Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 7

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Đức Bênêdictô XVI, trong tông huấn Verbum Domini, đã triển khai một chiều kích của lời chứng liên quan đến Lời Chúa. Lời Chúa không phải chỉ là một thứ triết lý đẹp, hoặc như một lý thuyết không tưởng, nhưng Lời Chúa là một thực tại người ta có thể sống và là thực lại làm cho người ta sống. Lời Chúa được “chú giải” một cách sinh động qua lời chứng của các Kitô hữu, đặc biệt qua lời chứng là cuộc đời các vị thánh.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Bài IX Đám Mây Nhân Chứng

Đức Bênêdictô XVI, trong tông huấn Verbum Domini, đã triển khai một chiều kích của lời chứng liên quan đến Lời Chúa. Lời Chúa không phải chỉ là một thứ triết lý đẹp, hoặc như một lý thuyết không tưởng, nhưng Lời Chúa là một thực tại người ta có thể sống và là thực lại làm cho người ta sống. Lời Chúa được “chú giải” một cách sinh động qua lời chứng của các Kitô hữu, đặc biệt qua lời chứng là cuộc đời các vị thánh.

“Tính hỗ tương này giữa Lời và chứng tá phản ảnh cách thế Thiên Chúa dùng để tự thông truyền chính mình trong công cuộc Nhập Thể của Ngôi Lời của Ngài. Lời Thiên Chúa đến với mọi người “qua cuộc gặp gỡ với các chứng nhân đang làm cho Lời nên hiện diện và sống động”.(s. 97)

Lối nhìn này tránh được lối nhìn có phần lệch lạc khi coi các thánh là những mẫu mực luân lý cao cả, để trả lại ý nghĩa đích thực cho hình ảnh các thánh : hình ảnh chứng nhân.

Thật ra cuộc đời và cái chết của các thánh chính là chứng tá về tình yêu và quyền năng của Chúa. Cuộc đời và những đức tính anh hùng của các thánh được thành toàn không phải nhờ những đức tính luân lý thuần tuý, nhưng chính yếu là hoa trái của niềm Tin. Nhìn bên ngoài, các thánh tử đạo là những người bảo vệ đức Tin, nhưng bên trong và là điều đúng hơn, chính đức Tin như nguồn mạch để giúp các Ngài trở nên anh hùng trước mặt người đời. Những thái độ anh hùng ấy thực ta chính là lời chứng làm nổi bật sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa, làm chứng nhiệm cục và tình yêu của Chúa.

Với cách nhìn của đức Biển Đức XVI, chúng ta tìm lại được một sự kết hợp sâu xa giữa sức mạnh của Chúa và lòng trung tín của con người. Quyền năng của Chúa được biểu lộ nơi sự yếu đuối của con người và làm cho con người được nên mạnh mẽ. Kito giáo không phải là một chủ nghĩa anh hùng mà chỉ những người đức độ cao cả mới không được. Kito là đạo của mọi người, đặc biệt là của những người bé mọn, yếu đuối. Thật ra, không có lúc nào con người yếu đuối hơn trước cái chết. Đứng trước “thần chết”, con người không làm làm chủ được mạng sống của mình. Mặt khác, nỗi sợ chết là tâm trạng bình thường và đúng đắn của con người; vì mạng sống không phải là trò đùa để người ta có thể coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Trong linh đạo Kito giáo, chính khi con người nhận ra mình yếu nhất và chính khi tìm thấy đức Tin như nguồn sức mạnh duy nhất, con người có thể trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Sự kết hợp giữa quyền năng của Thiên Chúa và thái độ của niềm Tin làm nên ý nghĩa của chứng tá chứ không phải gương sáng. Chứng tá chính là nguồn sức sống chân thật của Giáo hội.

(Tài liệu về các thánh được trích từ Đào Trung Hiệu OP và nhóm Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm, Uống Nước Nhớ Nguồn)

I. Thánh Tôma KHUÔNG

Linh mục dòng ba Đaminh (1780-1860), kính ngày 30 tháng 01

Suy niệm Tin Mừng Mt 22, 15,15-22

15 Bấy giờ những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy.

16 Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng : "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. 17 Vậy xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?"

18 Nhưng Đức Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói : "Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình ! 19 Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế !" Họ liền đưa cho Người một quan tiền. 20 Người hỏi họ : "Hình và danh hiệu này là của ai đây ?" 21 Họ đáp : "Của Xê-da." Bấy giờ, Người bảo họ : "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa." 22 Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi”.

