GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến tự do của con cái Chúa - Phần 2
Kitô học, theo truyền thống, được phân chia thành hai phần: nhập thể và cứu độ. Trong lịch sử Giáo Hội, đã có nhiều cuộc tranh luận nẩy lửa về bản thân Đức Giêsu Kitô [Kitô học nhập thể], và chính vì thế mà chúng ta có được những minh định rõ ràng của Huấn quyền về vấn đề này. Trái lại, vấn đề ơn cứu độ của Đức Giêsu thì lại được hầu như mọi ý kiến thống nhất với nhau (Trường phái Pélage [thế kỷ V- VI] đã có những cach hiểu sai lạc về công nghiệp của Đức Giêsu, nhưng vẫn không phủ nhận việc cứu chuộc của Ngài. Giáo Hội có một vài minh định tại công đồng Orange cũng như hai công đồng Constantinopoli II và III. Đến công đồng Trento ta mới có một khẳng định khá rỏ ràng về ơn cứu độ. “Nếu ai chủ trương rằng Thiên chúa đã ban Đức Kitô cho loài người, chỉ như là Đấng Cứu Độ cần phải tin tưởng, chứ chẳng phải cả như là Đấng lập luật cần phải vâng theo, thì sẽ bị tuyệt thông” [Ds 1571]. Tuy nhiên khẳng định này cũng chỉ để chống lại lập trường”cứu độ chỉ nhờ đức Tin” của Tin lành mà thôi. Xc. Felippe Gomez S.j, Kitô Học Phần II, Lớp Liên Dòng Mến Thánh Giá, T/p HCM 2001.). Do vậy, nói chung, Huấn quyền cũng chưa bàn sâu rộng về vấn đề ấy.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài 2.2 ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐẤNG CỨU ĐỘ CHÚNG TA
Kitô học, theo truyền thống, được phân chia thành hai phần: nhập thể và cứu độ. Trong lịch sử Giáo Hội, đã có nhiều cuộc tranh luận nẩy lửa về bản thân Đức Giêsu Kitô [Kitô học nhập thể], và chính vì thế mà chúng ta có được những minh định rõ ràng của Huấn quyền về vấn đề này. Trái lại, vấn đề ơn cứu độ của Đức Giêsu thì lại được hầu như mọi ý kiến thống nhất với nhau (Trường phái Pélage [thế kỷ V- VI] đã có những cach hiểu sai lạc về công nghiệp của Đức Giêsu, nhưng vẫn không phủ nhận việc cứu chuộc của Ngài. Giáo Hội có một vài minh định tại công đồng Orange cũng như hai công đồng Constantinopoli II và III. Đến công đồng Trento ta mới có một khẳng định khá rỏ ràng về ơn cứu độ. “Nếu ai chủ trương rằng Thiên chúa đã ban Đức Kitô cho loài người, chỉ như là Đấng Cứu Độ cần phải tin tưởng, chứ chẳng phải cả như là Đấng lập luật cần phải vâng theo, thì sẽ bị tuyệt thông” [Ds 1571]. Tuy nhiên khẳng định này cũng chỉ để chống lại lập trường”cứu độ chỉ nhờ đức Tin” của Tin lành mà thôi. Xc. Felippe Gomez S.j, Kitô Học Phần II, Lớp Liên Dòng Mến Thánh Giá, T/p HCM 2001.). Do vậy, nói chung, Huấn quyền cũng chưa bàn sâu rộng về vấn đề ấy.
Tuy nhiên, hiện nay, lối trình bày ơn cứu độ theo kiểu truyền thống, theo đó, Đức Kitô lập công nghiệp vô cùng để đền bù tội lỗi của nhân loại, lối trình bày ấy bị đặt lại vấn đề, chẳng phải vì nó không giải quyết thỏa đáng các vấn đề thần học, nhưng còn vì cách thức trình bày ấy đã để lại những hệ quả không tốt cho đời sống Đức Tin Kitô giáo (Một vài tài liệu trong tầm tay của độc giả bàn về vấn đề này: Kim Thao, Thời sự Thần học 1, Thần Học Cứu Độ, trang 37-42; Noberto, Kitô học II; Kitô học 16 đề tài, 1997, tài liệu hướng về Năm Thánh; Felippe Gomez S.J; Kitô học [phần II], Lớp liên dòng Mến Thánh Giá, t/p Hồ Chí Minh 2001).
Tất cả ý nghĩa của người Kitô hữu là được cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Tuy nhiên, chính cách hiểu về ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Tuy nhiên, chính cách hiểu về ơn cứu độ của Đức Kitô lại ảnh hưởng rất lớn đến cung cách sống đạo của người Kitô hữu.
Ở Tây phương, trong thiên niên kỷ thứ nhất, các giáo phụ thường quan niệm cứu độ theo chiều hướng “hạ giáng” của Đức Kitô. Đức Kitô nhập thể, liên đới với con người để chuộc con người khỏi thế lực ma quỉ và thần hóa con người.. Trong thiên niên kỷ thứ hai, thần học cứu độ đổi sang hướng”thượng thăng”, theo đó, Đức Kitô phải trả món nợ cho Thiên Chúa Cha. Nến thần học này, khởi đầu từ thiên niên kỷ thứ hai với thánh Anselme de Cantorbéry [+1109], làm nên khuôn mẫu thần học cứu độ của Kinh viện và cả giáo hội Công Giáo cũng như Tin Lành đều chia sẻ lối nhìn này( Xc. F. Gomez, Sđd trang 154).
Khuynh hướng”hạ giáng” trình bày Đức Kitô chiến đấu chống lại ma quỉ, và đi quá xa khi nói Ngài phải trả nợ cho ma quỉ. Tuy thế, một cách chung, chiều hướng “hạ giáng” vẫn còn trung thành với đường hướng căn bản, vì chính Chúa Cha đã sáng kiến trao ban con của Ngài cho nhân loại và Đức Giêsu tự nguyện hiến dâng mạng sống mình trong sống kiếp phàm nhân để cứu độ nhân loại. Trái lại, khuynh hướng “thượng thăng”, khi cố gắng loại trừ thế lực của ma quỉ như một chủ nợ, lại giảng lược tất cả thực tại cứu độ vào khía cạnh pháp lý. Cứu độ chỉ còn là “chuộc tội”, ”đền bù thay” đối với sự công thẳng vô cùng của Thiên Chúa Cha. Khi chính Thiên Chúa lại là ông chủ nợ thì mọi tất cả ý nghĩa hy sinh bản thân của Đức Kitô, tình yêu thương của Thiên Chúa… đều bị lu mờ; khía cạnh pháp lýtrở thành phạm trù duy nhất; ơn cứu độ chỉ còn là một phương trình toán học tự cân bằng, Thiên Chúa đòi nợ và Thiên Chúa trả nợ.
