Tìm Chân Lý qua Dấu Máu Đức Tin - Phần 6
Trong thư Ephêsô, thánh Phaolô khẳng định với chúng ta một chân lý : “. . . Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” [Ep 3,14]. Khẳng định ấy có thể mở ra một nẻo đường tìm về Thiên Chúa qua tình nghĩa “gia tộc” thân quen của con người. Nếu như những tình cảm của đời sống gia đình, tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ… là những gì rất sâu xa và sống động trong lòng con người, thì chúng ta cũng có thể thấy hầu như tất cả những đường nét của tình nghĩa gia đình ấy ăn khớp sít sao với khuôn mặt Thiên Chúa mạc khải và ăn khớp sít sao với trọng tâm của ơn cứu độ là mầu nhiệm tử nạn – Phục Sinh.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài VIII Tử đạo trong đời sống gia đình
Trong thư Ephêsô, thánh Phaolô khẳng định với chúng ta một chân lý : “. . . Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” [Ep 3,14]. Khẳng định ấy có thể mở ra một nẻo đường tìm về Thiên Chúa qua tình nghĩa “gia tộc” thân quen của con người. Nếu như những tình cảm của đời sống gia đình, tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ… là những gì rất sâu xa và sống động trong lòng con người, thì chúng ta cũng có thể thấy hầu như tất cả những đường nét của tình nghĩa gia đình ấy ăn khớp sít sao với khuôn mặt Thiên Chúa mạc khải và ăn khớp sít sao với trọng tâm của ơn cứu độ là mầu nhiệm tử nạn – Phục Sinh.
1. Huyền nhiệm sự sống con người
Cuộc sống con người không phải chỉ là một chiến đấu thảm hại để tồn tại, nhưng là một cuộc “vượt qua” từ sự sống đơn thuần đến sự sống có ý nghĩa. Cuộc sống con người phải đối diện với một thách đố mang tính tinh thần chứ không phải vật chất, đó là thách đố về sự hàm hồ, về sự phi lý, về ý nghĩa căn bản của phận người. Một cuộc sống không có ý nghĩa còn dằn vặt con người hơn một cuộc sống khó khăn túng thiếu rất nhiều. Chẳng hạn, thay vì tìm “sung sướng” một cách đơn thuần, con người lại khao khát tìm “hạnh phúc” một cách tinh tế. Sung sướng đơn thuần là một sự hưởng thụ cân đong đo đếm được, so sánh và xếp hạng được; còn hạnh phúc tinh tế lại là điều tự trong tâm hồn con người mới cảm nghiệm và cắt nghĩa được. Một phụ nữ có cái bánh và ăn cái bánh thì “sướng mồm” mình; nhưng nếu người phụ nữ ấy là mẹ, sống ý nghĩa làm mẹ một cách chân thực, thì lại cho con cái bánh ấy và nhìn con ăn ngon mà lòng thấy hạnh phúc tràn đầy…
Rõ ràng sự sống nơi con người đã vượt lên tới tầng ý nghĩa, hàm chứa một “hạt nhân ý nghĩa” như trung tâm điểm sức sống của đời người. Điều kỳ diệu là ở mức độ này, sự sống có thể chiến thắng được sự chết, không phải bằng cách “phủ định đơn thuần” (không còn chết nữa), mà bằng phương thức “phủ định biện chứng”; nghĩa là loại bỏ được sự phi lý của cuộc sống, chiến thắng tính thống trị bi đát của cái chết. Nơi đây, cái chết không còn là bóng ma chụp xuống, phá hủy mọi thành quả một cách bi đát, nhưng được đón nhận cách tự nguyện để hoàn thành ý nghĩa đời người. Cái chết của con người không phải chỉ là sự thua cuộc vì không thể sống nữa, nhưng có thể được biến hoá trở thành sự thắng cuộc, thắng được thứ “hư vô chủ nghĩa”, vì tìm tìm thấy được “lẽ sống”. Lẽ sống chân chính khiến người ta có thể tự nguyện vét hết cuộc sống của mình để dâng tặng. Sự sống con người tìm được con đường đạt đến sự trường tồn bằng phương thức của ý nghĩa.