Chính trị và Tin Mừng

Tôma Khuông sinh khoảng năm 1780 (thời Trịnh Nguyễn) tại làng Nam Hòa xứ Tiên Chu, tỉnh Hưng Yên.

1. Chuyện đời - chuyện đạo

Công đồng Vatican II đã cảnh giác người Kito hữu về mối nguy tách rời đời sống đức tin và cuộc sống trần thế

“Sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng với cuộc sống thường nhật của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta” (MV 43).

Mỗi nơi và mỗi thời, thách đố về mối tương quan giữa chuyện đạo vào chuyện đời có một dáng vẻ khác nhau, có khi là một thứ nhập nhằng giữa quyền đạo và quyền đời theo một tinh thần chẳng có chút gì là Tin Mừng, có khi là một sự tách rời hoàn toàn của hai lãnh vực ấy. Thực trạng tách rời giữa đức Tin và đời sống thường ngày có lẽ là điểm yếu nhất của Giáo hội Việt Nam. Mặc dù, ở Việt Nam hoặc ở những cộng đồng người Việt nước ngoài, sinh hoạt đạo của giáo hữu Việt Nam vốn khá sầm uất. Tuy vậy, trong tâm thức người Kito hữu Việt Nam, những vấn đề đời sống nhân bản, vấn đề sống những đòi hỏi của đức Tin trong đời sống hằng ngày, trong việc làm ăn, vấn đề tôn trọng lợi ích chung, tôn trọng luật pháp quốc gia... thì lại thường không được tính đến trong nội dung đức Tin. Cùng lắm người ta chỉ thấy những thứ tội trong bình diện luân lý khi xét mình để đến với bí tích Sám Hối.

Nhiều phong trào công giáo tiến hành, sang đến Việt Nam, trở thành hội đạo đức; nghĩa là người ta đọc kinh, cầu nguyện với nhau, còn việc đem Tin Mừng vào đời sống xã hội và đời sống thường ngày được coi như chuyện riêng của mỗi người. Không ít những người Kito hữu, rất sốt sắng trong sinh hoạt đạo, nhưng lại vứt rác hoặc chuột chết ra đường...

Cạm bẫy người Do Thái đặt ra cũng có thể nhìn trong khía cạnh tương quan giữa chuyện đời và chuyện đạo. Người Do Thái dự đoán rằng hoặc ông Giêsu chọn theo nguyên tắc của chuyện đời (nộp thuế cho Xe-da) thì sẽ rớt vào thái độ bỏ chuyện đạo; hoặc ông Giêsu chọn theo nguyên tắc của chuyện đạo (không nộp thuế cho Xê-da) thì sẽ trở thành tội phạm chính trị. Như thế, khi đưa ra thử thách này, người Do Thái đã ngầm hiểu về một sự tách biệt đương nhiên hoặc sự đối lập gay gắt giữa đức Tin và sinh hoạt chính trị đời thường.

Thật ra, con người chọn “đời” mà bỏ “đạo”, hay chọn “đạo” mà bỏ “đời” thì cũng đều nguy hiểm, chẳng những là nguy hiểm chính trị, nguy hiểm nhân bản, mà còn là nguy hiểm cho chính phẩm tính của đời sống đức tin.

Thánh Tôma Khuông xuất thân từ một gia tộc chính trị, thân sinh của ngài đã làm tuần phủ ở Hưng Yên và con đường công danh sự nghiệp trần thế của ngài đã có thể tiến triển theo một chiều hướng khác. Thế nhưng, Tôma Khuông đã chọn cho mình nẻo đường làm linh mục. Làm linh mục không phải là bỏ hết chuyện đời. Đối với Toma Khuông, chọn lựa nẻo đường đức Tin bao hàm một cách sống trọn vẹn trách nhiệm của một người dân trong một đất nước.

Đức Giêsu nói rằng : "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Đây không phải là một sự tách biệt, nhưng là sự bao hàm. Việc trả cho Thiên Chúa điều thuộc về Thiên Chúa không thể không dinh dáng đến chuyện trả cho Xê-da điều thuộc về Xê-da; và chính khi trả cho Xê-da điều thuộc về Xê-da, khi thực hiện chân chính nghĩa vụ của một người công dân trong xã hội, con người đang trả cho Thiên Chúa điều thuộc về Thiên Chúa.