Thần học cứu chuộc theo kiểu đền bù pháp lý được trình bày như sau:
Tội lỗi của chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa, và đó là một tội lớn lao vô cùng, vì xúc phạm đến Đấng cao cả vô cùng. Do đó, con người, vốn hữu hạn không thể có khả năng đền bù tội lỗi vô cùng xúc phạm đến Thiên Chúa. Chỉ có Đức Giêsu, trong ngôi vị Thiên Chúa, mới có thể lập công vô cùng để đền bù tội lỗi lớn lao vô cùng của con người đối với Thiên Chúa.
Quan niệm pháp lý như thế vừa khó được chấp nhận với não trạng thời đại, vừa gặp phải nhiều vấn nạn, cả về phương diện Kinh Thánh, thần học cũng như những hệ quả mục vụ ( Xc. Kim Thao, Thời sự Thần học1, Thần Học cứu độ).
1. Những yếu tố chính trong quan niệm cổ truyền
1.1 Từ cách diễn tả của Kinh Thánh
Trong Kinh Thánh, nhất là trong Cựu ước, người ta đọc được rất nhiều mô tả công trình cứu độ của Thiên Chúa bằng những từ ngữ như “cứu vớt”,”mua lại”,”mua chuộc lại”, ”đền tội “ cho con người.
Các ngôn sứ cũng dùng kiểu nói ấy để diễn tả cuộc giải phóng dân khỏi lưu đầy. Tước hiệu”Đấng cứu chuộc” sẽ trở thành tước hiệu thông dụng nhất của Gia vê, trong Edêkien,, trong Thánh Vịnh, đặc biệt trong sách Isaia Đệ Nhị [x. Is 4,14;43,1. 11;44,6;46,4;48,17].
Cũng vậy, khi diễn tả Đức Giêsu Kitô là Đấng hoàn tất những gì được tiên báo trong Cựu Ước, các tác giả Tân Ứớc cũng trình bày Ngài như “Đấng cứu Chuộc” [x. Rm 3,24; Cl 1,14;Ep 1,7; Lc 1,68; 2,30-38……].
“Vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em”[ l Cr 6,20; 7,23] ( Câu 1 Cr 6, 20 và 7, 23 Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch như sau:”Anh em đã được mua chuộc rồi, giá cả hẳn hoi!”).
Các công thức tuyên tín cổ xưa nhất của Kitô giáo cũng có kiểu trình bày theo chiều hướng Ấy:
“Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta”[ l Cr 15,3].
“Đây là máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra vì muôn người” [Mc 14,24]
Mặt khác, Tân Ước còn mô tả cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc chiến đấu và chiến thắng ma quỉ; trong cuộc chiến này, Đức Giêsu đã chiến thắng bằng một giá đắt đỏ, là chính sư Chết-Phục Sinh của Ngài.
1 .2 Đến nền thần học Cứu Chuộc
Những kiểu nói trong Kinh Thánh như thế dễ dàng được triển khai theo khía cạnh thần học, và người ta trình bày thần học cứu độ như một bài toán để đáp ứng đòi hỏi công bằng; Đức Giêsu phải chịu chết để trả giá cho tội lụy, những món nợ do con người gây nên.
Ban đầu các nhà thần học còn trình bày việc trả nợ cho ma quỉ, chẳng hạn Origéne
[185- 253], Grégoire de Nysse[ 335-394],Gioan Kim Khẩu [347-407],Augustino[ 354-430]. Origène nói:”Chính ma quỉ đã cầm giữ chúng ta. Vì tội lỗi, chúng ta đã bị bán cho nó. Nó đã đòi máu của Đức Kitô để làm giá chuộc”. Thánh Grégoire de Nysse chấp nhận rằng ma quỉ có quyền sở hữu trên kẻ chết và đòi một giá cả rất mắc mỏ là chính Đức Kitô, nhưng chúng bị Đức Kitô bắt giữ và con người được giải phóng. Thánh Gioan Kim Khẩu, Thánh Augstin cho rằng ma quỉ lạm quyền khi giết Đức Giêsu, nên bị mất hết quyền…
Tuy thế, thánh Grégoire de Nazianze [328-390] cho rằng ma quỉ chẳng có quyền gì trên con người cả. Rồi từ thế kỷ XI. Người ta”tìm ra” một Đấng đón nhận giá chuộc của Giêsu, đó là chính Chúa Cha, Đấng yêu thương nhưng cũng rất mực công bằng. Thánh Anselme, vào lúc khai sinh triết học Kinh Viện, đã áp dụng ý niệm pháp lý vào việc phân tích bản văn Kinh Thánh, Để trình bày một cách rõ ràng và hệ thống quan niiệm cứu chuộc theo phép công bằng của Thiên Chúa.
Vẫn theo đường hướng chung, Thánh Thomas nói :”Vì ma quỉ đã chiến thắng trên con người khi dẫn dụ con người phạm tội, thì con người là nô lệ của ma quỉ. Nhưng con người còn là một tù nhân phải chịu án phạt,do sự công thẳng của thiên Chúa. Bởi thế cuộc khổ nạn của Đức Kitô, vì đã đền bù cách đầy đủ và dư dật tội lỗi và án phạt đè nặng trên loài người, nên đã trở thành như giá chuộc, nhờ đó mà chúng ta được giải phóng khỏi hai ách nô lệ… Đức Kitô đã đền bù không phải bằng cách trả tiền bạc hay một thứ gì tương tự nhưng người đã trao thay cho ta điều quí nhất, đó là chính bản thân mình. Bởi thế người ta nói: Cuộc khổ nạn của Đức Kitô cứu chuộc chúng ta”[ IIIa,Q. 48,a.4].
Lối trình bày như thế trở thành truyền thống trong Kitô giáo Tây Phương, được dùng trong mọi sách giáo lý và in sâu vào tâm thức của người Kitô hữu. Quan niệmcứu chuộc ấy cũng được phụng vụ nhắc lại trong bài Exultet:” Đức Kitô đã thay chúng ta trả nợ Adam cho Chúa Cha vĩnh cửu”.
1.3 Những hệ quả mục vụ
Tuynhiên, lối trình bày ơn cứu độ như thế không thích hợp với tâm thức con người ngày nay. Chính trên bình diện đời sống Kitô hữu chúng ta có thể nhận thấy trước tiên những trục trặc của lối giải thích ấy.
