GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 7
Người Hy Lạp quan niệm con người có hai phần: thân xác và linh hồn;trong đó linh hồn là yếu tố căn bản và chức năng chính yếu của linh hồn là suy tư.Quan niệm ấy đương nhiên dẫn đến việc đặt tất cả chìa khóa việc giải quyết đời sống con người vào khả năng suy tư của lý trí. Muốn cho một con người nào đó được biến đổi nên tốt hơn, người ta dạy cho người ấy biết suy tư.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài 5.1 NHIỆM CỤC LỜI CHÚA
1.Văn hóa Sê-mit
1.1 Quan niệm về con người
Người Hy Lạp quan niệm con người có hai phần: thân xác và linh hồn;trong đó linh hồn là yếu tố căn bản và chức năng chính yếu của linh hồn là suy tư.Quan niệm ấy đương nhiên dẫn đến việc đặt tất cả chìa khóa việc giải quyết đời sống con người vào khả năng suy tư của lý trí. Muốn cho một con người nào đó được biến đổi nên tốt hơn, người ta dạy cho người ấy biết suy tư.
Theo quan niệm Sê-mit, con người gồm có nhiều thành phần: linh hồn, con tim, nhục thể, thân xác, thần trí (Những yếu tố của khoa nhân loại học Thánh Kinh được diễn tả qua các đề mục khác nhau: linh hồn, tim, nhục thể, thân xác,tinh th6àn.Xc. Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh 3). Khi sử dủng những từ ngữ ấy, người sê- mít không muốn phân chia con người thành những thành phần riêng biệt và độc lập nhau nhưng diễn tả con người toàn diện tỏ hiện dưới những khía cạnh khác nhau của đời sống. Con người là linh hồn vì được sinh khí tác động; con người là nhục thể vì con người là tạo vật khả tử; con người là tinh thần vì con người hướng về Thiên Chúa; con người là thân xác, vì con người biểu lộ mình với thế giới bên ngoài. . .
Một cách tổng quát, con người theo quan niệm Sê-mit gồm có ba phần: thân xác linh hồn và thần trí[hay thần khí](Hoặc người ta chia thành hai phần: linh hồn và thân xác; nhưng trong linh hồn có thần trí, hay thần khí = ruah/pneuma). Theo quan niệm ấy, chính thần trí là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống con người. “Thần trí” là yếu tố làm cho sống, tạo nên sức mạnh như một mãnh lực chi phối con người; dễ tạo nên cảm xúc(Người ta thường nói”hứng’ theo thần khí, chứ không phải”hiểu” Thần Khí. Thần trí cũng là nguồn mạch của mọi sự biến đổi từ bên trong, và là nguyên lý chính yếu chi phối toàn bộ cuộc sống. Dưới sự tác động của một thần khí nào đó, tâm hồn con người có thể bị một sức mạnh x6am chiếm mãnh liệt đến độ như con người không còn không còn thuộc về mình nữa, đó là hoạt động của thần trí, hoặc thần khí xấu[Xc. Ds 5,14-30;Ti 9,23; Hs 4, 12; Ed 13,2], hoặc thần khí tốt xuất phát từ Thiên Chúa.
Như thế, yếu tố chính để thay đổi một con người không phải là một chân lý trừu tượng mà chỉ người khôn ngoan mới có thể hiểu biết, theo kiểu của người Hy Lạp; cũng không phải là một nỗ lực hoàn toàn của ý chí của những bậc chính nhân quân tử để tuân theo giáo huấn của thánh hiền như kiểu luân lý Khổng Mạnh, nhưng chính yếu là do sự tác động của một thần trí mạnh
Nhưng tác dộng của thần trí lại được thực hiện qua gặp gỡ, thường là qua lời nói. Như thế, chính qua những giao tiếp cụ thể cũng như qua lời nói mà con người trao gởi cho nhau thần trí và tạo nên những thế lực biến đổi cuộc sống. Có thể nói, trong quan niệm của người Do Thái, lịch sử chính là sự tương tác giữa các thần trí, thần trí tốt và thần trí xấu.