Sau 15 ngày giam giữ, cha Tôma Khuông và bốn giáo hữu khác có địa vị, được áp giải tới quan Tổng đốc xét xử. Quan tìm mọi cách ép buộc cha làm nhân chứng tố cáo: những người Kitô hữu ở Cao Xá thông đồng với tàu Pháp – Tây Ban Nha đang bỏ neo ngoài cửa biển, âm mưu nổi loạn chống lại nhà vua. Cha Tôma thẳng thắn trình bày lập trường của Giáo hội : "Đạo Công Giáo không những cấm các tín hữu chống đối chính quyền mà còn khuyến khích họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương được an ninh thịnh vượng".

2. “Chuyện đời” loại trừ “chuyện đạo”

Ở Tây phương, khi con người ra khỏi bầu khí Kito-giới của thời Trung Cổ, thì từng bước từng bước, con người cũng giảm thiểu vai trò của Thiên Chúa trong đời sống con người. Một trào lưu mang tên thế tục hoá hình thành và mỗi ngày mỗi lớn mạnh hơn. Tin Mừng thứ IV thường đối lập giữa thế gian và Nước Chúa, nhưng đó không phải là một sự tách biệt hoặc đối lập giữa hai thực thể, mà là một sự đối lập giữa hai “tinh thần”. Người ta gọi đó là thứ nhị nguyên luân lý, chứ không phải là nhị nguyên về thực tại.

Thế giới hiện đại đang đặt ra cho con người hôm nay những thử thách giống như người Do Thái đã đặt ra cho đức Giêsu. Con người ngày nay, trong nỗi ngày sống, đều có thể gặp thấy nhiều thách đố tương tự : hoặc trung tín với bạn bè hoặc phải ngả theo chiều gió quyền lực, hoặc làm ăn chân thật hoặc nghiêng ngả theo bong bóng thị trường, hoặc chấp nhận thua thiệt vì tình nghĩa hoặc sòng phẳng một cách lạnh lùng... Quy luật của cuộc sống con người đầy sức mạnh nghiệt ngã đủ sức vùi dập những kẻ muốn sống liêm chính hoặc sống trung thành với những cảm thức thiêng liêng trong tâm hồn. Quả thật, trong thế giới hôm nay, nếu chọn sống theo tinh thần của Tin Mừng, người ta sẽ trở thành những kẻ khờ khạo giữa dòng chảy của sinh hoạt trần thế. Do đó, càng ngày con người càng nghiêng về cách chọn lựa thích ứng, chọn thái độ “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”; và khi đó, con người buộc phải đóng khung đời sống đức Tin trong những sinh hoạt thuần tuý việc đạo.

3. “Chuyện đời” trong “chuyện đạo”

Đức Tin, đặc biệt là đức Tin trong truyền thống Do Thái Kito giáo, luôn gắn liền với thực tại, gắn liền với lịch sử trần thế. Hoa trái đặc biệt của đời sống đức Tin này là “lịch sử ơn cứu độ”. Ơn cứu độ là một lịch sử, là chính lịch sử trần thế, nhưng được đón nhận, được xử lý trong ánh sáng đức Tin. Chính lịch sử đời thường được đón nhận, được giải quyết theo tinh thần đức Tin, trở nên lịch sử ơn cứu độ, chứ không phải là một lịch sử nào khác.

Đời sống đức Tin là một sự sống bao hàm toàn diện con người, cả “tâm” và “vật”. Đức Tin Kito giáo không phải chỉ là “đạo tại tâm”, bởi vì đức Tin cần được diễn tả, cần được thực hành, nếu không thì đó là đức Tin chết (x. Gc 2,26). Tuy nhiên, đời sống đức Tin ấy cũng không phải thuần tuý là một sinh hoạt, diễn ra hoàn toàn trong không gian và thời gian. Đời sống đức tin chân thực là “tinh thần”, là “thần khí” thấm nhuần mọi sinh hoạt trần thế của con người.

Đức Giêsu đã thoát bẫy của người Do Thái, không phải chỉ là do một cách né tránh khôn khéo, nhưng Ngài, nhân cơ hội này, công bố một sự thật mà người Do Thái đã bỏ quên : Sống đức tin là sống chính lịch sử đời thường trong sự dẫn dắt của thần khí Chúa.

Một vài làng Công Giáo có tổ chức một số thanh niên để tự vệ trước sự càn quét của quân lính nhà vua. Cha Khuông khi đó đã gần 80 tuổi, hoàn toàn không hưởng ứng chủ trương này. Năm 1859, thấy một giáo dân Cao Xá tổ chức võ trang, cha liền ngăn cản và quyết định lánh sang đại phận Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng). Quyết định này khiến cha bị bắt và được lãnh phúc tử đạo.