Với con người, “ý nghĩa” chân chính không phải chỉ là chiếc áo mặc thêm cho thực tại, nhưng là vóc dáng nên bản chất chân thực nhất của thực tại. Không phải chỉ là sống, sống làm sao cũng được, nhưng là sống như một ân huệ được lãnh nhận và thôi thúc cho đi; không phải chỉ là ăn như một phương thức nạp năng lượng, nhưng ăn là hiệp thông với thế giới và vũ trụ qua “hoa mầu của ruông đất và công lao của con người”... “Ý nghĩa” được khám phá trong tự do, làm lộ ra một phẩm tính mà trước đó còn bị ẩn dấu. Định luật thay đổi số lượng, đến độ nào đó, tạo nên thay đổi về phẩm tính, định luật ấy hoàn toàn không thể cắt nghĩa được sự hình thành một ý nghĩa. Một lẽ sống chỉ có trong phẩm giá sự sống con người. Dĩ nhiên, người ta vẫn có thể tạo ra một ý nghĩa giả, một thứ ảo tưởng, một phương trốn thực tại, một màn “ảo thuật” để tự lừa dối chính mình; nhưng ý nghĩa ấy chỉ là một dị vật. Dị vật thì cản trở sự sống, làm biến dạng dáng vẻ sự sống. Trong khi đó, một ý nghĩa chân thực của sự sống thì luôn nằm trong chính bản chất của sự sống, làm nên phẩm tính thống nhất của sự sống chứ không phải là một yếu tố bên ngoài được ghép vào. Ý nghĩa chân thực luôn làm cho sự sống được mạnh mẽ và phong phú hơn; ý nghĩa chân thực tạo nên nét đẹp muôn đời trong lịch sử nhân loại.
“Ý nghĩa” là phương thức biểu lộ phẩm tính đặc biệt của sự sống tinh thần. Sự sống nơi con người thiết yếu mang tính chất của tinh thần nhập thể, nên con người luôn khao khát một cuộc sống có ý nghĩa. Một người cha chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc khi sống trọn ý nghĩa làm cha, khi biết chăm lo cho gia đình và khi tìm thấy niềm vui vì “con hơn cha là nhà có phúc”… Sự sống nơi con người chỉ tìm thấy sự thành toàn trong một ý nghĩa chân thật, ý nghĩa thuộc lãnh vực tinh thần, ý nghĩa đưa phẩm tính người lên cao hơn; chứ không phải bắt nguồn từ một thứ ảo ảnh “duy tâm”, hoặc phản ánh “lực lượng và tương quan sản xuất” … Ý nghĩa chân chính của sự sống tạo nên sự sống phong phú, sự phát triển toàn diện; ngược lại ảo tưởng là một thứ bệnh làm méo mó, lệch lạc, và chỉ có tính cách nhất thời…
Rõ ràng, nếu không có sự sống chân chính của con người để làm sáng lên ý nghĩa đích thực của sự sống, toàn thể vũ trụ lại bị chìm vào tính hư vô từ trong cội nguồn :
“Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. Thật vậy, chúng ta biết rằng : cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở”.(Rm 8, 19-22)
2. Huyền nhiệm sự sống trong gia đình
Gia đình là chiếc nôi của sự sống con người, không phải chỉ vì gia đình là nơi “sản xuất” ra sự sống con người, nhưng chính yếu là vì nơi đó ý nghĩa sự sống toàn vẹn của con người được khẳng định, được vun trồng, được nhân rộng ra mãi. Gia đình là “tế bào” của xã hội không phải theo nghĩa cơ học, không phải vì mỗi gia đình được bỏ vào trong một cái bao chung là xã hội, nhưng thiết yếu là vì gia đình hàm chứa một cách vững bền và mạnh mẽ nhất quy luật của một sự sống có ý nghĩa nơi đẳng cấp người.
Nơi gia đình, ý nghĩa của sự sống được xác định rõ rệt trong mối tương giao ngã vị; và đó là điều khác biệt căn bản so với các cộng đồng tự nhiên khác. Sự sống toàn vẹn của con người được ươm mầm trong gia đình; và bước khởi đầu ấy định hướng cho toàn thể hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc đời, đi tìm lẽ sống của đời người. Nơi gia đình, hành trình tìm ý nghĩa của sự sống con người được nâng lên một cấp độ mới : ý nghĩa đời người chỉ có thể trở nên trọn vẹn trên nẻo đường tương giao ngã vị. Chỉ có nẻo đường này mới mở ra chân trời hoàn thành ý nghĩa sự sống con người. Đây là cuộc vượt qua mới nơi tầng ý nghĩa, vượt qua từ cách “sống thế nào” đến cách “sống với ai”. Adam được quyền đặt tên cho muôn vật, đó đã là bước khởi đầu của ý nghĩa của sự sống con người :
“ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì : hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế.” (St 2,19)
Thế nhưng sau đó, Adam vẫn cảm thấy buồn vì không gặp được người trợ tá tương xứng :
“Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng”.(St 2,20)
Và chỉ khi gặp được Eva, Adam mới thốt lên được tiếng reo vui diễn tả sự thành đạt của phận người :
“Con người nói : "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi !” (St 2,23)
Từ đây, ý nghĩa của sự sống con người được định hướng vào mối tương quan ngã vị, đi vào đường hướng “sống với ai” và đường hướng ấy được giữ, được nuôi, được củng cố trong đời sống gia đình.
