GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 5
Thiên Chúa là Đấng Thánh. Mặc khải Do thái Kitô giáo không ngừng tuyên xưng, nhắc nhở sự thánh thiện của Thiên Chúa. Thánh thiện có nghĩa là “siêu việt”, “tách biệt”, ý nghĩa này cũng khá rõ trong mặc khải. Tuy nhiên, tính chất tách biệt và siêu việt ấy chỉ mới là một nửa Kitô giáo; vì ở đây, Thiên Chúa còn là Đấng nhập cuộc. Thiên Chúa can dự vào lịch sử con người và càng lúc lại càng can dự sâu hơn. Hơn nữa, ta còn nhận ra một chiều hướng đối nghịch: Thiên Chúa thể hiện sự thánh thiện của Ngài bằng đường lối can dự vào lịch sử cách tích cực và đón nhận những phiền lụy của cuộc sống con người. Thư Philip cho thấy Ngôi Hai Thiên Chúa hạ mình nên giống phàm nhân, vâng lời, chịu chết trên thập tự và được tôn vinh, lãnh nhận danh hiệu Đức Chúa [x. Pl 2,6-11].
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài 4.1 NHIỆM CỤC GIAO ƯỚC
1. Thiên Chúa nhập cuộc
Thiên Chúa là Đấng Thánh. Mặc khải Do thái Kitô giáo không ngừng tuyên xưng, nhắc nhở sự thánh thiện của Thiên Chúa. Thánh thiện có nghĩa là “siêu việt”, “tách biệt”, ý nghĩa này cũng khá rõ trong mặc khải. Tuy nhiên, tính chất tách biệt và siêu việt ấy chỉ mới là một nửa Kitô giáo; vì ở đây, Thiên Chúa còn là Đấng nhập cuộc. Thiên Chúa can dự vào lịch sử con người và càng lúc lại càng can dự sâu hơn. Hơn nữa, ta còn nhận ra một chiều hướng đối nghịch: Thiên Chúa thể hiện sự thánh thiện của Ngài bằng đường lối can dự vào lịch sử cách tích cực và đón nhận những phiền lụy của cuộc sống con người.
Thư Philip cho thấy Ngôi Hai Thiên Chúa hạ mình nên giống phàm nhân, vâng lời, chịu chết trên thập tự và được tôn vinh, lãnh nhận danh hiệu Đức Chúa [x. Pl 2,6-11].
2. Thiên Chúa giao ước với con người
Chẳng những Thiên Chúa can dự vào lịch sử, nhưng Thiên Chúa còn giao ước với con người. Nét đặc trưng của Do Thái Kitô giáo là “đạo giao ước”. Giao ước là bản giao kèo, hay hợp đồng giữa hai bên, người với người hoặc dân tộc này với dân tộc kia. Đây là một tục lệ lâu đời trong đời sống xã hội, nhằm để gia tăng khả năng giải quyết những vấn đề khó khăn hoặc để những người yếu, nước yếu, có thể được bảo trợ nhờ những người hoặc những nước hùng mạnh hơn.
2.1 Qui chế giao ước
Trong Do thái – Kitô giáo, chính Thiên Chúa là người đã có sáng kiến hình thành nên giao ước với Dân. Đứng trước tình cảnh khốn khổ của con người, chính Thiên Chúa yêu thương đã đi bước trước; Ngài muốn thể hiện chương trình cứu độ của Ngài qua giao ước. Trong Cựu Ước, tuy còn giữ uy thế cao cả của mình, nhưng Thiên chúa, một phần nào đó, cũng đã chấp nhận liên lụy trong quy chế giao Ước mà Ngài đã sáng kiến ra.
Nhiệm cục này được thực hiện khởi từ một lời hứa [x.St 3,15]. Lời hứa ấy được ghi nhận như là một lời hứa đối với toàn thể nhân loại. Lời hứa này cũng được bảo đảm bằng một cam kết mang tính cách vũ trụ [ cam kết với ông Noe]. Ta có thể thấy nơi đây lòng khao khát” tự nhiên” về ơn cứu độ cũng như niềm hy vọng sâu xa của thân phận con người vào ân huệ của Thượng Đế. Một cách nào đó, mặc khải Do Thái – Kitô giáo cho thấy con đường tôn giáo và tôn giáo cứu độ không phải là một sự suy đồi hoặc vong thân của con người, nhưng là một ấn dấu đã được ghi khắc tự trong bản tính của con người, nhưng là một ấn dấu đã được ghi khắc tự trong bản tính của con người, dấu ấn niềm hy vọng vượt thắng tình trạng suy đồi của bản chất con người, cũng như những nỗi khốn cực giằng xé thân phận con người.