Chính vì thế, người Do Thái coi trọng đời sống thường nh6ạt hơn là những suy tư lý thuyết; họ ít có danh từ trừu tượng; muốn diễn tả một khái niệm trừu tượng, người Do Thái dùng một loạt các danh từ cụ thể. Người Do Thái sống kinh nghiệm giao tiếp cụ thể; sống với những mối tương giao có tính chất”ngôi vị”. Cũng thế, người Do Thái kinh nghiệm về Thiên Chúa trong những biến cố chứ không phải lýluận ra Thiên Chúa như một nguyên tắc cần thiết để hợp lý hóa một chuỗi suy tư thuần túy.
1.2 Lời nói
Đối với người Do Thái, lời nói không phải chỉ là một âm vang và cũng không chỉ là những âm thanh chuyển đạt một số ý nghĩa nhưng chuyển thông chính chủ thể nói đến người nghe. Lời nói thể hiên hoạt động của một “ngôi vị” và người ta nhận biết một con người qua lời nói của người ấy. Chính vì thế, Thiên Chúa là Đấng”nói” với loài người chứ không phải như các tượng thần,”có mắt có miệng, không nhìn không nói”[Tv 115,5]
Mặt khác, Lời Chúa nói cũng không phải là những tư tưởng bí mật, bí truyền, hoặc những là chỉ dẫn để tưởng nhằm giải thoát cá nhân, nhưng là những sứ điệp cần chuyển thông, chẳng những cho một vài người như các ngôn sứ, nhưng còn là sứ điệp cần truyền đạt cho toàn thể Dân. Do vậy, lời nói bình thường cũng là lời ngỏ; lời nói có nghĩa là nói với, là chủ thể nói gởi tới đối tượng một thông điệp. Lời Chúa tỏ bày cho các ngôn sứ và các ngôn sứ mang sứ mạng thông truyền Lời Chúa. Lời Chúa được trao gởi cho Dân như lề luật, như sự khôn ngoan, như những qui tắc hướng dẫn cuộc sống. Dân Chúa được mời gọi lắng nghe và đòi hỏi sự đáp trả của Dân đối với Lời Chúa trở thành chính thái độ đối với Chúa; điều đó có tính cách quan trọng và quyết định đối với số phận con mình.
Ơi nói như thế có một tính chất gần như”ma thuật”, hơi giống với niềm tin của các dân tộc cổ sơ; lời nói có tính chất hữu hiệu như một tác động thật sự. Chính vì thế,những lời chúc lành, chúc dữ, hoặc việc gọi tên ai đó. . . có ảnh hưởng thật sự lên cuộc sống thường ngày. Thường thường, nếu Lời Chúa bị bỏ qua, thì cuối cùng Ngài sẽ thực hiện những dấu chỉ khác để bắt buộc người nghe phải nhìn nhận sự thật. Như thế, các ngôn sứ cảm thấy như bị lời Chúa thôi thúc phải thi hành sứ vụ, chẳng hạn trường hợp của ngôn sứ Giôna [x. Gn 1,3];và Dân Chúa được kêu gọi để tuân phục, hoặc đón nhận những hậu quả Do Thái độ không tuân phục.
2. Tác động của lời Chúa
2.1 Vai trò ngôn sứ
Trong lịch sử dân tộc Ít-ra-en, yếu tố quan trọng nhất không phải là các triết gia như người Hy Lạp, không phải là sức mạnh của những mẫu gương đạo đức cao cả của các nhà hiền triết như ở nền văn minh Á Châu và cũng không phải là những vị vua hùng mạnh như đế quốc Roma… Tất cả lịch sử dân tộc Ít-ra-en đặt nền trên tôn giáo, trên tôn giáo giao ước với Giavê, vì thế, chính các ngôn sứ, những người truyền đạt ý muốn của Giavê cho Dân là yếu tố quan trọng hàng đầu.
Ngôn sứ không phải là một thứ “thầy bói” để đoán định những chuyện tương lai như trước đây người ta dịch là “tiên tri”; ngôn sứ cũng không phải là một thứ nhà cách mạng chuyên nghiệp, luôn thổi những luồng tư tưởng chống lại các hệ thống, các tổ chức truyền thống. Ngôn sứ là người nói thay cho Thiên Chúa; ngôn sứ thông truyền sứ điệp của Chúa cho Dân trong những vấn đề của cuộc sống, đặc biệt trước những biến cố quan trọng của lịch sử.