“Bởi vì “Đấng Tạo Hóa đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người”, nên gia đình trở thành “tế bào đầu tiên và sống động của xã hội”. (t/h Gia Đình, số 42)
2.1 Gia đình là một cộng đồng các ngôi vị
Gia đình là một khuôn mẫu duy nhất trong các cộng đoàn nhân loại có được một phẩm tính riêng biệt : đó là một cộng đoàn các ngôi vị. Tông Huấn đời sống gia đình viết :
“Gia đình, được thiết lập do tình yêu và được sinh động cũng do tình yêu, là một cộng đồng các ngôi vị : đôi bạn nam và nữ, cha mẹ và con cái, họ hàng. Bổn phận đầu tiên của gia đình là trung thành sống thực tại của sự hiệp thông, trong một cố gắng bền bỉ nhằm thăng tiến một cộng đồng đích thực gồm các ngôi vị”. (số 18)
Ngôi vị là một khái niệm triết học phức tạp. Tuy nhiên, ta có thể tạm hiểu cách chung, từ “ngôi vị” diễn tả một chủ thể có lý trí, có tự do và có nét độc đáo riêng biệt, làm nên một phẩm giá cao quí. Ở trần gian này, con người có ngôi vị nên khác với các loài vật khác; và trong con người, tiếng ngôi vị cũng chỉ một thực tại toàn vẹn, như một chủ thể đảm nhận tất cả mọi hoạt động của linh hồn và thân xác.
Như thế, ta có thể hiểu một “cộng đồng ngôi vị” là nơi mỗi thành viên không chỉ đóng góp tài năng, tiền bạc, đức độ,…nhưng là đóng góp chính “cái tôi toàn vẹn của mình”, cũng như đón nhận toàn vẹn cái tôi của người khác. Ý nghĩa này cho ta thấy một sự khác biệt sâu xa giữa gia đình với các thứ cộng đồng hay cộng đoàn khác. Nơi xí nghiệp chẳng hạn, ta không đóng góp cái tôi toàn vẹn và người khác cũng không đón nhận toàn vẹn cái tôi của ta. Nơi đó người ta chỉ đóng góp công sức, tài năng…để nhận lại những gì lợi ích cho cái tôi riêng của mình…
Thật vậy, trong gia đình, các thành viên hiện diện cho nhau với toàn vẹn cái tôi của mình; được chấp nhận và chấp nhận người khác với toàn vẹn cái tôi ấy. Mối liên kết ở mức độ “cái tôi“ vừa làm cho các thành viên có được một “quê hương” để sống trọn vẹn bản thân mình, lại vừa có trách nhiệm trọn vẹn với cả điều tốt và điều xấu nơi cha mẹ, anh chị em của mình; và đây là chính là nguyên tắc của đời sống yêu thương đích thực. Do vậy, giao ước hôn nhân diễn tả một tình yêu thương không rút lại, như giáo lý Kitô giáo vẫn luôn khẳng định; và sự kiện những thành viên có cùng chung máu mủ ruột rà, là cha, mẹ, anh chị em của nhau, cũng là một sự kiện không bao giờ có thể thay đổi, ít là trên bình diện luân lý, mặc dù luật pháp có những quy định cho phép “từ con”. . .
“Tình yêu thương vợ chồng bao gồm một toàn thể tính trong đó có đủ mọi yêu tố cấu tạo nên ngôi vị. . .” (Tông Huấn gia Đình, số 13).
Ngôi vị con người có một phẩm giá cao quí mà không gì có thể đổi chác được. Không ai có thể dùng tiền để mua nội tạng, hoặc mua dâm, hoặc mua hôn nhân. Đó là những tội xúc phạm đến phẩm giá con người. Do đó, “kính trọng” là thái độ căn bản, nền tảng của mọi thứ tương quan giữa con người với nhau, vì kính trọng trước hết chính là thiết lập tha nhân đúng thực là tha nhân, như một ngã vị, như một phẩm giá, và như một người đối thoại chân chính. Sách Sáng Thế diễn tả sự kính trọng ấy trong hình ảnh Eva là “xương sườn”, không phải là “chân” và cũng không phải là “đầu” của Adong.
Khế ước hôn nhân là một khế ước mà hai người “trao thân gửi phận” cho nhau, để liên đới với nhau một cách trọn vẹn, “khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe, khi gian nan cũng như lúc thịnh vượng”. Nơi đó, mỗi người chấp nhận đi vào cuộc phiêu lưu sống-với ai khác trong một hành trình đầy biến động thăng trầm của lịch sử. Nói cách khác, tình yêu Kitô giáo đặt nền vững chắc trên sự thông hiệp "bản thân và cuộc đời", gần giống như một thứ “trao thân gửi phận” cho nhau (trao tặng bản thân và đồng hành trọn cả cuộc đời). Vì thế, ta có thể thấy "công thức yêu" Kitô giáo được diễn tả trong giao ước hôn nhân : tôi nhận anh/em làm chồng/vợ, và hứa giữ lòng chung thủy...".