Trước nhất, với lối giải thích ơn cứu độ như thế, người Kitô hữu luôn bị đè bẹp bởi một cán cân công lý mà phần lỗi luôn luôn nằm ở phía con người. Thiên Chúa xuất hiện, qua phép tính ấy, trước tiên, là một ông chủ nợ hơn là vị ân nhân giúp ta trả nợ cuộc đời. Do vậy , người Kitô hữu luôn âu lo trước Thiên Chúa; thấy sợ hãi trước sự đe dọa của Thiên Chúa lớn hơn ơn giải thoát của Ngài; họ dễ sợ hãi hơn là yêu mến, lo âu nhiều hơn là vui mừng.
Áp lực sợ hãi lại thường đưa đến thái độ sống đạo theo tinh thần” buôn bán”, “tính toán” cái gì có tội và cái gì không có tội, cái gì được công phúc nhiều và cái gì ít công phúc. Hầu hết người Kitô hữu sống đời sống đức Tin theo kiểu cố gắng tuân giữ lề luật để tránh hình phạt; cố gắng thực hành những điều Chúa dạy vì sợ Chúa như một quan án, hoặ trầm trọng hơn, như một hung thần.Vì thế, người Kitô hữu dễ dàng sợ và tránh những gì đã xác định là tội, nhưng lại dễ dàng phạm vào những lỗi không thấy có trong Mười Điều Răn của Chúa và Sáu Điều Luật của Hội Thánh, những lỗi lầm không phải là nhẹ, chẳng hạn khinh dễ nguời khác, đối xử tệ bạc với những người bé mọn. Hệ quả của cách trình bày ấy là, trong đời sống đạo, người ta không trông cậy vào chính Chúa, không dựa vào tình thương của Chúa, nhưng là cậy dựa vào những phương thế, dựa vào sức lực riêng, cố công để tìm nhiều công phúc…
Vẫn theo quan niệm ấy, hồng ân lớn lao của Chúa giúp ta trả những món nợ khổng lồ nhưng là những món nợ mà ta chỉ thấy trong” đức tin”, một thứ món nợ đã được biến hóa trong một phép tín hiệu ngậm những tiền đề không thể bàn cải… Một cách nào đó, cả món nợ và ân phúc đều là những điều mà người ta không cảm thấy một chút tác động nào trong cuộc sống, bởi vì chúng ta là những thực tại thuần túy pháp lý, chỉ được tính toán trong một thứ “sổ sách” nào đó của Thiên Chúa Nguyên lý tính toán tội lỗi theo nền thần học này là nguyên lý danh dự; một Thiên Chúa ghi nhận những tội lỗi của con người vì chúng đụng chạm đến uy tín, đến danh dự của Thiên Chúa.
Ngoài ra, trong cuộc sống phức tạp, của đời người, có biết bao người không có điều kiện để thắng được tổi lỗi; không có hoàn cảnh để giữ được những đòi buộc của đạo. Đối với họ, bao nhiêu những lời kêu gọi, khuyên bảo giáo huấn… trở nên những món ăn không tiêu hóa được. Những người” bé mọn” như thế, khi bước vào đời sống Đức Tin, lại càng trở nên âu lo và bối rối hơn.
Tóm lại, lối trình bày ơn cứu chuộc theo kiểu pháp lý như thế tạo nên một “tầng thực tại pháp lý” nằm giữa Thiên Chúa và Con người. Tầng thực tại pháp lý (tầng thực tại pháp lý này khá giống với tầng”siêu hình học tự nhiên”của người Hy Lạp. Người Hy Lạp quan niệm ý muốn thần thánh tỏ hiện trong những qui luật của trời đất và qui luật thành bang; nỗ lực chính của con người là học hỏi và tuân theo những qui luật ấy. Như thế, trong tinh thần Hy Lạp, việc giao tiếp với thần linh như một ngôi vị không cần thiết. Hệ quả của lối trình bày ”tầng lớp thực tại pháp lý trung gian”trong quan niệm cứu chuộc cũng đưa đến hệ quả khá giống như thế) ấy làm cho đời sống đức Tin trở nên một bài toán hơn là sự liên đới đích thực; người tín hữu đối diện, trước tiên, không phải là chính Chúa mà là một cuộc thi tuyển; và như thế, ơn cứu độ thường trở nên gánh nặng hơn là lời công bố Tin Mừng.
Do đó, một đời sống đạo dựa trên tinh thần luật pháp dễ dàng bóp nghẹt mối tương quan của Đức Mến và Đức Cậy; may ra chỉ còn”Tin”, nhưng là một đức tin không phải là tin-cậy, cũng chẳng phải là tin-yêu. Quả thật, với một lối trình bày ơn cứu độ như thế, người tín hữu khó lòng yêu mến Chúa một cách thanh thản.
2. Nhìn lại nền thần học cứu chuộc
2.1 Những khó khăn thần học
Quan niệm nặng tính chất pháp lý còn đặt ra nhiều vấn đề khó khăn về phương diện thần học:
Thần học Kinh Viện, đặt biệt là Thánh Thomas, đã dùng bốn khái niệm của căn bản để diễn tả ơn cứu độ: công trạng, đền tội, hi tế,giá chuộc. Cả bốn khái niệm ấy đều mang tính chất luật pháp của văn hóa thời đầu Kinh Viện.
Sống trong xã hội có chế độ nô lệ, người ta dễ hiểu việc giải phóng một người nô lệ đòi phải trả một “giá chuộc”,”hy tế” cũng là một điều quen thuộc trong mọi tôn giáo, nhằm idễn tả sự đền bù trọn vẹn; ý niệm “công trạng” và ý niệm “đền bù xúc phạm”, thì phát sinh từ nền văn hóa nặng về pháp lý và coi trọng danh dự. Các thuật ngữ này được dùng để diễn tả thực tại cứu độ dựa trên lối nhìn”nhân hóa Thiên Chúa”; Thiên Chúa cũng đòi hỏi đền bù xúc phạm, lập công phúc… như thái độ xử thế của con người.
Quan niệm cứu chuộc giản lược cuộc đời Đức Giêsu vào cái chết trên thập giá để chuộc tội, những gì Đức Giêsu giảng dạy cũng như tấm lòng”chạnh lòng thương” của Ngài chẳng có giá trị bao nhiêu. Cũng thế, trong nền thần học cứu chuộc, cuộc Phục Sinh của Chúa cũng chỉ là phương cách để Chúa khẳng định quyền năng của Chúa chứ không giúp ích bao nhiêu cho người Kitô hữu.