Bước tiếp theo là sự tuyển trạch của Thiên Chúa. Có nhiều dân tộc có ý thức về việc mình là dân được chọn, dân ưu tuyển, chẳng hạn dân Ai Cập… Tuy nhiên, các dân tộc khác thường chứng nhận phẩm chất dân được chọn của mình bằng những yếu tố như: một dân tộc lớn, dân tộc hùng mạnh. Trong khi đó, Dân Ít-ra-en lại nhận được sự tuyển trạch của mình ngay trong tình trạng nhỏ bé và yếu đuối nhất. Đó là một lời tuyên xưng ơn huệ tặng không của Thiên Chúa. Dân Ít-ra-en luôn sống trong ý thức tình trạng ân huệ này và nhờ đó, họ tìm được một sức mạnh vô địch để có thể vượt qua biết bao nhiêu gian khó trong lịch sử trần thế của mình.
“Có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người” [Đnl 4,7]…
Trong sự tuyển trạch này, ta lại thấy một lời cam kết đơn phương của Thiên Chúa. Abraham nghe Lời Thiên Chúa để rời bỏ quê hương xứ sở, dòng tộc để đi vào một hành trình vô định. Hành trình ấy được Thiên Chúa cam kết dưới hình thức một giao ước, nhưng đây mới chỉ là giao ước đơn phương từ phía Thiên Chúa mà thôi[xc. St 14,7-21].
Giao ước Sinai[Xh 24, 1-11] thể hiện rõ nét một cơ cấu đầy đủ, trọn vẹn của giao ước. Từ ngữ giao ước trước hết là từ ngữ của xã hội và nó có những cơ cấu căn bản của nó. Ở đây, giao ước được thực hiện trong tầm mức tôn giáo, và nó cũng tìm thấy cách thức thể hiện những phẩm chất riêng của loại giao ước này. Ta có thể phân tích những yếu tố căn bản như sau:
2.1.1 Tên gọi
Trong giao ước, mỗi bên đối tác phải thể hiện cam kết của mình trước hết bằng việc xưng tên. Về phía Thiên Chúa, dân Ít-ra-en đã dùng nhiều cách để có thể”xác định”phía đối tác thần linh với những “tên gọi” cách này cách khác [Ngài là chiến sĩ, Thiên Chúa trung tín,”Thiên Chúa của cha ông”hoặc Thiên Chúa của Abraham, Isaac, Giacóp”…]. Tuy nhiên, thật sự những cố gắng ấy là một cách nắm bắt ít nhiều mối tương quan chứ không phải là”tên”đích thực của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn là Đấng không tên. Trình thuật Thiên Chúa mặc khải cho Mô-sê[Xh 3,13-14] mà người ta thường căn cứ vào đó để gọi tên Thiên Chúa là Giavê, thực sự không phải là mặc khải về tên của Ngài. Kiểu nói”Ego sum qui sum” chỉ cho thấy Thiên Chúa là chính Ngài. “Danh hiệu” này là một động từ chứ không phải danh từ; và nó không gợi lên một hình ảnh nào cả; Ngài là chính Ngài trong những hành động, trong lời cam kết với các tổ phụ. Kiểu nói ấy là một cách tỏ mình bằng cách che dấu. Kiểu nói ấy vừa giúp cho dân “xác định” phần nào phía đối tác, nhưng cũng khẳng định sự tự do về phía Thiên Chúa, là đối tác không diện mạo. Không được gọi tên Ngài, nghĩa là dân không thể bắt buộc Ngài làm theo ý của mình.
