vấn đề quan trọng, thì sẽ có sự giằng co gay gắt, sẽ có máu. Thái độ của các thánh tử đạo, cụ thể nhất, thái độ của thánh Phanxico Trần Văn Trung không khác gì những gã khờ giữa cuộc đời. Chính đức Giêsu đã vạch rõ tính phi lý của luật chơi xã hội, rồi chính Ngài cũng phải chấp nhận thứ quy luật phi lý, nghiệt ngã của luật chơi ấy.

Sau khi cửa Hàn bị quân Pháp dưới sự chỉ huy của đô đốc Rigault de Genouilly đánh chiếm ngày 01.09.1858, vua Tự Đức liền cho phóng thích các binh lính giam giữ để bổ sung vào số quân bảo vệ kinh thành Huế. Ông cai đội Trung và các bạn hăng hái hưởng ứng. Nhưng khi sắp được xuất trận các quan bắt ép các ông phải bước qua Thập Giá. Mười một người kia liền theo lệnh, còn ông Trung nhất định không chịu nghe. Các quan hỏi : - Tại sao không chịu đạp lên Thập Giá ? Có phải mi theo đạo không ?

- Thưa phải, tôi là người Công Giáo. Tôi sẵn sàng đi đánh giặc để bảo vệ tổ quốc, nhưng không bao giờ tôi lại bỏ đạo.

3. Cuộc chơi của đức Tin

Cuộc đời con người có phẩm chất như một cuộc chơi. Quả thật, có một nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người và thường bị bỏ quên, đó là nhu cầu chơi. Nguy hiểm hơn nữa, trong bầu khí vẩn đục, ô nhiễm của xã hội, tính cạnh tranh đã phá huỷ tính hiệp thông, nên cuộc chơi bị biến thành cuộc chiến.

Chơi là bước vào một cuộc phiêu lưu, nhưng là một cuộc phiêu lưu được đảm bảo. Cuộc phiêu lưu được bày ra trên bề mặt như một cuộc chiến, nhưng nền tảng bên dưới vẫn luôn là sự hiệp thông. Nếu không có nền tảng ấy, cuộc đời, và mọi cuộc chơi sẽ trở thành một cuộc chiến. Thú “phiêu lưu” nằm trong khát vọng sâu xa của con người. Khi chơi, con người giải toả được “noạ tính” của sự vật, vượt qua mức độ qui luật tất yếu của sinh vật, để tương giao với nhau như những con người tự do, đối xử với nhau như là những chủ thể thực sự. Chỉ khi có một khoảng cách để hai bên tin nhau, tìm nhau, chờ đợi nhau, hy vọng vào nhau, thì người ta mới tìm thấy được niềm vui oà vỡ như một ân huệ tặng ban cho nhau... Đó là tính cách của một cuộc chơi.

Có thể diễn tả khá chính xác phẩm tính của đức Tin Kito giáo như một cuộc chơi. Người Kito hữu tin Chúa hiện diện trong cuộc đởi của mình, tin Thánh Ý Chúa là kế hoạch tuyệt diệu nhất, nhưng đồng thời cũng dám tỏ bày những khát mong của bản thân mình trong tâm tình hiếu kính.

Vì không được gặp cha Thoại để lãnh các bí tích sau cùng, ông đội Trung liền quỳ xuống nền đất, xin đao phủ lấy vôi vẽ trên cổ hình Thánh Giá, để chứng tỏ mình trung kiên với Đức Kitô đến cùng. Sau đó, ông hiên ngang đưa cổ cho lý hình chém.

Đức Tin không là gì khác hơn sự đan bện giữa “ý Cha” và “ý con” làm nên một bề dày nghĩa tình. Lịch sử ơn cứu độ được hình thành như sự gặp gỡ giữa hai ngã vị tự do, tự do trong từng giây phút, thứ tự do làm bừng lên năng lực sáng tạo...

Chúa ơi,

Có phải con quá ấu trĩ khi lao hết mình vào cuộc chơi của thế gian ?

Có phải con quá mù quáng khi chỉ thấy cuộc đời là niềm vui nỗi buồn trong canh bạc thế gian.

Bao giờ con tìm thấy được một ý nghĩa thâm sâu và mạnh mẽ để có thể giữ lấy ảnh Thánh Giá trên cổ như một báu vật còn hơn cả mạng sống của con ?

XI. Thánh Tôma Đinh Viết Dụ

Linh mục dòng Đaminh - (1783 – 1839) / Ngày 26 tháng 11

Suy niệm Tin Mừng Mt 27,27-30

"27Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. 28Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, 29rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : "Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái !" 30Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. 31Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.”

Vững bước trên hành trình thập giá

Tôma Đinh Viết Dụ sinh khoảng năm 1783, tại làng Phú Nhai, tỉnh Nam Định. Được Chúa kêu gọi, từ bé, cậu đã quyết tâm sống đời tu trì. Sau khi thụ phong linh mục, cha Dụ xin nhập dòng Đaminh và khấn ngày 21.12.1814.