Ngôn sứ là người có tiếng nói quyết định trong lịch sử cứu độ, ngôn sứ san định Sách Thánh (Sách Thánh chỉ được thành hình theo qui điển từ thời các ngôn sứ. Trước đó, ta chỉ có những truyền thống truyền khẩu và những tài liệu biên niên kỷ rời rạc. Các sách Cượu Ước được công nhận trong qui điển chỉ thành hình từ giữa thế kỷ thứ VII tcn, tức là nhờ sự nghiệp của các ngôn sứ lớn như Amos, Hôsê, Mica, Isaia. Chính các ngôn sứ góp một phần hết sức quan trọng trong việc định hình Sách Thánh.); ngôn sứ la người đọc các biến cố trần tục bằng nhãn quan siêu nhiên, bằng kinh nghiệm về Thiên Chúa. Chính ngôn sứ là nhân tố trung gian để lịch sử của dân tộc trở thành một lịch sử thánh, lịch sử ơn cứu độ. Amos xưa kia đã “cả gan” quả quyết rằng:
“Đức Chúa là Chúa Thượng không làm điều gì mà không tiết lộ kế hoạch của người cho các ngôn sứ, tôi tớ của người được biết” [Am 3,7].
2.2 Hình thành Lịch sử Cứu độ
Dân Ít-ra-en có một lịch sử dân tộc như bất cứ một dân tộc nào khác; họ cũng có chiến tranh, loạn lạc, những vị vua tốt và những vị vua xấu… Đó là một lịch sử đầy tính cách trần thế như bất kỳ lịch sử một dân tộc nào khác.
Tuy nhiên, tất cả những chuyện hoàn toàn trần tục ấy lại được Thiên Chúa dính líu vào. Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử của dân bằng Lời của Chúa và bằng những kỳ công dấu lạ; và Dân Chúa được học hỏi để “xử lý” các biến trong mối tương quan với giáo huấn của Chúa. Khi ấy, lịch sử dân tộc Ít-ra-en biến thành công việc chung. Chính từ một sự “hợp tác” như thế mà có được lịch sử cứu độ trong và là chính lịch sử của dân tộc Ít-ra-en.
Thiên Chúa giao ước với Dân và Ngài can thiệp vào lịch sử của Dân để thực hiện nhiệm cục cứu độ của Ngài. Công việc này là cả một quá trình dài, trải qua những thăng trầm của lịch sử. Chính trong lịch sử thăng trầm ấy, Dân được mạc khải “dung mạo” của Chúa và nhận ra đức tín trung của Ngài.
Như thế, Lời Chúa được trao gởi cho những con người cụ thể và đi vào lịch sử nhân gian, đó là nét đặc trưng của Lời Chúa. Dân Chúa, đang khi nghe Lời Chúa qua các ngôn sứ, được hội nhập vào dòng lịch sử, và đó chính là lịch sử ơn cứu độ. Lời Chúa là những giáo huấn nhằm tới cuộc sống cụ thể, chân thật hằng ngày, là lời mời gọi đi vào cuộc phiêu lưu theo Thánh ý Chúa, chứ không phải là một bài học trừu tượng và khách quan.
2.3 Đức tính căn bản
Người dân sống trong Giao ước không bận tâm lắm về sự hợp lý nội tại của một suy tư, về tính cách khôn ngoan trong một quyết định, nhưng là bận tâm xét xem đâu là ý muốn của Gia-vê. Nói cách khác, trong khi người Hy Lạp suy tư về bản chất, nghĩa là tìm cách xác định xem một sự vật là gì; thì người Do Thái lại suy tư về nguồn gốc, nghĩa là xem sự việc, một sự vật có nguồn gốc từ đâu, có phải do từ Gia-vê hay không. Chính vì thế, họ luôn trông chờ ngôn sứ xuất hiện.
Do Thái-Kitô giáo không phải là một học thuyết, nhưng là một lời mời gọi, là một sứ điệp sống với; điều đó làm nên một lịch sử cứu độ, một lịch sử nghĩa-tình với những thăng trầm, với những kỷ niệm, với những bài học kinh nghiệm quí báu…
Trong chiều hướng đó, nét luân lý chính yếu của Dân Chúa, cũng là của Thiên Chúa như Ngài tỏ mình ra trong lịch sử cứu độ, chính là sự “trung tín”.