Đức Giêsu thoát bẫy lúc này, nhưng những lập trường như thế sẽ tạo điều kiện cho sự chống đối của người Do Thái càng mạnh mẽ hơn. Quả thật, sự sống Kito giáo gần như đưa đến hệ quả tất nhiên là “tử đạo” cách này hay cách khác; bởi vì Kito giáo là một sự sống được hướng dẫn do tinh thần của đức Tin, diễn ra ngược với qui luật đời thường của thế gian. Một người tín hữu có địa vị xã hội sẽ phải đối diện với thách đố này một cách gay gắt hơn nhiều, bởi vi chính môi trường chính trị là môi trường gay go nhất để sống giá trị nhân bản, và dĩ nhiên, đó càng là môi trường khó khăn nhất để sống tinh thần đức Tin, với một hệ giá trị nhân bản Kito giáo.

Cuối cùng, bản án của đức Giêsu cũng trở nên một bản án chính trị (X. Ga 19,15). Những mâu thuẫn trong lãnh vực tôn giáo đưa đẩy đến bình diện chính trị. Quả thật môi trường chính trị chính là môi trường thách đố gay gắt nhất của đức tin. Khi đó, chúng ta hiểu được rằng chính trong bình diện chính trị ấy mà Tin Mừng cứu độ của đức Giêsu phải vươn tới “tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Trong tâm thức của Kito giáo thời ấy, mút cùng trái đất là nơi ngự trị của đầu mục thế gian, là chính kinh đô Roma, nơi mà hai thánh Tông Đồ Phêro và Phaolo đã đổ máu mình ra để trở nên lời chứng cho đức Tin.

"Tôi nay đã 80 tuổi rồi, lại là linh mục công giáo, tôi luôn luôn nhắc nhở các tín hữu trung thành giữ đạo thánh Chúa. Giờ đây nếu tôi khuyên họ chối đạo thì tôi thật bất xứng và chẳng đáng làm linh mục. Tôi và các bạn toi không mong ước gì hơn là được hy sinh mạng sống vì đạo Chúa".

Thánh Tôma Khuông đã chọn lựa chuyện đạo, coi chuyện đạo là căn bản để giải quyết chuyện đời, và như thế đó, cùng với Phêro và Phaolo, Tomas Khuông đã đi đến mút cùng trái đất..

Đời sống đức Tin không phải là phần đóng thuế bảo hiểm cho tương lai.

Đức Tin là sinh lực cho cuộc sống này để cuộc sống hiện tại có thể vượt qua mọi thách đố và vươn tới sự sống mai sau.

Chúa ơi,Con tin vào Chúa

Xin giúp con cũng tin vào giải pháp nhân sinh mà Đức Tin chỉ dẫn cho cuộc đời con

II. Thánh Laurensô NGUYỄN VĂN HƯỞNG

Linh mục - (1802 -1856) - Ngày 27 tháng 04

Suy niệm Tin Mừng Ga 17,3-10

“173Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.

4Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm.5Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian.6Những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con, và họ đã tuân giữ lời Cha.7Giờ đây, họ biết rằng tất cả những gì Cha ban cho con đều do bởi Cha,8vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con; họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con.

9Con cầu nguyện cho họ. Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha. 10Tất cả những gì của con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con ; và con được tôn vinh nơi họ.”

Khát vọng một gia đình đích thực

Cậu bé Laurensô Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1802 tại xã Tụy Hiền, xứ Kẻ Sải, tổng Trinh Tiết, thuộc Hà Nội. Gia đình nghèo, mồ côi cha ngay từ nhỏ, cậu Hưởng phải đi chăn trâu cho một người ngoại giáo tên là Thang.

1. Có vẻ ngông...

Trong lịch sử, những học thuyết nào chối bỏ đời sống gia đình, chẳng hạn Platon, Campanella... đều đã phải bị sụp đổ. Tình cảm gia đình là một tình cảm thâm sâu trong tâm hồn con người, và là một giá trị hết sức vững chắc. Hình ảnh cha mẹ là những hình ảnh thân thương nhất trong tâm hồn một con người, là những tượng đài sừng sững mà không dễ một học thuyết nào có thể phá đổ được.