Từ đó, ta thấy tình yêu "sống với ai" trong tinh thần Kitô giáo nhằm xây dựng nên một "cộng đồng ngôi vị". Bí tích Rửa tội, là giao ước nền tảng của đời sống đức tin, diễn tả một thực tại nền tảng, Chúa ban Con Một của Ngài để chết/Phục Sinh cho con người, và người tín hữu thì chết đi cho con người cũ để sống cuộc đời như một con người mới. Giao ước ấy khiến cho hai bên "thuộc về nhau". Ta cũng thấy lối giải thích về "ơn cứu chuộc" hiện nay đã vượt qua lối trình bày biểu tượng của Kinh Thánh và cách lý giải "đền thay" của thánh Anselme, cũng như nền thần học Kinh viện thời Trung Cổ. Thiên Chúa cứu độ con người là "hòa giải", tái lập lại "tình thân" giữa con người với Chúa và con người với nhau, con người trở nên con của Chúa, được "đồng thừa tự với đức Kitô... Ta có thể diễn tả thực tại cứu độ ấy là một "cộng đồng ngôi vị", trong đó các ngôi vị "thuộc về nhau".
Tình thương Kitô giáo xây dựng nên một sự hiệp thông "móng nền" chứ không phải chỉ là sự ăn khớp "kèo cột"; tương tự như anh em với nhau, dù có khác tính tính tình, cãi vã nhau thường xuyên, nhưng vẫn còn thông hiệp trong "móng nền", một giọt máu đào hơn ao nước lã". Trong khi tình nghĩa chúng ta với bạn bè, với "người ngoài" thì thiết yếu phải xây dựng trên sự ăn khớp của tính tình, của phương thức làm việc..., mà thiếu nhưng yếu tố ấy thì "cộng đồng chức năng" ấy sẽ sụp đổ.
2.2 Nguyên tắc “cho không”
Bước chân ra đường, người ta thường phải sống trong qui luật mua bán đổi chác. Bước ra đường, ta phải có tiền trong túi, hoặc có tài nơi bản thân để có thể trao đổi với người khác trong mọi lãnh vực. Nhưng bước chân vào nhà, người ta được hít thở một “bầu không khí” khác, bầu không khí của việc trao tặng “nhưng không”. Trong gia đình, người cha làm việc cho cả nhà, người mẹ chăm sóc cho cả nhà, con cái đón nhận mọi sự như của chung gia đình mình dù không làm ra được gì cả. Gia đình chính là nơi giáo dục để con người biết sống nghĩa tình với nhau; vì gia đình là nơi người ta biết dâng tặng chứ không phải mua bán đổi chác cho nhau.
“Các tương quan giữa những phần tử trong cộng đồng gia đình được phát triển dưới sự thúc đẩy và hướng dẫn của luật “cho không” bằng cách kính trọng và vun trồng nơi mọi người cũng như nơi mỗi người cái phẩm giá con người như tước hiệu duy nhất có giá trị, trở nên sự tiếp đón nồng nhiệt, gặp gỡ và đối thoại sẵn sàng vô vị lợi, quảng đại phục vụ và tương trợ sâu xa” (T/h Gia Đình, số 43)
2.3 Trao tặng tấm lòng
Khi người mẹ tặng cho con cái bánh, mà đứa con chỉ biết khen chê cái bánh mà thôi, đứa con đó có nhiều nguy cơ trở thành đứa con hư; vì nó chỉ biết tiêu thụ sản phẩm, nó là con người chỉ biết hưởng thụ, chỉ biết so đo tính toán trên sự vật mà không đủ tấm lòng để đón nhận tình nghĩa. Ngược lại, khi đứa con biết quí trọng, không phải là cái bánh mà là tấm lòng của mẹ, đứa con đó có nhiều cơ may nên người, vì nó có khả năng sống tình người và chính tình nghĩa của người mẹ, chứ không phải phương tiện vật chất, thực sự là nguồn động lực cho đứa con trên hành trình sống của nó.
Quả thật, mọi sản phẩm của con người, dù có được nắn nót đến đâu cũng không bao giờ có thể trở thành tuyệt đối, cho đến khi chúng trở thành một món quà để con người trao tặng cho nhau. Nếu không được trao tặng và lãnh nhận, những sản phẩm ấy vẫn là những “vật liệu thô”, không đầy đủ ý nghĩa, không có giá trị tự thân. Ngược lại, một sản phẩm của con người, dù tầm thường đến đâu, khi được trao tặng với tấm lòng, nó hoàn thành ý nghĩa của nó, tức là trở nên nhịp cầu để con người đến với nhau; và nó chỉ trở nên quí giá thật sự khi người ta gặp được tấm lòng của nhau trong sản phẩm ấy. Con người ta chỉ sử dụng sự vật như phương tiện để diễn tả bản thân, chứ không được giản lược bản thân con người vào trong sự vật. Qui luật sống của con người là biết sử dụng vật chất như nhịp cầu để nối kết bản thân của mỗi người với bản thân của người khác. Khi ta thành tâm dâng tặng một món quà, món quà đó không còn là nó nữa, nhưng đã biến nên một giá trị nhân văn, đó là dâng tặng một phần bản thân của mình cho người khác.