1. Đức Giêsu chịu khổ hình

Nếu theo nền thần học đền thay, thì Đức Giêsu không cần phải chịu nhiều khổ đau như vậy để cứu độ nhân loại. Nền thần học đền thay chỉ diễn tả một khía cạnh trong mầu nhiệm cứu độ, còn nhiều khía cạnh khác hết sức phong phú mà Chúa muốn tỏ bày cho con người. Mầu nhiệm cứu độ còn là mầu nhiệm của tình yêu chứ không phải chỉ là khía cạnh pháp lý; mầu nhiệm cứu độ còn là mầu nhiệm của nguồn mạch ơn phúc tràn trề chứ không phải chỉ là sự công bằng; mầu nhiệm cứu độ còn là mầu nhiệm bao hàm trọn vẹn ý nghĩa một đời người chứ không phải chỉ là chuyện giải quyết một vụ việc xẩy ra trong cuộc sống...

Thánh ý Chúa Cha không muốn ơn cứu độ được thực hiện bằng “bánh mì”, bằng “sự lạ” và bằng “quyền bính” như tên cám dỗ đề ra trong sa mạc (X. Mt 4,1-11). Đức Giêsu chấp nhận Thánh ý Chúa Cha, thực hiện ơn cứu độ bằng nẻo đường hy sinh mạng sống cho bạn hữu (Ga 15,13). Nẻo đường ấy và chỉ nẻo đường yêu thương ấy, mới có thể kêu mời tình yêu tự đáy sâu trong lòng con người; và chỉ từ nguồn mạch của tình yêu như thế, chúng ta mới có được những chứng tá của niềm tin và tình yêu tuyệt đẹp nơi các thánh.

Cha Tôma Dụ bị đóng gông vào cổ, tay chân mang xiềng xích như một tội phạm, và bị giải lên tỉnh Nam Định. Các quan ở đây tiếp tục tra vấn nhiều lần, khuyên dụ cha đạp lên Thánh Giá. Nhưng mặc cho những lời dụ dỗ hay dọa nạt, cha Dụ vẫn cương quyết không xúc phạm đến Thập Giá, và không cung khai điều gì hại đến các tín hữu.

2. Hai mặt của khổ đau

Cùng với tội lỗi, khổ đau đã được “sinh ra” và nó vẫn còn sống dai dẳng suốt dọc dài của kiếp con người. Bao nhiêu nỗ lực của con người để loại trừ khổ đau, nhưng khổ đau vẫn còn đó. Bao nhiêu trí tuệ cố gắng giải thích khổ đau, nhưng bóng tối của khổ đau vẫn còn dầy đặc trước tâm trí con người. Những trí tuê vĩ đại như Âu Tinh hoặc Tôma Aquino... muốn soi vào bóng tối khổ đau một chút ánh sáng của lý trí nhưng cũng chẳng được bao nhiêu.

Đứng trước khổ đau, Giáo hội chỉ xác tín được hai chân lý :

- Thiên Chúa không muốn con người khổ đau;

- và Thiên Chúa, trong đức Giêsu, muốn cùng chịu khổ đau với con người.

Chính đức Giêsu cũng từ chối giải thích khổ đau, Ngài công bố Tin Mừng cho con người khổ đau bẳng chính thập giá khổ đau của Ngài. Điều đó có nghĩa là chỉ có một chiêu thức để chống lại khổ đau, chiêu thức “thua để thắng”; chỉ có một nẻo đường để vượt quá khổ đau, nẻo đường thập giá của đức Giêsu, vì chỉ nẻo đường ấy mới có ngõ mở thông sang sự sống vĩnh cửu.

Thập giá được giương cao như dấu chỉ ơn cứu độ, giống như con rắn đồng trong sa mạc, để những ai bị rắn cắn, nhìn lên con rắn đồng và được sống. Dấu chỉ của chết chóc nay lại hàm chứa nguồn mạch của sự sống. Khuôn mặt của sự sống mang dáng dấp của cái chết. Từ mầu nhiệm kép, thập giá và Phục Sinh, nẻo đường tử đạo đã được Đấng Cứu Độ phác hoạ như đường nét căn bản của mọi nẻo đường đức Tin.

Nẻo đường cứu độ bằng thập giá được khai mở như thế chính là nẻo đường ngay mặt bằng của nền đất chứ không phải nẻo đường “trên nóc nhà”. Tôn giáo nào, hoặc thuyết nào khác cũng khai mở nẻo đường trên nóc nhà, trên mây xanh, khiến cho những con người nhỏ bé, hèn kém chỉ còn biết ngỏng cổ nhìn chơi, nhìn mà lại càng thất vọng, nhìn trong nỗi tủi nhục. Với những nẻo đường giải thoát trên nóc nhà, những người bé mọn đã sống một kiếp người tủi nhục dưới ánh mắt người đời, nay lại thêm tủi nhục và thất vọng dưới ánh sáng chói chang của thần thánh.

Cũng như bao vị tử đạo khác, cha Tôma Đinh Viết Dụ cũng đi vào nẻo đường thập giá của đức Giêsu, nhưng bóng dáng của thập giá in đậm hơn trên hành trình của cha Dụ. Tràng hạt Mân Côi như hành trang quí giá nhất của cha có lẽ đã nhẵn bóng năm mầu nhiệm Mùa Thương; đức Maria mà thánh Dụ hằng yêu mến có lẽ cũng là khuôn mặt đức Maria Bẩy Sự...