Thiên Chúa từng bước dấn thân vào lịch sử bằng những lời hứa và bằng những kỳ công. Ngài cũng thể hiện một đức tính để bảo đảm cho dân, đó là sự trung tín. Đối lại, Dân Chúa luôn được nhắc nhở về lòng trung tín với Chúa, chống lại tội “ngoại tình” do tôn thờ các thần ngoại hoặc xử lý các sự kiện theo lẽ khôn ngoan thế gian, hoặc dựa vào sức mạnh của các dân tộc khác qua những liên minh quân sự.
Như thế, lịch sử cứu độ vốn là lịch sử của đời sống thật; đồng thời cũng là lịch sử luôn dính dáng tới nhiệm cục cứu độ của Chúa. Sống đời thường trong mối tương quan với Chúa, điều đó làm nên một thái độ tôn giáo. Lịch sử của Dân không còn là một lịch sử thuần túy trần thế nữa, vì Thiên Chúa có can dự vào. Khi ấy, trước hết, chính việc “làm chung” giữa Chúa và Dân đã làm nên một lịch sử thánh rồi; sau đó, qua những mục tiêu nhỏ nhoi mà con người nhằm đến, Thiên Chúa lại dẫn dắt lịch sử đến mục tiêu lớn hơn, trọn vẹn hơn, đáp ứng một cách tuyệt hảo hơn khát vọng của con người, và lịch sử ấy dẫn đưa đến ơn cứu độ trọn vẹn, vượt qua những dự tính của con người. Tất cả những điều ấy chính là tác động của “Lời Chúa”.
3. Sự tiến triển từ Cượu Ước đến Tân Ước
Nét cơ bản của đạo giao ước vẫn là trung tín; là thái độ sống với, tạo nên một đời sống có kỷ niệm. Tuy nhiên có một sự khác biệt căn bản giữa Cựu ước và Tân ước. Trong khi Cượu Ước là Lời Thiên Chúa nói chung với Dân qua một vài ngôn sứ, thì Tân Ước lại chính là sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa trong Đức Giêsu và mọi Kitô hữu đều được lãnh nhận Thần Khí để trở thành ngôn sứ của Chúa. Như thế, trong Cựu ước, thái độ trung tín với Thiên Chúa được thể hiện qua việc tuân giữ lề luật cách trung thành và “kỹ càng” [x. Lc 1,6]. Còn trong Tân Ước, thái độ trung tín lại là lắng nghe và thi hành Thánh ý của Thiên Chúa trong chính cuộc đời mình; đó là thái độ đáp trả lời đề nghị của Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô. Lòng trung tín này không chỉ dừng lại ở các chỉ thị của lề luật mà thôi, nhưng còn thôi thúc, mời gọi người tín hữu kết hợp với Đức Giêsu, đi vào một cuộc phiêu lưu của niềm tin trong cuộc sống hằng ngày. Niềm tin Tân Ước không phải chỉ là tuân thủ lề luật như một qui luật cứng nhắc, đã định hình như một khuôn mẫu bất di bất dịch, mà là, nhờ Thánh Thần, nhận ra lời đề nghị cụ thể của Thiên Chúa ngay trong hoàn cảnh riêng của mình, là lời mời gọi đi vào nhiệm cục cứu độ; và đây lại chính là một cách hoàn trọn lề luật “từng chấm từng phẩy”.
Trong ý nghĩa ấy, chúng ta thấy hai nhân vật tiêu biểu của thời đại Tân Ước đã thực sự thể hiện một “thần khí mới” trong nhiệm cục mới. Đức Maria nói lời “Xin Vâng” không phải với lề luật, nhưng với lời đề nghị phiêu lưu vào nhiệm cục của Chúa. Cũng thế, thánh Giuse, một con người mộc mạc và bình dị, đã thể hiện sự công chính mới trong cung cách mau mắn “làm như lời sứ thần Chúa dạy [Mt 1,24;2,14;2.21].
Một cách nào đó, sự công chính cũ giống như một người độc thân, hoặc người chờ đợi kết hôn; họ bận tâm sống cuộc đời mình theo một thời khóa biểu, một nếp sinh hoạt quen thuộc, gương mẫu, tốt lành. Thái độ chính yếu là sống liêm chính để “hoàn thiện bản thân” và để chứng tỏ lòng trung tín với một Thiên Chúa còn “ở xa”.