Mặt khác, quan niệm cứu chuộc không liên can mấy đến công cuộc thăng tiến cuộc sống nhân loại. Quan niệm đó coi tội lỗi chỉ là sự xúc phạm đến Chúa theo nguyên lý danh dự, hoặc một cách ”siêu hình”, chứ không thấy hệ quả của tội lỗi còn là sự “vong thân” của con người; khi đã không đón nhận tình yêu Thiên Chúa, con người phải sống trong sự cô đơn căn bản của đời sống con người. Vì không lưu ý đến những hệ quả của tội trong chính thân phận “hiện sinh” của con người, nên quan niệm cứu chuộc cũng không khuyến khích những nỗ lực thăng tiến nhân bản và cải đổi xã hội.
2.2.Nhìn lại cội nguồn Kinh Thánh
Thần học cứu chuộc khó có thể dung hợp được với tinh thần chung của Kinh Thánh, nhất là bầu khí Tân Ước.Trong Tân Ước, Đức Giêsu tỏ bày Thiên Chúa như người Cha, sẵn sàng tha thứ như đứa con hoang đàng; Ngài chạnh lòng thương trước những người đói khát và đau khổ, Ngài đau lòng trước đồng bạc bị đánh rơi, Ngài là mục tử nhân lành sẵn sàng bỏ chín mươi chín con chiên để lên đường đi tìm con chiên lạc. Ngài tuyên bố người bệnh mới cần tới thấy thuốc. Ngài còn khẳng định nhiều người tội lỗi, đĩ điếm, trộm cướp, thu thuế được mời gọi vào Nước Thiên Chúa… Thật ra, chúng ta có thể tìm thấy những cách hiểu khác về những ẩn dụ pháp lý trong Sách Thánh:
* Khái niệm cứu chuộc
Trong Kinh Thánh, người ta thấy những từ ngữ ”cứu vớt”,”mua lại”,”chuộc lại”,
“đền tội”…, nhưng đó là những kiều diễn tả thuộc văn hóa thời đại. Chẳng hạn truyền thống Do Thái, trong thời kỳ bị bắt đạo dữ dội ở thế kỷ II tcn, vốn tin rằng những người công chính chết vì đạo mang lại những ảnh hưởng tốt đẹp trên toàn dân, họ là những người chết thay cho dân.Trình thuật anh em Maccabê cho thấy rõ quan điểm này [Xc. 2 Mcb 7,37 tt….]. Cũng thế, kiểu diễn tả”cứu chuộc” là lối trình bày quen thuộc với độc giả Tân ước, hợp với văn hóa Hy Lạp và La Mã thời ấy, theo đó “chết vì tổ quốc”hay “vì người bạn” là những điều được mọi người ca tụng. Mặt khác, trong quan niệm Do Thái, tội lỗi và hình phạt luôn gắn liền với nhau. Đức Giêsu là người vô tội, nhưng Ngài đã phải chịu những khổ đau vì tội lỗi của nhân loại tội lỗi; Ngài là Adam mới đã đảm nhận thay cho Adam cũ, và”trở thành hiện thân của tội lỗi chúng ta” [2 Cr 5,21]; trở thành”đồ bị nguyền rủa” [Gl 3,13]. Nói chung, trong nền văn hóa nô lệ, khái niệm chuộc tội là khái niệm phổ biến. Tuy thế, từ ngữ”cứu chuộc” trong Kinh Thánh không có nghĩa là chuộc lại theo kiểu đến bù của phép công bằng như người ta hiểu; những từ ngữ ”hy sinh”,”lễ tế”,”đền thay” cũng vậy, chúng không được hiểu theo nghĩa pháp đình.
Thật ra, đối với dân Ít-ra-en,”cứu chuộc” là dành lại con người cho Thiên Chúa.Kiểu nói Thiên Chúa cứu chuộc dân trong Cựu Ước luôn bao hàm hai khía cạnh: Chúa giải phóng Dân khỏi nô lệ Ai Cập và Dân trở thành sở hữu của Gia -Vê.
“Ta là Gia- vê, Ta sẽ giựt các ngươi khỏi ách làm tôi mọi chúng. Ta sẽ giương cánh tay và dùng án phạt lớn lao mà chuộc lấy các ngươi. Ta sẽ lấy các ngươi làm một dân thờ Ta, và Ta sẽ là Chúa các ngươi” [Xh 6, 6-7].
Cũng thế, trong Tân Ước, chúng ta có thể nhận thấy lối trình bày Đức Kitô chịu chết để cứu chuộc là một cách diễn tả nhấn mạnh việc dành lấy con người về cho Thiên Chúa.
“Đức Giêsu Kitô đã thí mạng vì ta, để chuộc ta khỏi mọi tội ác và tẩy rửa cho mình một dân làm sở hữu nhiệt thánh với việc làm phúc đức” [Tt 2,14].
Các giáo phụ vẫn còn tiếp tục đường lối trình bày ấy, khi nói đến Đức Kitô như là mẫu mực của con người hoàn thiện, như người chiến thắng ma quỷ, và như là như Đấng thông ban sự sống Thiên Chúa cho con người.
* Khái niệm”Hy Lễ”
Cái chết của Đức Giêsu cũng quen được trình bày như một “hy lễ” (Sacrificium: lễ hy sinh) thường được hiểu như một sự đền bù, có giá trị ở chỗ sát tế lễ vật; biểu lộ tâm tình thống hối trước mặt Chúa vì con người đã xúc phạm đến Ngài. Nếu cách trình bày ấy được hiểu như một thực tại hoàn toàn đúng thực, ta sẽ phải chấp nhận một hình ảnh Thiên Chúa quá nghiêm thẳng.
Tuy nhiên, ý nghĩa hy tế có thể được hiểu như một cách diễn tả tình yêu thương trọn vẹn, sự tôn kính hết lòng. Để tỏ lòng yêu ai, người ta thường biếu quà cáp, và món quà quí trọng nhất là chính bản thân mình dành cho người yêu. Sự sát tế lễ vật nhằm biểu lộ ý muốn dâng hiến trọn vẹn bản thân, vô điều kiện, không bao giờ lấy lại nữa. Đó là”hy lễ của tấm lòng”. Ý nghĩa này thích hợp đặc biệt với tinh thần của Tân Ước, hy lễ đẹp lòng Chúa không hệ tại việc sát tế chiên bò, lễ vật: Chúa không ưa những quà cáp bên ngoài, nhưng là ước mong con người dâng chính bản thân qua việc chấp nhận vâng nghe Lời Ngài.
“Nếu các ông hiểu được ý nghĩa câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội” [Mt 12,7].
“Trước hết, Đức Kitô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này Con đây, Con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ vật cũ mà thiết lập lễ tế mới” [Dt 10,8-9].