Mặt khác, về phía dân, thì Ít-ra-en lại là một tên chung. Giao ước như thế được Thiên Chúa ký kết với Dân như một tập thể. Điều này vừa cho thấy một ý nghĩa tích cực: chính toàn thể Dân có trách nhiệm chu toàn giao ước; mọi người dân liên đới và liên lụy với nhau trong vận mạng chung ấy. Tuy nhiên, nó cũng hàm chứa một sự “thiếu hoàn hảo”, vì Thiên Chúa chưa có trách nhiệm với từng cá nhân, với những hoàn cảnh ngoại lệ hoặc khó khăn của mỗi con người.
2.1.2 Bản giao kèo
Bản giao ước của Cựu Ước đến từ Thiên Chúa. Chúa cần sự đồng ý của dân để ký giao ước, nhưng dân không được quyền trả giá hoặc thương lượng về nội dung của bản “giao kèo”. Dân Chúa muốn được Thiên Chúa phù hợp, phải chấp nhận những điều kiện do chính Ngài qui định.
2.1.3 Lời hứa
Tuy vậy, Dân cũng có một điểm để “nắm bắt” được Thiên Chúa, đó là Lời hứa của Ngài. Ta thấy trong cách diễn tả của Cựu Ước, nhiều lần Thiên Chúa”hối tiếc” hoặc nổi giận muốn tiêu diệt dân, hoặc Thiên Chúa được diễn tả như đã lầm khi ký kết với dân… Tuy nhiên, Dân Chúa biết vận dụng phần lợi trong giao ước, họ nhắc tới giao ước để ngăn cản bàn tay thịnh nộ của Giavê hoặc đôi khi như thể”thách thức” Ngài[ chẳng hạn Abraham bình tỉnh trong việc xác tế Isaac; hoặc những người bạn của Giacóp…].
Giao ước chính thức và song phương này trở nên yếu tố căn bản để hình thành dân tộc Ít-ra-en và là nguyên lý chính yếu để thúc đẩy, hướng dẫn toàn bộ lịch sử của dân.
“Nếu các ngươi nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, các ngươi sẽ là dân tộc Ta biệt Đãi giữa mọi dân tộc, vì cả trái đất thuộc về Ta, nhưng đối với Ta, các ngươi sẽ thành một vương quốc tư tế và một quốc gia đã được thánh hiến” [Xh 19, 5 tt]
2.2 Những giới hạn của Giao Ước Cũ
Giao ước cũ đã cứu Dân Ít-ra-en khỏi bị tiêu diệt, nhưng để làm cho Dân sống một đời sống phong phú thì,tạm diễn tả là,” chưa thành công lắm”. Ta có thể nhận ra những giới hạn của Giao ước cũ như sau:
2.2.1 Dân chưa an tâm vì một Thiên Chúa siêu việt
Người ta thường cắt nghĩa những tình tiết kỳ quặc trong Cựu Ước, những hành vi dữ tợn của Thiên Chúa bằng thói quen qui tất cả mọi sự vào nguyên nhân sau cùng, tức là Thiên Chúa. Điều đó chắc hẳn là đúng; tuy nhiên,ta còn có thể thêm vào đó một yếu tố khác: sỡ dĩ dân chúng có thể gán cho Thiên Chúa những tư tưởng hoặc hành động xấu xa như thế là vì họ vẫn nhìn Thiên Chúa như một Đấng siêu việt, Ngài có thể làm những gì Ngài muốn. Việc nhận thấy Thiên Chúa như thể không có gì, không ai được qui định Ngài như thế khiến người ta trình bày Thiên Chúa đôi lúc như một vị”ác thần”(Xc.Bernard Lauret và Francois Refouíe, Đường Vào Thần Học, bản dịch của Giaonkim Nguyễn Đức Việt Châu, Sss…, tập 2, trang 16,24.) chẳng hạn:
- Xh 4, 24-26: Thiên Chúa vừa trao cho Mô-sê sứ vụ quan trọng là cứu dân - đang bị nô lệ, thì lại tìm cách giết Mô-sê.
- St 22: Thiên Chúa yêu cầu Abraham sát tế Isaac.
- Xh 10, 20: Thiên Chúa làm cho Pharaô cứng lòng để sát hại các con đầu lòng.
- L Sm 2, 25: Thiên Chúa sắp xếp để đưa các con Thượng Đế Heli đến cái chết.