“Của ít lòng nhiều” đó không phải chỉ là cách thức “cười trừ” khi mà người ta không có gì đáng giá để trao tặng cho nhau, nhưng chính là ý nghĩa thâm sâu của phẩm giá con người. Điều này chẳng những là một giá trị nhân văn, nhưng còn là chính ý nghĩa sâu xa của mặc khải Kitô giáo : trong nhiệm cục mặc khải, Thiên Chúa mạc khải chính bản thân Ngài qua Lời Chúa và Hành Động; và con người đón nhận hành động và lời nói của Ngài không phải chỉ như những “sự vật”, nhưng như chính bản thân của Chúa, như chính tình yêu của Chúa dành cho bản thân mình.
“Ngước mắt lên nhìn, Đức Giê-su thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói : "Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình."(Lc 21,1-4)
2.4 Trao tặng bản thân
Có một ý nghĩa chân chính nhất làm nên nét đẹp muôn đời của nhân loại, đó là thứ ý nghĩa hàm chứa phẩm tính hy sinh, hướng tới mức độ hy sinh chính sự sống của mình cho ai đó. Ý nghĩa ấy là một ý nghĩa chân chính, trường tồn, xuyên suốt dòng lịch sử nhân loại, làm tươi mát cuộc sống và trổ sinh bao nhiêu hoa trái tuyệt đẹp trong dòng lịch sử. Khi việc dâng tặng đạt đến mức độ trao tặng bản thân cho nhau, tức là khi ấy tặng phẩm là chính bản thân của người trao tặng, thì bản thân mỗi người sẽ là món quà vô giá mà con người có thể trao tặng cho nhau.
Ngày Tết, một người khách sang có thể lì xì cho cô bé 500.000 đ; trong khi đó, mẹ của bé chỉ lì xì cho con có 10.000 đ. Nhưng cô bé đừng tưởng rằng có thể đi theo người khách sang trọng đó để được sống sung sướng hơn. 500.000 đ của người khách là một món tiền lớn, nhưng là một món tiền “dư” và thường là món tiền không thể hơn được nữa. Trong khi đó, 10.000 đ của mẹ lại chính là bản thân của mẹ. Mẹ trao tặng cho con lúc này là 10.000đ, lúc khác là cái bánh… trong chiều hướng tiệm tiến của một sự dâng tặng chính bản thân của mẹ cho con. 10.000 đ của mẹ, đó là một món quà biểu hiện tấm lòng và biểu hiện một sự dâng tặng chính bản thân, đó là món quà quí giá mà một người có tấm lòng không được quyền coi thường, không thể đánh giá theo qui luật thị trường.
Có lẽ ít người, khi lập gia đình, hiểu được hết sự gian khổ cũng như sự cao quí của hành trình mà mình sắp đi vào. Hai người nam nữ cưới nhau vì yêu nhau, hai người ấy tưởng rằng mình sống đời hôn nhân để được hạnh phúc trong tình yêu của chính mình. Thế nhưng hành trình hôn nhân lại dẫn người chồng người vợ ấy đi đến những chân trời siêu vời khác. Khi người ta muốn có một đứa con, người ta tưởng rằng mình sẽ được vui với con cái dù phải mất một số thu nhập của gia đình. Thế rồi, khi nuôi con, người ta lại hiểu ra rằng không phải chỉ là tiêu tốn một số tiền bạc, nhưng còn phải cực thân rất nhiều. Thế rồi khi con lớn lên, người vợ, người chồng lại khám phá ra rằng, nuôi con không phải chỉ là mất tiền, cũng không phải chỉ là mất sức, nhưng còn là hao tổn tâm trí vì con, phải lo nghĩ, phải tính toán, phải ưu tư vì con. Hành trình làm cha mẹ chưa chấm dứt. Đến một lúc nào đó trong cuộc đời, người làm cha/mẹ sẽ lại hiểu ra rằng : thôi thì đời mình làm sao cũng được, miễn là con mình được nên người. Cảm nghĩ ấy là một bước biến chuyển để người cha/mẹ hiểu ra rằng, mình cho con trọn cả cuộc đời. Hành trình làm cha/mẹ là hành trình trao tặng chính bản thân mình. Đó là hành trình “dẫn dụ” của một thứ tình yêu cứ mời gọi thêm mãi, thúc bách cho đi nhiều hơn nữa, và cho đi cho đến cùng. Quả thật mức độ của tình yêu là tình yêu không mức độ. Quả thật, chính vì tình yêu của cha/mẹ đối với con cái là thứ tình yêu có khả năng vươn lên tới tới mức độ cho đi chính bản thân mà hình ảnh người mẹ người cha trở thành hình ảnh đẹp nhất trên trần gian.