Tóm lại, Kinh Thánh mô tả tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại không phải dưới viễn ảnh luật pháp, như mối tương quan tương quan giữa vua Chúa với thần dân. Những khái niệm pháp lý chỉ là một cách trình bày thực tại cứu độ theo lối ẩn dụ. Hơn nữa, trong Kinh Thánh, người ta còn thấy nhiều khái niệm phong phú khác không theo nghĩa pháp lý:”giải phóng”,”giải thoát”, “làm nên công chính”,”trao ban”,”hiến dâng”,”thanh luyện”,”tha thứ”,”giao hòa”,”hòa bình”,”bình an”,”ban sự sống”,”sự sống đời đời”,”ban cho làm nghĩa tử”,”thông dự vào bản tính Thiên Chúa” …; những khái niệm như thế, đối với chúng ta ngày nay,diễn tả nhiều chiều kích phong phú hơn quan niệm chuộc tội nhiều.
* * *
Nói chung, thần học xuất hiện không phải như một thực tại nguyên tuyền được ban xuống từ trời, nhưng là con đẻ của mối giao duyên giữa”thực tại cứu độ” và văn hóa địa phương hoặc văn hóa thời đại. Những giải thích khác nhau về mầu nhiệm cứu độ luôn luôn là cách thức trình bày theo một nền văn hóa. Điều đó là cần thiết, vì ơn cứu độ không phải là một khuôn mẫu được đúc sẵn từ trên trời, nhưng là lời công bố Tin Mừng cho con người mọi thời và mọi nơi; nghĩa là cho mỗi người và mỗi thời đại riêng biệt.
Do đó, chúng ta cũng cần hiểu rằng những cách thức giải thích không thể nào diễn tả trọn vẹn thực tại cứu độ vốn là một mầu nhiệm vượt quá khả năng thấu đạt của con người; và Giáo Hội cần tìm những giải thích khác thích hợp với con người thời đại ngày nay hơn ( Hiến chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng cho chúng ta những chỉ dẫn sau: Mặc dù Giáo Hội đã đóng góp nhiều vào sự phát triển văn hóa, tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy, vì những lý do nhất thời mà sự phối hợp giữa văn hóa và Kitô giáo không phải lúc nào cũng diễn tiến mà không gặp trở ngại.
“Những trở ngại này không nhất thiết làm tổn thương đời sống Đức Tin, trái lại còn có thể thúc đẩy lý trí tìm hiểu đức Tin một cách chính xác và sâu rộng hơn. Thực tế, những cuộc nghiên cứu và những phát sinh gần đây của khoa học cũng như của sử học và triết học khơi lên những vấn đề mới liên hệ đến chính cuộc sống. Chúng còn đòi hỏi các nhà thần học những nghiên cứu mới nữa. Do đó, khi trung thành với những phương pháp và đòi hỏi riêng biệt của khoa học thần học, các nhà thần học được mời gọi luôn tìm kiếm một phương thức thích ứng hơn để truyền thông giáo lý cho người đương thời: vì một đàng là kho tàng đức tin các chân lý, một đàng là phương thức diễn đạt kho tàng đó, miễn sao giữ vững đúng ý nghĩa và nội dung [Xc. Gioan XXIII, Diễn Văn khai mạc Công Đông, 11-10-1962: AAS [1962], trg 792]. Trong phạm vi mục vụ, phải thấu triệt và áp dụng không những các nguyên tắc thần học, nhưng cả những phát minh của các khoa học ”đời”, nhất là khoa tâm lý và xã hội học. Như thế, các tín hữu cũng sẽ nuôi dưỡng được một đời sống đức Tin tinh ròng và trưởng thành hơn”[ MV 62a,b])
3.Vài nét về Thần học cứu độ
Như thế, ngoài những khái niệm pháp lý quen thuộc, chúng ta còn có thể khám phá ra những khía cạnh khác trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa, đặc biệt là thực tại cứu độ nơi Đức Giêsu. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người còn có thể được biểu lộ qua tiếng”giao ước”, và ngôn ngữ của giao ước ấy, trong Tân Ước, là ngôn ngữ của tình yêu chứ không phải phép công bằng. Chúng ta có thể nhận ra nhiều khía cạnh, có lẽ, thích hợp hơn, nhất là những khía cạnh giúp chúng ta gặp gỡ chính Chúa trong nhiệm cục cứu độ của Đức Giêsu Kitô.
3.1 Sự duy nhất trong sứ mệnh của Đức Giêsu
Thay vì chia cắt cuộc đời công khai của Đức Giêsu Đức Giêsu với cái chết của Ngài, hoặc chia cắt sự chết với ucộc Phục Sinh như quan niệm của thần học cứu chuộc, chúng ta cần nhìn thấy sự thống nhất trong toàn thể cuộc đời Chúa Giêsu Kitô. Đức Giêsu làm người để trở thành Đấng Emmanuel; Ngài đã chọn con đường bày tỏ mầu nhiệm”Thiên Chúa ở cùng” theo đường hướng Chúa Cha: sống trọn vui buồn của phận người và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa; rồi Đức Giêsu đã hoàn tất cuộc đời, hoàn tất sứ mạng duy nhất ấy trong cả cuộc đời, bằng sự chết và Phục Sinh.
Trong suốt cuộc đời ấy, ta có thể nói rằng chính quãng thời gian sứ vụ công khai làm nên trục ý nghĩa chính của cuộc đời Đức Giêsu. Đức Giêsu nhập thể làm người, đó không chỉ là một “mầu nhiệm triết học”, theo kiểu giải thích bản tính Thiên Chúa hợp nhất với bản tính nhân loại trong một ngôi vị. Thiên Chúa làm người còn là để sống kiếp người và để loan báo tin Mừng Nước Thiên Chúa cho con người, nhất là những người bé mọn. Cũng thế, Đức Giêsu không rơi từ trên trời xuống để chết cho con người; cía chết của Ngài không phải là một sự kiện đơn lẻ, tách biệt và quy chiếu vào một ý nghĩa pháp lý mà thôi. Đức Giêsu chẳng rao giảng Tin Mừng, thương xút người nghèo, cứu chữa bệnh nhân như là những chuyện dửng dưng, không quan trọng gì. Ngược lại chính vì để cho những hạt men Nước Trời mà Ngài đã rao giảng được phát triển mà Ngài đã đi đến cái chết, chết như một sự trung tín trọn vẹn của Thiên Chúa để thực hiện Nước Trời cho con người. Cái chết của Ngài bày tỏ một tình thương dám liên đới với phận người và liên đới đến cùng.
Chính vì muốn sống với con người và loan báo Tin Mừng cho con người mà Ngài chấp nhận cái chết và chiến thắng sự chết bằng cuộc Phục Sinh, nhằm để tiếp tục”sứ vụ công khai”trong suốt lịch sử của nhân loại. Như thế, một cách nào đó, ta có thể nói rằng không phải là “cái chết” của Đức Giêsu là yếu tố duy nhất trong nhiệm cục cứu độ, nhưng chính cuộc sống trọn vẹn đến chết của Ngài.