Trong khi đó, đức Giêsu tuyên bố :”37Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.38Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.39Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” (Mt 10, 37-39)

Lời đức Giêsu tuyên bố tỏ ra khá ngông cuồng. Lời nói ấy, nếu không phải do chính Thiên Chúa nói, thì chỉ có thể là lời nói của một người điên. Thật ra, đức Giêsu đã nói không ít những lời có vẻ khó nghe, có vẻ ngang ngược như thế. Nếu chúng ta hiểu chữ “ngông” theo nghĩa tích cực, có lẽ thế gian này chẳng có mấy người đã “ngông” như đức Giêsu. Không phải chỉ là những lời nói và hành động đối với những người Do Thái, nhưng ngay cả với Chúa Cha, đức Giêsu cũng dám ví với tên trộm đến bất ngờ, ví với một quan toà không kính sợ Chúa và không coi ai ra gì.... Ta có cảm giác đức Giêsu không sợ hãi, không uý kỵ, không né tránh. Đức Giêsu không vì một sự sự tế nhị nào mà giảm thiểu mức độ khẩn thiết và quan trọng của mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Quả thật, Đức Giêsu đã phải ngông chỉ vì để diễn tả sự thật. Có một sự thật ở chính nền tảng sự sống, và sự thật này, con người thường bỏ quên hoặc không thể nghĩ tới được, khiến cho những điều đức Giêsu công bố lại trở thành khó nghe. Có một sự thật khác với cách suy nghĩ của con người mà Đức Giêsu đã phải công bố, và Ngài đã công bố một cách ngông nghênh...

Thấy cậu hiền lành, chú Thang rất quý mến và đối xử như con ruột. Tình thương của ông chú thật đáng quý, nhưng chẳng thể bù đắp được nỗi bất hạnh do thiếu tình yêu cao quý của cha mẹ ruột. Cậu Hưởng chọn con đường dâng mình cho Chúa...

2. Có một thực tế...

Có một thực tế không ai có thể chối cãi, đó là không phải ai cũng được biết và được sống với cha mẹ; và cũng không phải tất cả những người cha người mẹ luôn làm những điều tốt đẹp cho cái, khiến cho con cái có thể giữ được hình tượng cha mẹ như một hình tượng đẹp nhất trong tâm hồn mình.

Thực tế là thế giới chẳng bao giờ không có những kẻ mồ côi, hoặc chẳng bao giờ thiếu những người không được nếm cảm tình nghĩa ngọt ngào của đời sống gia đình. Dĩ nhiên, đó chỉ là số nhỏ, nhưng đối với Thiên Chúa, không có một cá nhân nào là tầm thường. Không một đứa trẻ nào, vì hoàn cảnh cá biệt mà không được Thiên Chúa tính đến. Trong thế giới của Chúa, không có một thứ giải quyết xuê xoa, dễ dãi, bằng cách cứ theo nguyên tắc chung, loại bỏ những trường hợp cá biệt. Thiên Chúa không nhắm mắt bịt tai trước hình ảnh và tiếng kêu của một kẻ bé mọn nào. Thiên Chúa sẵn sàng “bỏ” 99 con chiên không đi lạc để lên được tìm cho được một con chiên lạc....

Nếu mồ côi là nỗi bất hạnh lớn nhất của một đứa trẻ, thì thật ra không phải chỉ có những đứa trẻ mồ côi mới phải chịu cảnh bất hạnh này, mà còn có nhiều hơn những đứa trẻ, dù có cha có mẹ, nhưng vẫn không được sống trong một mái ấm gia đình thực sự. Rồi còn có nhiều hơn nữa những con người có cha có mẹ nhưng chỉ còn là những ràng buộc nghĩa vụ nặng nề... vì muôn vàn lý do. Còn một sự thật phổ quát nữa, là cuối cùng thì ai cũng phải, hoặc đã, hoặc đang, hoặc sẽ phải chịu cảnh chia ly với cha mẹ khi “thần chết” đến.

Nếu niềm hạnh phúc của một đức con là có cha có mẹ, thì thực tế là niềm hạnh phúc ấy bộc lộ rõ nét nhất tính dở dang của thân phận con người. Con người chẳng bao giờ được vui hưởng trọn vẹn niềm bình an trong vòng tay cha/mẹ suốt cả cuộc đời.

Điều đức Giêsu công bố một cách ngông nghênh chính là mời gọi con người nhìn đến thực tế ấy, để có thể vượt qua mà hoàn thành phận người trong một nẻo đường khác.

Cậu Hưởng muốn dâng mình cho Chúa để tìm kiếm một tình thương trọn vẹn hơn, nên đến xin cha Duyệt, chánh xứ Sơn Miêng giúp đỡ. Sau ba năm được cha xứ nuôi dưỡng ăn học, cậu được gởi vào học tại chủng viện Vĩnh Trị, thụ giáo với cha chánh xứ giáo phận Tây Đàng Ngoài.