- 2 Sm 6, 7: Thiên Chúa phạt chết Usa chỉ vì ông muốn đỡ cho hòm bia khỏi đổ.
- 2 Sm 24,1-15: Thiên Chúa thúc giục Đa-vít kiểm tra dân rồi lại phạt ông thật nặng.
- l Sm 18,10: Thiên Chúa đưa ác thần vào Saolê
2.2.2 Giao ước khắc trên bia đá
Giao ước khắc trên đá có tính pháp lý, đòi buộc từ bên ngoài. Điều ấy khiến cho lề luật trở nên một áp lực mà người dân phải chịu-vậy. Con người chưa tìm thấy được một sự thân tình, khẩu phục tâm phục trong giao ước này.
2.2.3 Giao ước với một tập thể đoàn lũ
Giao ước cũ được ký qua trung gian một luật chung cho toàn dân. Những ai không tuân giữ lề luật có thể bị loại ra ngoài; giao ước ấy có tính cách loại trừ, và dừng lại ở dân riêng… Mặt khác, tính cách tập thể như thế không làm cho tính cách ”tự do” chân chính của con người được phát triển.
2.2.4 Giao ước không bình đẳng
Trong giao ước không bình đẳng, dân chúng tính toán ,so đo; đòi hỏi những điều liên quan đến các lợi lộc trần thế. Giao ước ấy chưa có được tính chất thân tình, và chưa đáp ứng nhu cầu thâm sâu của con người.
2.2.5 Tiên báo một giao ước mới
Chính vì những giới hạn như thế, giao ước cũ thường xuyên bị vi phạm. Từ đó, các ngôn sứ loan báo một giao ước mới, trọn vẹn hơn, thân tình hơn và sâu xa hơn, mang những hình ảnh như ”mục tử với đàn chiên”,”cha với con”,”vợ với chồng”…
* Hs 2.21-24:
“Ta sẽ lập với người một hôn ước vĩnh cữu. Ta sẽ lập hôn ước với người trong công minh và chính trực, trong ân tình và thương xót.
Ta sẽ lập hôn ước với người trong tín thành và ngươi sẽ được biết Đức Chúa”.
* Gr 31,34:
“Này sẽ đến những ngày,sấm ngôn của Đức Chúa, Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giuda một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập; chính chúng đã hủy bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa tể của chúng, sấm ngôn của Đức Chúa. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó, sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là Dân của Ta. Chúng không cần phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia:”hãy học cho biết Đức chúa”, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta, sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ tha thứ tội cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa”[Gr31,34]
* Ed 36, 26.34:
“Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim b8àng đá khỏi thân mình các ngươi, và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt.
Chính Thần Khí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi,Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo Thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thực hành”.
3. Giao ước mới
Những lời tiên báo của các ngôn sứ được thực hiện trọn vẹn trong Giao Ước Mới; nơi đây, tất cả những giới hạn của giao ước cũ được vượt qua; đồng thời Giao Ước Mới còn thể hiện một sự mới mẻ, trọn vẹn và sung mãn”khôn lường”. Giao Ước Mới vượt qua tầm suy nghĩ của lý trí con người, vượt qua mức độ”công bằng” theo kiểu đặt điều kiện đòi hỏi nhau, và mang lại những “quyền lợi”đặt biệt cho nhân loại. Thư Do Thái nói:
“Nhưng hiện nay,Đức Giêsu được một tác vụ cao trọng hơn, bởi vì Người là trung gian của một giao ước tốt đẹp hơn; giao ước này căn cứ vào những lời hứa tốt đẹp hơn. Thật vậy, giá giao ước thứ nhất đã hoàn hảo rồi, thì chẳng cần phải tìm giao ước thứ hai để thay thế.[. . .]. khi Thiên Chúa nói đến Giao Ước Mới, Người làm cho giao ước thứ nhất hóa ra giao ước cũ; và cái gì cũ kỹ, lỗi thời, thì sắp tan biến đi”[Dt 8, 6-7. 13]
Chúng ta không thấy rõ ràng một cơ cấu giao ước trong Tân Ước, nhưng Đức Tin Kitô giáo luôn khẳng định, chính Đức Giêsu Kitô, cụ thể là hiến tế thập giá và sự Phục Sinh của Ngài trở thành một nhiệm cục mới, một giao ước mới được ký bằng máu Đức Giêsu Kitô. Biến cố Đức Giêsu Kitô. Biến cố Đức Giêsu chịu chết vào dịp lễ Vượt Qua đã nói lên Ngài chính là”Con Chiên mới” có thể mang lại sự giải thoát khỏi án chết và cho con người được tự do.