Cha bị đánh đạp tàn nhẫn nhiều lần, lần thứ nhất 90 roi, lần hai 30 roi, lần khác 20 roi và phải đón nhận nhiều lời mắng nhiếc chế nhạo của dân chúng tò mò đến xem.

Sau những cuộc tra tấn, cha Dụ bị tống giam vào ngục, ban ngày mang gông xiềng, ban đêm bị cùm chân, thêm vào đó là chịu đói khát, chịu nóng nực hôi hám khổ cực khôn tả. Vị tông đồ của Chúa chẳng những tỏ ra nhẫn nhục, mà còn vui vẻ, coi đó là những cơ hội tốt để suy niệm và bước theo chân Đức Kitô tử nạn. Chứng nhân Giuse Hiền thuật lại chuyện mẹ của ông ta, giả làm hành khất vào tận ngục thăm cha. Khi thấy cha tiều tụy vì những cuộc tra tấn, bà khóc lên nức nở, cha nói với bà :

"Sức lực tôi tuy giảm, nhưng tôi còn có thể chịu đựng được nữa. Chúa chúng ta đã chịu bao cực khổ để cứu độ nhân loại, tôi cũng sẵn lòng chịu những sự khổ này để nên giống Chúa Kitô phần nào".

3. Hành trình thập giá

Thật ra thập giá không phải chỉ là một sự kiện, một biến cố riêng biệt, mà là một hành trình. Hơn nữa, thập giá cũng không phải chỉ là hành trình đơn độc mà là cuộc diễn hành của cả một đoàn người đông vô số.

Hành trình Thập giá của đức Giêsu đã khởi đầu từ biến cố Nhập Thể, từ những ngày chịu cám dỗ trong sa mạc, từ Vườn Cây Dầu, từ những roi đòn, từ bao nỗi nhục... Thập giá Chúa được gương cao lên như đích đến của một hành trình.

Thập giá của đức Maria khởi đầu với tiếng “Xin Vâng” cho đến khi bị xé lòng đứng dưới chân thập giá Chúa. Thập giá của thánh Giuse qua bao lần mau mắn thi hành điều sứ thần truyền...

Hành trình thập giá ấy vẫn kéo dài trên cuộc đời các thánh, vòng vo đến từng ngõ ngách thâm sâu trong cuộc sống, mọi thời và mọi nơi...

Cuối cùng, thì hành trình thập giá đạt đến sự Phục Sinh. Thập giá và Phục Sinh là một mầu nhiệm có hai mặt, trái ngược nhau, nhưng lại kêu mời và bổ sung cho nhau. Nếu Thập Giá và Phục Sinh là một, thì mọi nẻo đường vòng vo của thập giá ngày hôm nay, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, cũng “trực chỉ” đến mầu nhiệm Phục Sinh. Nếu Thập Giá đức Giêsu cuốn hút, lôi kéo mọi nỗi khổ đau của kiếp người để đưa vao hành trình ơn Cứu độ, thì đến lượt các Kito hữu cũng được mời gọi bước theo chân đức Giêsu, vác thập giá mình hằng ngày mà theo...

Bà Maria Ơn có mặt tại buổi hành quyết thuật lại rằng : "Tôi thấy hai cha quỳ xuống, chắp tay lại, mắt hướng lên trời, lính cưa gẫy gông, chặt đứt xích sắt, trói tay vào cột rồi chém cổ hai cha". Sau khi thi hành án trảm, lý hình tung đầu hai cha lên cao ba lần và nói : "Đầu đạo trưởng đã bị chém đây".

Cha Tôma Đinh Viết Dụ hưởng thọ 56 tuổi, đã lãnh phúc tử đạo đúng vào năm kỷ niệm ngân khánh linh mục của cha.

Bao nhiêu người môn đệ bước theo đức Giêsu là bấy nhiêu thập giá được dựng lên. Hành trình Thập giá là hành trình của một đoàn hùng binh. Sức nặng của tội lỗi đè xuống nhân loại, sản xuất ra bao nhiêu loại thập giá lớn nhỏ, nặng nhẹ đủ loại, gieo rắc khắp hang cùng ngõ hẻm... thì cũng có bao nhiêu người môn đệ đức Giêsu, tình nguyện đón nhận tất cả những thập giá ấy, “thu gom” tất cả hệ luỵ của tội lỗi ấy, chất nặng trên vai của mình để đưa về ngọn đồi Can-Vê và đưa vào cửa ngõ Phục Sinh.

Con sợ khổ đau !

Con thường trốn tránh khổ đau, phiền luỵ.

Con bỗng tự hỏi có bao giờ mình dám chịu một chút khổ đau, cực nhọc vì ai chăng ?

Và bỗng nhiên con lại nghĩ rằng : con có biết yêu là gì chưa khi mà con chưa biết chịu hy sinh vì ai ?

Câu hỏi ấy ghê quá !