Trong tình trạng công chính mới, người ta sống với Chúa như người “có đôi bạn”, có thể bàn hỏi, trao đổi, biết được ý muốn của nhau. Thái độ chính yếu là chấp nhận ý muốn của nhau. Như thế, lịch sử ơn cứu độ trong nhiệm cục Tân ước có liên hệ với những vấn đề “cá nhân” của mội ngôi vị con người.
4. Những thái độ căn bản của Kitô hữu
4.1 Đón nhận Lời Chúa như “lời ngỏ”
Có lẽ trong Giáo hội Công giáo có một sự úy Kỵ với quan niệm “tự do thể hiện niềm xác tín riêng của mình nơi Kinh Thánh” của anh em Tin Lành (Libre examen de l’ Ecriture. Theo quan niệm này, người tín hữu, khi đọc Lời Chúa, nhận ra điều gì Chúa soi sáng, thì có thể thi hành điều đó, cho dù điều ấy có trái với giáo huấn truyền thống). Đối với Giáo Hội Công Giáo, quyền giải thích chính xác Lời Chúa thuộc về Huấn quyền của Giáo Hội. Điều đó là cần thiết, nhưng nó cũng làm cho Lời Chúa mất đi, ít nhiều, tính chất lời ngỏ và là lời ngỏ cụ thể của Chúa đối với mỗi con người. Dù rằng Giáo Hội vẫn luôn khẳng định tính chất “lời ngỏ” của sứ điệp Lời Chúa, đặc biệt là trong phụng vụ, nhưng người Kitô hữu Công giáo vẫn vẫn thường nghe Lời chúa qua trung gian các bài giảng, qua trung gian của tầng lớp giáo sĩ. Điều đó dễ biến Lời Chúa trở nên một kiến thức; và người Kitô hữu Công giáo thường sống Lời Chúa như thể hiện một bài học luân lý mà thôi.
Muốn sống đúng ý nghĩa Lời Chúa, cần phục hồi hoặc gia tăng ý thức đón nhận lời Chúa như một lời ngỏ, lời ngỏ đầy thân thương của Chúa với mỗi con người, trong hòan cảnh riêng biệt của mình.
Muốn thể hiện ý nghĩa công chính mới, có lẽ, cũng cần một thái độ “mở”, thái độ khiêm tốn để có thể học hỏi đuợc những bài học từ cuộc sống, từ tha nhân và từ Chúa.
4.2 Dấn thân vào tương quan
Đường lối của Thiên Chúa, qua tinh thần Sê-mít, là đường lối gặp gỡ cụ thể, đó là thái độ “sống với và cùng làm”. Người Kitô hữu có lẽ cũng chỉ có thể thực sự đi vào mối tương quan ấy khi có khả năng dấn thân vào một tương quan, dám thử một quan hệ: dâng hiến một công việc cụ thể của mình; bàn bạc và sẵn sàng với Thánh Chúa trong một công việc phải giải quyết…; dám chấp nhận phiêu lưu khi vâng theo Thánh ý Chúa trong bài toán đời mình. Chính đức Giêsu đã dám thay đổi chương trình [Xc. Ga 2,1-12], bởi vì Ngài không sống với một kế hoạch vô ngã, nhưng với con người đầy huyền nhiệm. Ngài cũng đi vào cuộc phiêu lưu cùng với con người. Chính trong cuộc phiêu lưu này, Thiên Chúa quyền năng thể hiện nhiệm cục cứu độ của Ngài một cách sáng tạo và nhạy bén, chứ không phải một sự áp đặt khăng khăng theo một chương trình sẵn có.
4.3 Khám phá ý nghĩa siêu nhiên
Lời Chúa giúp người Kitô hữu đón nhận các biến cố trong một “ý nghĩa siêu nhiên”. Chính trong cuộc đối thoại thân tình và thông thoáng với Thiên Chúa, con người tìm được khả năng hình thành cho mình những ý nghĩa và ý nghĩa ấy có thể làm thay đổi bản chất của các biến cố.