“Người bảo các ông: đây là Máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người…”[Mc 1424].
Công Đồng Vatican II, sau khi trích dẫn Gr 31,31-34, nói rằng:
“Giao Ước Mới này, chính Đức Kitô đã thiết lập, đó là Giao Ước Mới bằng Máu của Người [Xc.lCr 11, 25], Người triệu tập một dân từ người Do Thái cũng như từ người ngoại, họp lại thành một khối duy nhất, không phải theo xác thịt nhưng trong Thần Khí, và thành dân mới của Thiên Chúa”[GH 9].
3.1 Lối diễn tả của tình yêu
Nói chung, người ta thây rằng, trong nền tảng của giao ước cũ làluật pháp, thì ngược lại, chính tình yêu [agapè] là lối diễn tả mới của giao ước mới. Nơi đây, Thiên Chúa thực hiện những đường nét của nhiệm cục cứu độ, một cách chính yếu, không chỉ là để gìn giữ Dân Chúa được tồn tại, nhưng là để cho Dân và từng người trong Dân Chúa được sống sung mãn phận người cũng như phẩm giá làm con cái Chúa.
Trong bầu không khí của Giao Ước mới, người Kitô hữu được mời gọi vượt qua não trạng luật pháp và cũng cần vượt qua một quan niệm quá đề cao sự công bằng của Thiên Chúa, thường làm lưu mờ nguyên lý cứu độ bằng tình yêu của nhiệm cục mới. Thật ra, tuy có một vài nơi diễn tả công bằng, nhưng từ ngữ”justicia”[justice] trong Kinh Thánh, chính yếu, diễn tả sự công chính. Chính trong nhiệm cục giao ước mới, sự công chính của Ngài như một Đấng Trung Tín, Ngài làm mọi cách để thực hiện nhiệm cục cứu độ một cách kiên nhẫn và quảng đại; và con người được mời gọi sống công chính trong chính tâm hồn của mình, trong thái độ chân thành chứ kgông phải thái độ lề luật từng li từng tí.
Do vậy, trong giao ước mới, Thiên Chúa không còn tỏ hiện như một Đấng oai nghiêm mà như một người ”lê la” với những người nghèo khổ, những người bé mọn và những người tội lỗi và tìm cách để cứu những người ở đáy xã hội.
“Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe tin mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi”[Lc 7, 18-23].
Đồng thời những bé mọn, nhờ gặp gỡ với Chúa Giêsu, có thể đạt tới một phẩm giá cao quí, sống xứng đáng phẩm giá người môn đệ Chúa
“Rồi quay lại phía người phụ nữ, người nói với ông Simon: Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn chào tôi được một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu, ông cũng không đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”[x.Lc 7, 44-47].
3.2 Vượt qua những giới hạn
3.2.1Tính cách siêu việt được thể hiện trong tình yêu
Thay vì bảo vệ uy danh bằng cách giữ không cho dân biết và sử dụng tên của mình, trong Giao Ước Mới, Thiên Chúa trở thành một con người cụ thể, có tên gọi, và có thể nhìn thấy mặt, gặp gỡ, trao đổi được. Thiên Chúa thể hiện tình yêu thương cứu độ của Ngài trong Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Tính cách siêu việt của Thiên chúa vẫn còn, nhưng không tỏ hiện qua những hành vi khiến dân chúng cảm thấy sợ hãi. Tính cách siêu việt ấy được thể hiện trong hành vi Thiên Chúa hạ mình, hóa ra không, hòa mình vào dòng đời của những tội nhân, đón nhận toàn thể những phiền lụy của kiếp nhân sinh. Trong Đức Giêsu kitô, Đấng sẵn sàng hy sinh mạng sống mình, Thiên Chúa siêu việt thể hiện sự tự do vượt quá suy nghĩ của con người bằng một tình yêu lớn hơn mọi tình yêu.