Chính thái độ ”tách rời” của nền thần học cứu chuộc đã làm cho đời sống đạo trở thành thuần thiêng và không dính dáng bao nhiêu đến những nỗ lực xây dựng trần thế, tức nỗ lực xây dựng một nền văn minh tình thương, chống lại nền văn minh sự chết.Quả thật Đức Gioan Phaolô II đã rất có lý khi thêm vào các mầu nhiệm kinh Mân Côi những biến cố trong sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Lối nhìn ấy có thể giúp cho người tín hữu nhận ra mối liên kết của đời sống thường ngày theo Tin Mừng với những giá trị thiêng liêng trong đời sống Giáo hội.
Đức Giêsu đã liên đới với người nghèo và làm bùng lên niềm hy vọng cứu 9dộ nơi những con người bị bỏ rơi ấy. Điều đó khiến cho các Đấng bậc trong đạo Do Thái cảm thấy vị thế ưu tiên, vị thế độc tôn trong con đường giải thoát của họ bị lung lay và có nguy cơ bị vuột mất.
“Người Pharisêu liền nói với chúng: Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pharisêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu? Còn bọn dân đen này, thứ người không biết lề luật, đúng là quân bị nguyền rủa!” [Ga 7,47-49].
Chính vì lý do ghen tỵ mà giới lãnh đạo muốn tiêu diệt Đức Giêsu. Nhưng Đức Giêsu không từ bỏ sự liên đới và sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho những người “dân đen”; Ngài chấp nhận chết vì sứ mạng ấy và Phục sinh cũng là để tiếp tục thực hiện” sứ vụ công khai” ấy cùng với các môn đệ.
3.2 Người nghèo thời Đức Giêsu
Thời Chúa Giêsu, ta thấy có những luồng tư tưởng chi phối quan niệm sống trong xã hội Do Thái như sau:
Bệnh tật, nghèo nàn, tai họa… là những dấu hiệu rõ ràng của tội lỗi. Ngược lại, những người đạo đức là những người được Thiên Chúa thưởng công ở đời này; và những người tội lỗi bị Thiên Chúa phạt ngay ở đời này. Chính những người Saducêo, những người tương đối có một đời sống khá giả, thành đạt, không cần tới cuộc sống mai sau, đã cố bảo vệ cho lập trường này.
Mặt khác, những người biệt phái đã hình thành một lý tưởng sống đạo hết sức khó khăn mà chỉ có những người có điều kiện sống tương đối dễ dàng mới có thể sống được. Cách thức sống đạo như thế lại làm gia tăng thêm sự thất vọng về ơn cứu độ của những người nghèo.
Đó chưa kể tới bầu khí chung quanh nước Do Thái: khi đó, trong đế quốc Rôma, luồng tư tưởng của Hy Lạp vốn đề cao tri thức và chỉ có những người có khả năng hiểu biết, những triết gia mới có thể thông hiểu được cách thức để tìm giải thoát.
Tất cả những điều ấy tạo nên một đám đông quần chúng bị loại bỏ, bị gạt ra ngoài lề xã hội tôn giáo. Họ vất vả vì cuộc sông trần thế, đồng thời lại thất vọng về ơn cứu độ của Thiên Chúa. Họ cảm thấy bị trói buộc trong một hoàn cảnh bi đát mà không thể nào thoát ra được.
Khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã sống một đời sống liên đới với những người nghèo. Có thể nói cách sống “lê la” với những người tội lỗi, đụng hcạm đến những khổ đau của con người đã”giúp”Chúa Giêsu hiểu ra con đường cứu độ mà Thiên Chúa Cha muốn:
“ Thần khí Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã sức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người sai tôi đi công bố
Cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
Cho người mù biết mình được sáng mắt,
Trả lại tự do cho người bị áp bức,
Công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa”[ Lc 4,18-19]
Đối với những người biệt phái, chúng ta thấy rằng cứ mỗi lần có sự “xung khắc” giữa uy quyền của Thiên Chúa với sự sống của con người, thì Chúa Giêsu lại bênh vực con người, từ chuyện ăn bánh trưng hiến, cho đến việc vi phạm ngày Sabát, việc tôn kính cha mẹ…và đối với những người Saduceô, Chúa Giêsu cho thấy căn bản của ơn cứu độ không phải là công đức của con người, nhưng chính là tình yêu thương và hồng ân tặng- không của Thiên Chúa ( Xc. Mt 18, 23-35: dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót; Lc 7, 36-50: người phụ nữ tội lỗi được tha thứ và đã yêu mến Chúa nhiều; Mt 18, 9-14: Dụ ngôn hai người lên đến thờ cầu nguyện).
Con đường của Chúa Giêsu không phải là con đường khăng khăng bảo vệ vinh quang của Thiên Chúa với bất cứ giá nào, không phải con đường tính toán công phúc, và chắc chắn không phải là con đường dành riêng cho những người ưu tuyển. Con đường của Ngài bộc lộ “Thần khí của Cha”, mong muốn bao bọc tất cả mọi đứa con của mình, Đặc biệt là những đứa con yếu đuối và bất lực nhất; chứ không phải thứ thần khí la đà, hàng ngang của những thái độ muốn đề cao phe nhóm của mình. Hình như tất cả mọi tôn giáo và học thuyết đều không thể thoát ra khỏi thứ” thần khí hàng ngang”,”thần khí ganh đua”,”thần khí tự hào phe nhóm “này. Lý do dễ hiểu, không có ai có thể đứng ở vị trí của một vị Cha chung của cả nhân loại để có được một tấm lòng bao dung tất cả; đồng thời có được một tầm nhìn để có thể vạch ra con đường cứu độ cho tất cả mọi người, nhất là những người bé mọn và tầm thường nhất. Chỉ có “thần khí của Cha” mới có thể mang vác được tất cả lịch sử và thực hiện một công cuộc hoàn tất lịch sử để những người bé mọn nhất có thể được rộng lòng đón nhận. Đức Giêsu, với tư cách là Đấng mạc khải trọn vẹn tình yêu thương của Thiên Chúa Cha và là Đấng Cứu Độ duy nhất, Ngài không thể nào chọn bất cứ con đường cứu độ nào mà những người nghèo không thể đón nhận được. Đó cũng là chiều hướng”hả giáng” nguyên thủy của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Quả thật, trong nhiệm cục cứu độ, lòng quan tâm đối với”người nghèo” chính là nguồn động lực đưa đẩy lịch sử cứu độ. Càng “nhìn xuống”, càng biết”chạnh lòng thương” đối với những người bé mọn, người Kitô hữu càng có khả năng nhận ra lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa [X. Mt 19,27; L c 6,36; lc 10,30; Lc 15,20; Mt 9,36; Mt 14,14; Mt 15,32; Mc 1,41; Mc 6,34; Lc7,13; Lc 19,41…]. Càng nhận ra một Thiên Chúa mà”cây lau bị dập, Người không bẻ gẫy, tim đèn leo lét chẳng nỡ tắt đi” [Mt 12,20], người Kitô hữu càng tìm thấy ”nguyên lý yêu thương” như nguồn mạch cho đời sống đức Tin của mình.
Ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho những người nghèo và những người bé mọn, những người tội lỗi, đó là ý định độc đáo và duy nhất của một mình Thiên Chúa. Đức Giêsu đến để cứu vớt đám đông bị bỏ rơi; chỉ có Thiên Chúa là Cha yêu thương mới có thể nghĩ ra cách thức cứu độ ấy; chỉ có ơn cứu độ nơi Đức Giêsu, cứu độ bằng tình yêu thương, mới có khả năng thể hiện thánh Ý ấy của Chúa Cha; và duy Đấng đã làm người như chúng ta, chịu hết phiền lụy như con người, muốn liên đới với cả cả những hệ lụy của tội lỗi nơi con người mới có thể thông ban Thần Khí để đám đông bị bỏ rơi ấy có thể tìm được ơn cứu độ chân chính cho mình.
Trong ý nghĩa ấy, chúng ta thấy những lời”hoan ca” của Đức Giêsu thật là đẹp biết bao:
“Vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói:”Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”[ Mt 11,25-26].
3.3 Những nẻo đường cứu độ hôm nay
Thời nào cũng có những người cùng khổ như những người cùng khổ thời Chúa Giêsu. Mặt khác, tâm thức con người thời nay không còn dễ dàng đón nhận trong sự yêu mến và”tâm phục khẩu phục” những giá trị luật pháp, giá trị danh giá, giá trị”thiêng liêng”, giá trị hình thức. Làm sao những người bé mọn nhất và những người thời đại hôm nay có thể đến với Đức Giêsu và nhận ra ơn cứu độ tặng-không của Ngài? Xin thử nêu lên vài điểm:
3.3.1 Cứu độ là yêu thương
Đức Kitô chính là mạc khải tình yêu của Thiên Chúa cho con người. Nơi Ngài ta thấy được trọn vẹn tình yêu bao la, quảng đại và độc đáo của một Thiên Chúa là Tình yêu.
Tác động cứu độ của Đức Kitô không chỉ là cái chết đền thay nhưng chính là tình yêu thương của Ngài dành cho con người. Cái chết của Đức Giêsu chỉ là tột đỉnh của một đời sống dành cho yêu thương, là con dấu đóng ấn một tình yêu”lớn lao hơn mọi tình yêu” trên tất cả cuộc đời của Ngài:
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”[ Ga 15,13].
Chính tình yêu trọn vẹn và tặng- không của Đức Giêsu có thể đến với tấm lòng con người và trở thành nguồn sức mạnh có khả năng biến đổi đời sống con người. Chính tình yêu ấy được biểu lộ trong cuộc vượt thắng sự chết, biểu lộ bằng sự sống lại,”lên trời” để hiện diện ở khắp mọi nơi mọi lúc, ban Thánh Thần để thông chia sức sống mới. Với tình yêu lớn lao ấy, Đức Kitô tiếp tục ở cùng các môn đệ mọi ngày cho đến tận thế để hoàn tất sứ mạng cứu thế và kết thúc công trình yêu thương ấy bằng việc đón nhận những người Ngài yêu thương vào”gia đình Ba Ngôi”.
Do đó, tội lỗi không phải là xúc phạm đến sự công thẳng của Thiên Chúa, nhưng là từ chối tình yêu của Ngài, từ chối tiến trình dẫn dắt, nâng đỡ, cảm thông… của Ngài.
Tuy thế, thay vì đòi hỏi con người phải đi bước trước để tạ tội, thì Tin Mừng cho ta biết rằng Thiên Chúa, như người mục tử nhân lành đi tìm con chiên lạc, như người cha chờ đợi đứa con hoang đàng… Thánh Phaolô cũng như Thánh Gioan cho ta biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, một tình yêu vô điều kiện [ x. Rm 5,6-8;1 Ga 4,10]
3.3.2 Cứu độ là liên đới
Đức Giêsu đến để đón nhận và tìm cách để có thể cứu thoát được tất cả mọi người, đặt biệt là những người bé mọn. Người thể hiện tấm lòng của Chúa Cha trong cung cách một người lê la, gần gủi, cảm thông với những người tội lỗi. Đức Giêsu đồng bàn với những người thu thuế, tiếp xúc với những người nghèo khó, chạm đụng đến những người bị tật cũng như để cho người tội lỗi đụng vào mình, nói hcuyện với phụ nữ “ngoại đạo”, tìm cách tha thứ cho người tội lỗi… Quả thật cuộc đời luôn có những người ở cùng đáy xã hội và họ bị trói chặt, bị xô đẩy trong vòng tội lụy. Đối với những người đó, ta không thể dễ dàng hco một lời khuyên, không thể “lên mặt luân lý” hay bố thí một vài trợ giúp. Những người ấy cần một sự liên đới, cần có người đồng hành cùng đi, cần có người chấp nhận được họ để đối thoại.
Cái chết của Đức Giêsu, trong diễn tiến lịch sử chính là kết quả của một thái độ ganh tỵ của những người không chấp nhận được một Đức Giêsu của “bọn dân đen” [x.Ga 7,49]. Cái chết ấybày tỏ sự liên đới trọn vẹn, một tình liên đới không lùi bước trước mọi thế lực, mọi đe dọa, một tình liên đới dám chấp nhận cả cái chết. Đồng thời, cuộc Phục Sinh của Ngài cũng chính là để”ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”[Mt 28,20]. Đó chính là tình liên đới ở mức độ xây dựng nên một “cộng đồng ngôi vị”.