Như thế, cuộc đời không còn là những sự kiện thô, những tương tác của cuộc sống không còn chiếm quyền quyết định trên con người, quy luật tự nhiên không còn là yếu tố quyết định vận mạng con người, nhưng chính là đức Tin. Đức Tin hàm chứa khả năng phả một lối nhìn siêu nhiên bao trùm trên các sự kiện trần thế và qui hướng chúng vào vận mệnh siêu nhiên của con người. Cuộc đời và mọi qui luật cuộc đời chỉ còn là môi trường, trở thành chất liệu cho mối tuơng quan giữa người tín hữu với lời ngỏ của Thiên Chúa. Một đời sống đức Tin sâu xa cũng là đời sống có khả năng thiết lập một tầng ý nghĩa siêu nhiên như nền tảng của cuộc sống hằng ngày.
4.4 Bề dày nghĩa tình
Cuộc sống con người là một lịch sử, và cuộc sống với Chúa cũng chính là một lịch sử ơn cứu độ. Lịch sử luôn luôn được kết dệt nên từ những tình huống cụ thể, những tâm tình sống thực chứ không phải chỉ là những lý thuyết chỉ có trong lý trí. Một đời sống tâm linh đích thực chính là một bề dày nghĩa tình. Đời sống đức tin sẽ chẳng là gì nếu không có những kỷ niệm với Chúa trên hành trình sống đời giao ước. Một đức Tin như thế phải là một đức Tin biến lịch sử đời mình thành lịch sử ơn cứu độ, nghĩa là lịch sử của mối tương quan với Chúa trong việc tìm những giải pháp cho cuộc sống trần gian.
Kết
Lịch sử cứu độ trước tiên, chính là lịch sử con người. ChínhThiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử của con người, và sự đau bệnh ấy làm nên lịch sử cứu độ. Do đó, tính trần thế vẫn luôn có trong lịch sử ơn cứu độ, và cũng luôn có trong Lời mạc khải của Thiên Chúa. Thiên Chúa không giáng mạc khải của Ngài từ trên trời xuống như một sự kiện nguyên thường, đầy đủ ý nghĩa và không cần bất cứ một thực tại trần gian nào; nhưng Thiên Chúa tỏ bày ý định của Ngài cho Dân để đề nghị một cách giải quyết cho một vấn đề cụ thể. Mặc khải của Thiên Chúa không dựa trên nền tảng là một nhân loại lý tưởng, một xã hội lý tưởng nào đó; nhưng được kết dệt nên từ những chuyện cụ thể, với những con người cụ thể,trong những hoàn cảnh lịch sử đôi khi có phần mang rợ nữa (Xc. Nguyễn Thế Thuấn, Kinh Thánh Tân cựu Ước, nxb Hồ Chí Minh 1999, phần Tiểu Dẫn vào Cưụ Ước, trang XXII).
Khi thực hiện ơn cứu độ cho con người, Thiên Chúa đã không dễ dãi dùng quyền bính của của mình giải quyết mau lẹ một vấn đề; Thiên Chúa không độc đoán để can thiệp vào tự do và cả những lỗi lầm của con người. Điều Thiên Chúa Kitô giáo thực hiện chính là dùng “Lời của Ngài” để tác động, dẫn dắt và làm cho lịch sử trần thế của con người trở thành lịch sử của ơn cứu độ, trong đó có những điều Chúa nói và những việc Chúa làm; và trong đó, dĩ nhiên, có cuộc sống thật cũng như có quyết định tự do của con người. Mặc dù Thiên Chúa là Đấng nhân lành và không bao giờ làm điều chống lại quyền lợi căn bản của con người, nhưng Ngài cũng không làm điều gì cách đơn độc, một chiều từ phía Thiên Chúa mà thôi, nhất là trong nhiệm cục Tân Ước.
Một anh thanh niên tốt nghiệp phổ thông và suy tính mãi về việc chọn trường để ghi danh thi đại học. Anh muốn thi vào đại học Sư Phạm để trở thành một nhà giáo.
Tuy nhiên,sau khi bàn tính với gia đình, anh quyết định chọn đại học Nông Lâm để có thể đóng góp cho gia đình và bà con trong làng mà phần lớn vẫn làm nghề nông .
Anh thi đậu, và điều đó mang lại niềm vui cho cả nhà cũng như cả những người trong làng. Việc chọn lực của anh là liên quan đến công việc chung và thành công của anh cũng là thành công của mọi người tronh nhà.