3.2.2 Giao ước trong Thần Khí
Trong giao ước này, Thiên Chúa không chỉ ra luật như một người đứng ngoài, không đánh giá lòng trung tín của Dân như một quan án khách quan. Ngược lại, Ngài thâm nhập vào tâm hồn của môn đệ bằng cách trao ban Thánh Thần của người. Thánh Thần ghi khắc giao ước trong tâm, thông ban sức sống cho Dân để giao ước không còn là giao ước ghi trên bia đá hay một đòi buộc có tính cách áp đặt; và để Dân sống trong sự trung tín với Giao Ước bằng cả tấm lòng:
“Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa” [Gl 5,18]
3.2.3 Giao ước với cộng đoàn và cá nhân
Trong Giao Ước này, Thiên Chúa gặp gỡ từng con người và Giao Ước không còn là giao ước với một tập thể”đoàn lũ”. Dĩ nhiên tính cách cộng đoàn vẫn luôn là ý nghĩa chính, nhưng đó không phải là một thứ tập thể loại trừ cá nhân, b6át cần tới những oan ức riêng của một cá nhân nào đó. Trong giao ước này, thay vì nhắm mắt tuân giữ lề luật bất di bất dịch, mỗi người Kitô hữu được mời gọi nhận ra Thánh ý Chúa cho chính cá nhân của mình và đáp lại Thánh ý Ngài bằng quyết định tự do của mình, trong sự hiệp thông với toàn thể Giáo Hội.
3.2.4 Giao ước trong sự tôn trọng con người
Với giao ước có tính cách cá nhân như thế, Thiên chúa thể hiện một lòng tôn trọng phía đối tác một cách đặc biệt. Nhiệm cục mới được bắt đầu với việc Thiên chúa hỏi ý con người, một người phụ nữ, đó là Đức Maria. Về phía mình, con người được quyền tỏ bày suy nghĩ của mình cũng như được Thiên Chúa lắng nghe những khó khăn riêng của mình [x. Lc. 26- 28].
Cũng thế, Đức Giêsu từ chối những nẻo đường cứu độ theo kiểu Satan trình bày, vì những nẻo đường ấy coi thường con người, biến con người thành những đứa trẻ con, hời hợt ( (X. Nguyễn Trọng Viễn, Những căn bệnh Trầm kha trong Đời sống Đức Tin Công giáo tại Việt Nam, 2003;”bài đạo” Thực Dụng). Ngài tránh những phương thế có tính cách khoa trương để sỏ mũi con người. Ngài nhắc nhở một sự thứ”bí mật thiên sai”( X. Mc 1,25. 44;3, 12;5, 43; 7,36;8,30;9,9]. Xin coi chú thích Mc 1,34 trong bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ) để không biến quan niệm cứu độ trở thành con đường dễ dãi.
Để nhận ra Thánh ý Chúa, người tín hữu cần tự chủ và sáng tạo, cần tự do và tự nguyện dâng tặng, chứ không bị áp đặt từ bên ngoài.
3.3 Đạt tới những chiều kích sung mãn nhất
3.3.1 Tình yêu vô điều kiện
Trong Giao Ước Mới, tình yêu thương của Thiên Chúa là một tình yêu vô điều kiện. Thiên Chúa vẫn luôn đi bước trước, nhưng ở đây, Ngài đi đến cùng, đến tận những người ở cùng đáy xã hội; Ngài cất bước đi tìm con chiên lạc, Đức Giêsu khẳng định bệnh nhân mới cần tới thầy thuốc[x. Mt 9,12]. . . Thánh Phaolô quả quyết Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và cho con của Ngài chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân [Xc. Rm 5,8].
Chính vì thế, nguyên lý cứu độ không còn là công đức của con người nhưng là chính tình thương của Chúa. Con người được mời gọi để Tin, để đón nhận tình thương vô điều kiện của Ngài và nhờ tình thương ấy mà lớn lên cũng như vững bước trên đường đời.