Nét đẹp muôn đời ấy hàm chứa trong thực tại hiển nhiên của đời sống gia đình. Ý nghĩa một cuộc đời làm cha/mẹ, ý nghĩa về tình nghĩa gia đình là một thực tại hiển nhiên nhất làm chứng về bản chất thật của con người, bản chất của một sự sống tinh thần. Với ý nghĩa ấy, sự sống có ý nghĩa lại có thể “chống lại” chính sự sống thuần túy, chống lại sự sống của thân xác vật chất. Đúng hơn, sự sống thật có khả năng phủ định biện chứng thứ sự sống đơn thuần của thân xác để vươn tới một sự sống tròn đầy trong một ý nghĩa chân chính. Cha mẹ hy sinh từng ngày và hy sinh mạng sống hay hy sinh trọn cuộc đời mình cho con cái, đó là một nét đẹp mà không một lương tâm ngay thẳng nào có thể chối bỏ.
Tông huấn đời sống gia đình viết :
“Sự hiệp thông đầu tiên là sự hiệp thông được thiết lập và phát triển giữa đôi bạn : nhờ khế ước của tình yêu vợ chồng, người nam và người nữ “không còn phải là hai nhưng là một xác thịt” (Mt 19,6) và được mời gọi lớn lên không ngừng trong sự hiệp thông với nhau qua việc trung thành mỗi ngày với lời cam kết hôn nhân là trao hiến trọn vẹn cho nhau”.
“Sự hiệp thông vợ chồng ăn rễ sâu từ trong sự bổ túc tự nhiên giữa người nam và người nữ, và được nuôi dưỡng nhờ ý chí của đôi bạn đích thân muốn chia sẻ với nhau toàn thể dự phóng cuộc đời của họ, chia sẻ với nhau điều họ có và điều họ là : bởi đó, một sự hiệp thông như thế là kết quả và là dấu hiệu của một đòi hỏi nhân bản sâu xa” (số 19)
3. Kinh nghiệm tha nhân căn bản
Khi sinh ra, con người đi vào đời với những kinh nghiệm đầu tiên về tha nhân qua đời sống gia đình. Những kinh nghiệm đầu tiên có thể dài ngắn tùy hoàn cảnh mỗi người, nhưng cũng tạo nên được một “ánh chớp” lóe sáng soi chiếu hành trình kiếp nhân sinh. Kinh nghiệm về tha nhân trong đời sống gia đình mang những phẩm tính căn bản trong tương quan với tha nhân : đó là một sự trân trọng phẩm giá của mỗi người. Sự trân trọng này làm nên cội nguồn của thái độ đối thoại, tương trợ, chia sẻ, phục vụ…theo quy luật “cho không” .
Chính kinh nghiệm về tha nhân trong đời sống gia đình trở nên mẫu mực của mọi tương quan tha-ngã trong đời sống con người, theo ngôn ngữ của tông huấn Gia Đình, kinh nghiệm ấy như “việc thực tập căn bản”, như “gương mẫu và là một khích lệ” cho các tương quan xã hội. Như thế, chính những ý nghĩa nhân bản trong đời sống gia đình là lý tưởng cho xã hội chứ không phải ngược lại. Người Kitô hữu không được biến gia đình thành một thứ xí nghiệp nhỏ, với quy luật trao đổi sòng phẳng; ngược lại, cần mở rộng những tương quan nhân bản của gia đình đến các tương quan xã hội mỗi ngày mỗi rộng lớn và vững chắc hơn. Cũng thế, tình yêu Kitô giáo có khả năng thanh luyện và nâng cấp tình yêu con người, và người Kitô hữu cần khám phá tình yêu của Thiên Chúa trên hành trình sống yêu thương giữa con người với nhau.
"Như vậy, phát huy sự hiệp thông đích thực giữa những ngôi vị có trách nhiệm trong gia đình trở thành một việc thực tập căn bản và không thể thay thế được cho đời sống xã hội, một gương mẫu và là một khích lệ cho các tương quan cộng đồng mở rộng, được đánh dấu bằng các đức tính : kính trọng, cộng bằng, ý thức đối thoại, tình yêu".
Ta có thể thấy một đứa trẻ, được gởi nhà trẻ quá sớm và quá nhiều giờ, sẽ biến đứa trẻ thành “thần giữ của” và khó có thể đón nhận thành công hay thất bại của “bạn” như niềm vui và nỗi buồn của chính mình. Ngược lại, trong gia đình, đứa trẻ sẽ học được những bài học mà không dễ gì một nhà trẻ có thể thực hiện được, bài học của cải là của chung gia đình; thành công và thất bại của anh/chị/em…thì cũng chính thành công hay thất bại của chính mình.
Gia đình có vai trò nhân bản hóa đời sống con người, vai trò ấy càng trở nên khẩn thiết trong xã hội hôm nay, khi mà các tương quan xã hội càng ngày càng làm cho con người mất nhân tính, xử với nhau theo những quy luật phi nhân, biến cá nhân con người trở thành vô danh, như một “con ốc vít” trong bộ máy sản xuất của xã hội.