3.3.3 Cứu độ là đón nhận nên bạn hữu
Ở đỉnh cao của tình yêu thương với các môn đệ, trong bữa tiệc chia tay, Chúa Giêsu tỏ bày cho các môn đệ nét cao cả tận cùng của nhiệm cục cứu độ: đón nhận các môn đệ trở nên những bạn hữu:
“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”[Ga 15,15]
Trở nên bạn hữu của Đức Giêsu Kitô, các môn đệ được thông chia sứ vụ của Ngài sau này; và nhất là trở nên bạn hữu với Đức Giêsu Kitô, người môn đệ Chúa được thông chia đời sống nhiệm mầu, tình yêu nhiệm mầu của Ba Ngôi Thiên Chúa, vì được thông chia những gì Ông bạn Giêsu”nghe được nơi Cha Thầy”[Ga 15,15]. Đó là một sự thông chia tình yêu nội tạng trong Thiên Chúa mà không thể có cách thức yêu thương nào cao cả hơn.
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”[Ga 15,9].
Điều ấy, Thánh Phaolô diễn tả một cách khác, một cách cũng thuyệt vời vô cùng cho những ai được đón nhận ơn cứu độ, đó là được trở nên “đồng hình đồng dạng”Đức Giêsu và trở nên người em của “Đại Ca Giêsu”[Xc. Rm 8,29-30]:
“Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên:”Ap-ba! Chúa ơi!Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô…” [Rm 8,15-17].
* * *
Ngoài ra chúng ta còn có thể trình bày tác động cứu độ của Đức Giêsu theo những chiều hướng phong phú và có nền tảng trong Kinh Thánh như (Xc felippe Gomez, Sđd, 180-215): Đức Kitô là Đấng giải phóng, Đức Kitô là Đấng Thần Hóa con người; Đức Kitô là Đấng Công Chính Hóa, Đức Kitô Đấng Trung Gian…
3.4 Hướng đến những hệ quả mục vụ sung mãn hơn
Trong khi thần học cứu chuộc chỉ để ý đến những sự kiện pháp lý, thì trào lưu nhân bản của thế giới hiện nay quan tâm đến sự thăng tiến cuộc sống và phẩm giá con người. Khát vọng này được xác nhận một cách căn bản trong nền thần học Cánh Chung của công đồng Vatican II (X. Bài: Nhiệm Cục Cánh Chung), hoặc thể hiện trong trào lưu thần học giải phóng. Ơn cứu độ của Đức Giêsu không phải chỉ là một thực tại pháp lý mà những hệ quả của nó chỉ bộc lộ trong thế giới mai sau, nhằm để cứu rỗi linh hồn… Ơn cứu độ của Đức Giêsu, chính yếu, nhằm hoàn tất chương trình sáng tạo, nghĩa là làm cho cuộc sống mỗi ngày mỗi biến hình nên Nước Thiên Chúa, làm cho men Tin Mừng thấm nhuần và biến cải cuộc đời, làm cho tất cả mọi người có thể đón nhận nhau như bạn hữu, anh em trong cùng một Cha… Những điều ấy không đi bên cạnh, nhưng xâm nhập vào tất cả những cảnh huống của lịch sử nhân loại, liên kết các nội tại với tình trạng đời sống luân lý, những tổ chức xã hội, những thể chế chính trị…, và đang hiện diện như một sức sống, như nguyên lý một thế giới mới.
Tuy thế, sau một thời ồn ào với Thần học Giải phóng, người ta hiểu ra hơn tình trạng cần giải phóng của con người không phải chỉ có nghèo đói bệnh tật, bất công, dốt nát, nhưng chính yếu là sự tự do chân chính, phẩm giá cao quý của con người. Đức Giêsu cứu độ con người, biến cải những thể chế xã hội hiện tại không phải chỉ như một sự viện trợ kinh tế, một giải pháp chính trị, nhưng còn làm lan truyền những giá trị nhân bản đích thực, những giá trị chân chính của Kitô Giáo như: tình liên đới, tự do, phục vụ, tin tưởng nơi Chúa…
Kết
Thiên Chúa xóa bỏ tội lỗi của con người bằng phương cách lạ lùng và siêu việt, Ngài ban cho chúng ta chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô:
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nổi đã ban Con Một mình, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”[Ga 3,16]
Con Một Thiên Chúa được ban cho con người không phải chỉ là Đấng dạy dỗ, không phải chỉ là Đấng làm phép lạ cứu chữa nhưng để trao ban trọn vẹn bản thân của Người cho con người. Ngài nhìn đến nỗi khốn cùng của con người và trao ban cuộc sống – cuộc sống liên đới và đồng hành với con người – và ban trọn vẹn trong cái chết và cuộc Phục Sinh – một sự liên đới và đồng hành vượt mọi giới hạn không gian và thời gian – để co người được sống muôn đời.
Chúng ta lại thấy rằng ơn cứu độ của Thiên Chúa diễn ra trên bình diện ngôi vị chứ không phải trên bình diện”sự vật”, bình diện lẽ công bình vay trả hoặc bình diện bố thí và thương hại. Đó không phải là những thứ ân huệ vụn vặt nào khác, nhưng là chính bản thân Đức Giêsu Kitô.
Đón nhận Đức Giêsu là đón nhận tin vào người, là dám để cho Ngài dính dáng vào cuộc đời mình, dám để cho Ngài chia sẻ gánh nặng cuộc đời mình, dám chấp nhận Ngài như “người mà”.
Một người anh dẫn em đi xin việc làm. Anh ta xin gặp vị giám đốc xí nghiệp để cố gắng nhận đứa thuyết phục ông giám đốc để nhận đứa em của mình, cho dù biết rằng khả năng của thằng em chưa đáp ứng trọn vẹn được nhu cầu công việc.
Vị giám đốc nêu ra những điều kiện cần thiết để chấp nhận và cho thằng em thử việc trong vòng một tháng. Nếu thằng em không đáp ứng đúng yêu cầu công việc, nó sẽ bị sa thải. Đó la nguyên tắc làm việc.
Sau đó ông giám đốc về nhà của mình, thanh thản,thoải mái vì cung cách làm việc nghiêm túc của mình, ông dùng cơm và ngủ ngon sau một ngày làm việc. Người anh, trái lại, về nhà lo lắng, xoay sở và tìm cách bổ túc cấp tốc những khả năng còn thiếu cho thằng em của mình.
Có lẽ chúng ta dễ tưởng Thiên Chúa giống như vị giám đốc kia, cao cả và làm việc đúng nguyên tắc. Thật ra,Thiên Chúa, hay đúng hơn, Đức Giêsu chính là người anh, người Anh Hai phải chịu phiền lụy để lo lắng một cách “có trách nhiệm” cho đứa em của mình. Đức Giêsu không chỉ là một thứ”đại lý của Thiên Chúa”, để cung cấp cho chúng ta một thứ “tiền bạc”, một chút”sức khỏe”, một chút”cơ may”… Đức Giêsu đứng về”phe” chúng ta để giúp chúng ta trả được” món nơ cuộc đời, đó là niềm hy vọng của con người được ơn cứu độ.