3.3.2 Tình yêu giúp con người lớn lên
Giống như tiến trình phát triển tự nhiên của một con người, Thiên Chúa trong Giao Ước Mới đối xử với con người như những người trưởng thành, người môn đệ Chúa được trở nên người bạn của Đức Giêsu [Xc. Ga 15,15]. Trong vai trò ấy, người tín hữu được quyền trao đổi và sáng tạo bản thân mình. Lời”xin vâng” của người bạn không phải là một thứ vâng phục nô lệ, nhưng là một sự tự hiến trong tự do và yêu thương. Như thế, người kitô hữu đón nh6ạn sức mạnh và tình thương của Thiên Chúa mà không đánh mất phẩm giá cao quí mà Thiên Chúa đã ban cho.
3.3.3 Tình yêu trong một “cộng đồng ngôi vị”
Cuối cùng, phẩm giá con người được trọn vẹn với lời mời gọi gia nhập vào” Gia Đình Ba Ngôi”. Con người được nâng lên hàng ”đồng thừa tự” với Đức Giêsu Kitô; nghĩa là giao ước của Đức Giêsu và người tính hữu có tính cách như một chấp nhận trọn vẹn bản thân của nhau, tạo nên một ”cộng đồng ngôi vị”.Để thực hiện được hồng ân cao quí này, Đức Giêsu ban ”Thần Khí nghĩa tử” để con người được sống trọn vẹn tinh thần và phẩm giá của cải Thiên Chúa, sống một cách có trách nhiệm, trong sự hiệp nhất của “Gia Đình Ba Ngôi”[Xc. Rm 8, 15]. Quả thật đây là sự lạ lùng độc nhất vô vị của tình yêu Thiên Chúa trong chương trình cứu độ.
Kết
Một em bé mồ côi cả đời chỉ mong ước tìm được một mái ấm gia đình. Đã có một lần em được nhận vào một gia đình làm con nuôi, nhưng đó chỉ là một sự lợi dụng. Lần khác, em tìm gặp được chính người mẹ ruột và được sống trong nhà với mẹ. Nhưng người mẹ ấy không chấp nhận nỗi những xáo trôn gia đình vì đứa con rơi và tìm cách chối từ đứa con của mình một lần nữa. Năm nay em đã hai mươi bốn tuổi và vẫn lủi thủi đi về một mình trong nỗi cô đơn.
Một lần em đến hỏi ý kiến của tôi về việc một gia đình nọ muốn nhận em là con nuôi. Tôi mừng cho em.
Tuy nhiên,sau khi suy nghĩ, tôi góp ý với em đại khái như sau: theo tôi, em không nên nhận lời; bởi vì, nền tảng của một đời sống gia đình chính là tình nghĩa thuộc về nhau. Trong gia đình, dù có những tính khí khác biệt nhau, dù có những xung đột chuyện này chuyện kia, những thành viên trong gia đình vẫn còn có một nền tảng để gắn bó với nhau.
Những trục trặc trong gia đình, bình thường, chỉ là sự lỏng lẻo”trên kèo cột”; nền móng của”ngôi nhà” gia đình ấy vẫn còn vững bền, vì mọi người trong gia đình, bình thường, vẫn còn nhận ra mình thuộc về nhau. Nhờ nền tảng ấy, những người cha mẹ, con cái, anh chị em vẫn còn liên đới với nhau.
Trái lại, Khi em vào trong một gia đình, nền móng ‘thuộc về nhau” ấy chưa có. Dù có cố gắng lắm, em chỉ nối kết với người khác bằng cách sống tốt, bằng việc “gắn kết kèo cột”; nhưng nền tảng thì chưa xây dựng được. Trong tình hình ấy, chỉ cần một chút khác biệt cũng có thể làm đổ vỡ mọi sự.
Điều cần thiết nhất để một gia đình được bền vững chính là tâm tình thuộc về nhau, đó là nền móng mà khi không xây dựng được thì mọi” kiến trúc thượng tầng” đều có nguy cơ đổ vỡ bất cứ lúc nào.
Tôi khuyên em nên can đảm sống tình trạng hiện tại, cho đến khi nào chính cách sống hiện tại của em gắn kết với người khác, dần dần xây dựng với nhau một bề dầy nghĩa tình. Đừng vội vã tìm cho mình bất cứ một”mái ấm” gia đình nào, kẻo lại thêm một lần thất vọng đau thương.