Trong cuộc sống quá thực dụng của ngày hôm nay, nếu gia đình cũng đánh mất qui luật nghĩa tình của tâm hồn, thì thế giới con người trở thành một địa ngục, nhất là đối với những người bé mọn. Khi người ta không còn tình còn nghĩa với nhau nữa, khi người ta từ chối qui luật nghĩa tình, thì người ta không còn khả năng sống với người khác như là những con người đích thực nữa, mà chỉ như những sự vật để ta chiếm đoạt hoặc đổi chác.
4. Chân lý nơi tình yêu hy sinh
Ta có thể khẳng định rằng, đời sống gia đình, được nhìn theo ý nghĩa Kitô giáo, có khả năng giúp con người thực hiện vận mạng đời người và giúp cho con người hoàn thành khát vọng sâu xa chân thật nhất của bản chất người.
Trong đời sống gia đình, người ta có thể thấy thật nhiều phép lạ, những phép lạ xẩy ra thường xuyên nên nhiều khi người ta coi thường. Dù vậy, chăm chú một chút, ta cũng sẽ nhận ra ngay những biến đổi kỳ diệu mà ta có thể gọi được là những “phép lạ giữa đời thường”. Trong số nhiều “phép lạ” ấy, có một phép lạ lớn nhất : trở nên cha mẹ.
Chúng ta có thể nhìn thấy trong cuộc đời con người nói chung một biểu đồ “trẻ nhỏ - trưởng thành – tuổi già”, biểu đồ bao gồm hai chiều hướng “thăng tiến - sa sút”. Cuộc đời con người bắt đầu từ một hài nhi bé bỏng, yếu ớt, bất lực, phải lệ thuộc tất cả vào người khác. Thế rồi đứa bé ăn uống, học tập và tích lũy bao nhiêu năng lực khác mỗi ngày mỗi nhiều hơn, trong niềm mong mỏi thời gian qua mau từng ngày, từng năm để được thêm tuổi, thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, có khả năng thể hiện chính mình và được tự do quyết định hành vi của mình. Nhưng rồi sau đó, chẳng mấy chốc, người thanh niên đẹp đẽ ấy, con người trẻ tuổi sung sức ấy, kẻ nhiều tài năng và nhanh nhậy ấy, vượt qua tuổi sung sức của mình để đi vào quá trình xuống dốc; sức khỏe và tài năng cứ vơi đi dần theo năm tháng. Rồi anh ta lại phải từng ngày chống chọi với nhịp điệu mau lẹ của thời gian, mong ước thời gian đi chậm lại, mong ước tuổi già lâu đến . . .
Quả thật nhìn vào biểu đồ ấy ta thấy cuộc đời con người khá bi đát : mong mau lớn để hưởng những năm tháng tươi đẹp của đỉnh cao cuộc đời, nhưng rồi lại mong lâu già để được dừng lại lâu hơn ở đỉnh cao ấy. Thế nhưng cuộc đời vẫn cứ trôi và cái đỉnh cao cuộc đời ấy nhiều khi chỉ là một bức màn mỏng, thật mỏng, thật phù du; đụng vào nó rồi, người ta sẽ thấy lộ ra ngay sau đó một con đường xuống dốc. Sự bừng tỉnh sau đỉnh cao, đó là cố gắng để trẻ mãi, để đẹp mãi, để mãi mãi là ngôi sao… những cố gắng vô vọng !
Quả thật, nếu người ta sống để đi tìm đỉnh cao đời người như thế, thì cuộc sống con người quá kỳ cục. Thoáng một cái, người ta đã đi qua đỉnh cao cuộc đời và cảm thấy như mình đã bị lừa, bị dụ dỗ. Cái đỉnh cao ấy giống như một tấm bánh vẽ, một tấm màn mỏng giả tạo được tô vẽ. Đó là cái bi đát của một biểu đồ mà người ta vẽ nên được từ những gì dễ thấy nhất, từ những dáng vẻ bên ngoài của hành trình đời người; cái bi đát của chính thân phận con người dành cho những người đi tìm đỉnh cao nơi vóc dáng, nơi tài năng, nơi sức mạnh của bản thân…
Thế nhưng, liệu chừng ta có thể nhìn thấy một biểu đồ khác không ?
Là con người, ai cũng mong cho mình “được”, cái được của một lối nhìn lấy mình làm trung tâm : được có của cải, được yêu, được chấp nhận, được sung sướng, . . . Đó là qui luật chung của thái độ con người. Thế nhưng, khi một thanh niên làm cha, làm mẹ, tất cả những cái được ấy đều dần dần thay đổi. Thay vì được chiều chuộng, cha mẹ bắt đầu biết chiều chuộng đứa con bé bỏng của mình; thay vì được yêu, cha mẹ bắt đầu biết yêu, yêu vô điều kiện đối với đứa con của mình; thay vì được thêm thu nhập, thay vì được sung sướng hơn, khi làm cha làm mẹ, người ta kinh nghiệm như đời mình bị đảo lộn tất cả : sẵn sàng hao tổn thu nhập vì con, sẵn sàng chịu vất vả khổ sở vì con. . . Cuối cùng, người cha người mẹ còn nghe thấy lời thúc bách như thể dám chấp nhận “chấm dứt tương lai” của mình để mở đường cho tương lai của con cái.