3. Khát vọng thành toàn

Con người được hồng phúc có cha có mẹ không phải vì nhờ cha mẹ mà mình được sự chăm sóc đầy đủ. Khát vọng có cha có mẹ thật ra là dấu chỉ khát vọng về cội nguồn sâu xa nhất mà mình cần được hoà nhập; là khát vọng được hợp nhất trong cái toàn thể; khát vọng được thành toàn trong một tương lai có hậu; khát vọng được chấp nhận trọn vẹn bản thân và cuộc đời. Nói tóm, khát vọng có cha mẹ dính dáng tới khát vọng thành toàn ý nghĩa của một cuộc đời.

Một con người như Laurenso Hưởng có lẽ đã thấm thía hơn ai hết thế nào là một đứa trẻ mồ côi, và đã khao khát hơn ai hết về một cội nguồn toàn vẹn, một mái ấm chân thực nhất có thể khoả lấp lòng người.

Thư Epheso nói : “14Vì lý do đó, tôi quỳ gối trước mặt Chúa Cha,15 là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất.” (Ep 3,14)”. Và Đức Gioan Phaolo II nói : “Cấu trúc đầu tiên và cơ bản cho “hệ sinh thái của con người” là gia đình” (Thông điệp Centesimus Annus, 1991, số 39).

Cho nên khát vọng có cha có mẹ chỉ được trọn vẹn khi trở nên một phân đoạn của dòng suối nghĩa tình từ chính Thiên Chúa Cha và được trở về với Cha.

”17Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô”.(Ga 17,3)

Mạch sống hay trực giác căn của của Lau-ren-sô Hưởng có lẽ chính là, do hoàn cảnh mồ côi, mà lại nghiệm ra một cách rõ rệt và sống động hơn khát vọng về cội nguồn sâu xa nhất. Thiên Chúa là Cha và Ngài dẫn dắt lịch sử nhân loại đến điểm thành toàn trong ngày Quang Lâm của đức Giêsu.

Mặc khải của đức Giêsu về Thiên Chúa Cha, đó không phải là chuyện thêm vào cho dòng sự sống của kiếp người. Ngược lại, kiếp người không thể được cứu độ, không thể được thành toàn nếu không có ơn cứu độ, nếu không được thành toàn trong chương trình cứu độ nếu không bước vào được Nước Trời nhờ mặc khải của đức Giêsu “Thiên Chúa là Cha”...

"Quá khóa đi ! ta thương và giảm nhẹ án cho".

Cha Hưởng đơn sơ trả lời quan án : "Bẩm quan lớn, có bao giờ con cái dám đạp lên đầu cha mẹ mình chăng ?".

Quả thật, quá khóa đối với cha không phải chỉ vì sợ hình phạt, không phải chỉ vì trách nhiệm một đạo trưởng, nhưng sâu xa hơn, đó là chối bỏ ý nghĩa sâu xa nhất trong tâm hồn của ngài, là từ chối cội nguồn của khát vọng có một gia đình...

Hãy cùng với thành Lau-ren-so Nguyễn Văn Hưởng để lặn sâu hớn nữa vào mầu nhiệm bao trùm và ngọt ngào cho đời sống của mình bằng việc reo lên Thiên Chúa là Cha.

Cảm tạ Chúa đã cho con được nếm cảm vị ngọt của tình yêu Chúa trong đời sống gia đình.

Nhưng con cũng biết rằng có biết bao người chưa bao giờ được một ngày vui xum họp gia đình.

Con cũng biết có biết bao đứa trẻ thèm khát vị ngọt ấy như đức trẻ đói sữa.

Con có giúp gì được cho những người ấy ?

Chúa ơi, xin mở rộng vòng tay như người Cha yêu thương ôm ấp những thân phận “mồ côi” trong cuộc sống trần gian.

III. Thánh Đaminh CẨM

Linh mục dòng ba Đaminh - (?-1859) / Ngày 11 tháng 03

Suy niệm Tin Mừng Lc 10, 1-12

“10,1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.2Người bảo các ông :

"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.3Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.4Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : "Bình an cho nhà này !" 6Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy ; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em.7Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia.8Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.9Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ : "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông." 10Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói :11 "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này : Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần." 12Thầy nói cho anh em hay : trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó."