Một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng cuộc đời đi tìm đỉnh cao qua dáng vẻ bên ngoài như thế chính là “cuộc đời làm hoa”. Bông hoa bao giờ cũng tươi tắn, rực rỡ, đẹp đẽ. Bông hoa là thành quả tập trung của tất cả những cái tốt nhất của đời cây để khoe sắc một lần. Thế nhưng bông hoa thì bao giờ cũng mau héo tàn. Chọn ý nghĩa cuộc đời làm hoa thì cũng hàm ý nghĩa là lựa chọn thái độ : thà rực rỡ một lần rồi tàn héo; thà huy hòang một phút còn hơn lầm lũi cả đời. . .
Tuy nhiên, thật sự đời cây không phải chỉ là kiếp hoa, và suy đến cùng, hoa chỉ là một giai đoạn cần phải trải qua để thành nên hạt. Đời cây cần có hoa nhưng cũng cần vượt qua thời kỳ nở hoa để đi đến thời kỳ đậu hạt.
Cuộc đời làm hạt thì không rực đỡ, không khoe sắc tỏa hương, không tươi tắn mềm mại, không thu hút bướm ong. Những cuộc đời làm hạt vẫn có nét “huyền nhiệm”, cao quí, có nét đẹp riêng của nó. Cái đẹp của hạt không lồ lộ ra ngoài, nhưng ẩn dấu trong dáng vẻ xấu xí. Cái cao quí của hạt không phải là khoe mẽ bên ngoài nhưng là ươm mầm bên trong. Hạt cho đi chính bản thân mình, dâng tặng trọn vẹn và tuyệt đối, vì hạt bao giờ cũng phải thối đi để nẩy sinh những bông hạt khác.
Thế thì đỉnh cao đời người là cuộc đời làm hoa hay cuộc đời làm hạt ? Thế thì nét đẹp chân chính của đời người là rực rỡ để thu hút hay quảng đại, âm thầm để cho cho đi?
Trong khi cái biểu đồ của hiện tượng bộc lộ tính bi đát và vô vọng của lịch sử đời người, thì một biểu đồ khác, căn cứ vào bản chất yêu thương của con người, căn cứ vào những nhu cầu rất thật và rất sống động của đời sống gia đình, lại cho thấy một sự “hợp lý” sâu xa bên trong : con người được đón nhận bao nhiều hồng ân để lớn lên; rồi con người lại có khả năng phát triển và sáng tạo cho gia sản ấy phong phú thêm; rồi cuối cùng con người sẽ lại mang tất cả vốn liếng và “phần lời” ấy để tiếp tục cho đi, cho đi đến tận bản thân mình. Thư mùa Chay 2003 của Đức Gioan Phaolô II nói: “Khuynh hướng trao ban đã nằm sâu trong tâm hồn con người” [số 1].
Tình yêu thương trong đời sống gia đình được thể hiện một cách khá bình thường nhưng lại rất tuyệt vời, đó là thực tế của một cuộc đời trao tặng hằng ngày và trao tặng chính bản thân mình. Trong quan điểm này, chúng ta nhận thấy cuộc đời không còn bi đát nhưng tràn đầy ý nghĩa, bởi vì khi đi dần đến cái chết, con người thể hiện được hướng hành trình như một quy luật căn bản mà Chúa Giêsu đã nêu lên trước khi đi vào cuộc tử nạn của Ngài :
“Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,23-35).
Những người làm cha làm mẹ là những người có kinh nghiệm “cưu mang” một cuộc đời, “mang vác” một phận người có lẽ dễ hiểu được điều đó. Mang vác một cuộc đời là cả một hành trình gian nan, khốn cực mà người nào nhát đảm, an thân không thể nào đi trọn được. Để cứu một phận người, người ta không thể đứng bên lề cuộc đời để khỏi vướng bùn nhơ, không thể đứng xa xa, cầm cây khều khều, gẩy gẩy… nhưng là xắn quần lên, là lội vào bùn, là ngụp lặn trong bùn để có thể tìm được những con chiên lạc.
Hành trình của tình yêu không phải nhằm đạt đến một sự an hòa cho bản thân, nhưng là ra khỏi bản thân, đó luôn luôn là một cuộc “vượt qua”. Tình yêu thương, trong khía cạnh dính dáng đến vận mạng con người không thể được giải quyết bằng thái đô “đi giầy cao gót” trong cuộc đời. Để đến với ai khác, ai khác như một vận mạng, ai khác với tất cả sự phức tạp của cuộc đời, người ta phải hy sinh cả một đời.
Chú thích:
[10] J.P. II, Tông Huấn Gia Đình, số 43.