Niềm Tin - Tình Yêu – Trách nhiệm

Đa minh Cẩm sinh tại làng Cẩm Giàng (hay Cẩm Chương), xứ Kẻ Roi, tỉnh Bắc Ninh (nay là Hà Bắc, gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang). Vì thông minh sắc xảo từ nhỏ, nên cậu Đaminh Cẩm được thu nhận vào nhà Chúa. Sau khi mãn khóa thần học, thầy Cẩm được lãnh chức linh mục. Vị linh mục trẻ trung này chẳng bao lâu đã xin gia nhập dòng ba Đaminh.

1. Cánh đồng lúa chín

Đâu là đồng lúa chín ?

Chắc hẳn, theo nhãn quan con người, đồng lúa chín là nơi con người có đời sống đạo đức, sốt sắng, nhiệt thành với Chúa. Thế nhưng, khi sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, có phải đức Giêsu nhìn thấy dân tình đạo đức không ? Những điều đức Giêsu dặn dò các môn đệ khi không được đón nhận : “10Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói : 11"Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông”, những lời ấy cho thấy nơi cánh đồng lúa chín không phải là nơi môi trường tốt đẹp như ta tưởng.

Cánh đồng nhân loại khá lạ lùng. Cánh đồng lúa ấy có thể “không chín” được, trải qua hết năm này đến năm khác. Rồi cánh đồng ấy bỗng chín, chín vàng, khi có một ánh mắt “nông dân thứ thiệt” nào đó chiếu dõi vào. Nói một cách khác, “lúa chín” ở đây không phải là một hiện tượng hoàn toàn khách quan, ai cũng thấy, nhưng là sự giao thoa giữa đồng lúa với ai đó. Chỉ với con mắt người nông dân thì mới có một cánh đồng lúa chín. Còn với những con người “thành thị”, lúa cũng mãi là lúa, lúa chỉ là một chút thơ mộng cho những giây phút thư giãn. Làm gì có lúa chín với những kẻ dạo chơi trên cánh đồng ! Làm gi có lúa chín khi mà người ta nhìn cánh đồng với con mắt thương nhân tìm mua đi bán lại ! Làm gì có lúa chín với những người đỏng đảnh áo quần, se xua son phấn !...

Trong xã hội hôm nay, với một cách nhìn bi quan, ta sẽ chỉ thấy có những thứ người cứng đầu, có những thứ người truỵ lạc, có những thứ người tàn ác... Với tinh thần thế gian ấy, làm sao ta có thể thấy được cõi lòng của một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình ? làm sao ta có thể đọc được tâm tư của người phụ nữ xứ Samarie ? làm sao có thể đọc được tâm tình của một bà mẹ khóc lóc van nài được mẩu bánh rớt xuống từ bàn ăn ?...

Ai có thể làm cho những mảnh đất ra như khô cằn ấy trở thành cánh đồng lúa chín ? Ai có thể nhìn ra “lúa chín” nơi những cây lúa héo tàn, còi cọc ? Hẳn là chỉ có chủ ruộng ! Hẳn là chỉ có những người thợ được chủ sai đi !

Cha rất nhiệt thành với việc tông đồ, và được bề trên cũng như mọi người quý mến. Năm 1848, khi tòa thánh chia giáo phận Đông Đàng Ngoài thành hai giáo phận Đông (Hải Phòng) và Trung (Bùi Chu) thì cha Đaminh Cẩm tuy sinh quán Bắc Ninh (thuộc giáo phận Đông), lại được cử phục vụ ở giáo phận Trung, có số tín hữu đông gấp ba lần. Tại đây khi cuộc bách hại trở nên gay gắt, vì lợi ích của giáo dân cha phải lẩn trốn hết nơi này đến nơi khác. Nhưng mỗi khi trách nhiệm mục vụ đòi hỏi cha Cẩm luôn sẵn sàng đi đến bất cứ nơi đâu, dù có nguy cơ bị bắt bớ.

2. Lãnh trách nhiệm nơi Chủ mùa

Đức Giêsu thốt lên : Lúa chín đầy đồng. Lời tuyên bố của đức Giêsu, như đã nói, không phải chỉ là một nhận xét khách quan về xã hội, nhưng bộc lộ tấm lòng của người mục tử, và bộc lộ nhãn giới tinh tường về thân phận con người.

Nước Trời đâu phải là viên ngọc quí bị quăng cho heo giày (X. Mt 7,6). Nước Trời chờ đợi, ngóng trông những tâm hồn nhạy bén với phận người, canh cánh với những mảnh đời đau thương. Cũng như người thương nhân khám phá ra viên ngọc đẹp, hoặc tìm thấy một kho tàng trong ruộng (X. Mt 13,44-45), nước Trời chỉ lộ ra với những ai tha thiết tìm kiếm và dám bán hết mọi sự để mua cho được.

Chủ mùa gặt chỉ có thể là Chúa và chỉ những người được chủ mùa gặt sai đi mới có thể thấy lúa chín mà thôi.

Khát vọng Thiên Chúa nằm sâu trong lòng con người. Khát vọng ấy trổ sinh hoa trái tuỳ theo mảnh đất được gieo trồng. Đức Giêsu biết những gì trong lòng con người (X. Ga 2,25) và Ngài đã thu hoạch được những bông lúa chín một cách tuyệt diệu. Làm sao có thể thấy được khát vọng Thiên Chúa đã chín mùi nơi Giakeu hoặc như Mattheu, những kẻ đang làm nghề tội lỗi ? Làm sao có thể nói được với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình rằng : chị về đi và đừng phạm tội nữa ? Làm sao đức Giêsu có thể gặp gỡ, nói chuyện vu vơ với người phụ nữ Samarie nếu như không đoán được niềm tin đã đến lúc chín mùi nơi con người “ngoại giáo” xa lạ ấy ?...

Mỗi con người có một lịch sử, một lịch sử riêng tư và độc đáo. Người nào muốn dùng một bài toán, bài toán khách quan, để tính toán một cuộc đời, sẽ chẳng thể thấy được phẩm tính độc đáo của một ngã vị. Chỉ những ai tôn trọng một phẩm giá, trân trọng một giá trị nhân vị mới có thể khám phá ra “phẩm tính siêu nhiên” phẩm tính khát vọng ơn cứu độ, nàm sâu trong mỗi câu chuyện đời.

“Lúa chín” thật ra chỉ có thể lộ diện từ lòng khao khát ơn cứu độ các linh hồn. Lúa chín từ nơi tấm lòng của Thiên Chúa, bộc lộ qua đức Giêsu : “43 Nhưng Người nói với họ : "Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó." (Lc 4,43). Chỉ những ai được Chủ ruộng lúa sai đi, thông hiệp với tấm lòng thiết tha của Chủ, thì mới có thể lên đường, mới có thể nhìn ra những bông lúa chín, mới có thể vượt quá những thách đố khó khăn của người tông đồ.

3. Ra đi như con chiên giữa bầy sói

Lịch sử phát triển của Giáo hội được ghi bằng máu các vị tử đạo, vì máu tử đạo là hạt giống trổ sinh niềm tin (Tertuliano). Không có thời gian nào Giáo hội được phát triển một cách chân chính và vững mạnh cho bằng 300 năm đầu của lịch sử Giáo hội, thời gian mà dòng suối nhân chứng nơi các vị tử đạo tuôn chảy dạt dào hơn hết.

Điều đó cũng cho thấy rằng cánh đồng lúa chín chỉ lộ ra cho những ai xắn tay áo, bước vào đời như nghe được tiếng ruộng lúa kêu mời; bước vào cánh đồng bằng mồ hôi, đổ nước mắt, đổ máu và cả sự sống của mình, mong được thu hoạch được mùa lúa dồi dào :

“Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,

Mùa gặt mai sau khấp khởi mừng” (Tv 126,5)

Tiếng nấc “nghẹn ngào”, những giọt mồ hôi, tâm hồn quặn đau... đó là những “người em”, “người cháu” của “máu đào”. Đức Giêsu nói trước : “Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Có sói và cả một bầy sói, thì chiên không thể không đổ máu. Đó là vận mạng của người môn đệ Chúa Kito.

Nhưng “máu” của các nhà truyền giáo không phải là thứ máu của con dê tế thần cách vô nghĩa, mà là máu quí giá, máu phong phú vô biên, vì được kết hợp với máu của chính Con Chiên Vô Tì Tích là đức Giêsu Kito.

Chúa ơi,

Có phải lòng con quá nhỏ hẹp ?

Có phải con mắt con “cận thị”, chỉ thấy những gì quanh quẩn trong đời sống của con

Con chẳng bao giờ thấy được “đồng lúa chín” ở đâu cả.

Con chỉ thấy những “cỏ dại” và “gai góc”

Con xa lánh và chê bai cỏ dại gai góc ấy, như kẻ đi cà kheo giữa cuộc đời.

Chúa ơi, xin mở mắt, mở lòng và mở trí cho con.