GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 9

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Ân sủng là một vấn đề căn bản của thần học, vấn đề mà nội dung của nó có thể gồm gói toàn bộ mầu nhiệm cứu độ cũng như liên can đến toàn bộ đời sống đức Tin Kitô giáo. Chúng ta cùng đọc lại bản văn trang trọng điễn tả mầu nhiệm ân sủng cứu độ trong thư Ephêsô: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ tình thương của người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử, nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu. Trong Thánh Tử, nhờ máu của Thánh Tử đổ ra, chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người. Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu” [Ep I, 3-8; xin đọc tiếp 1,9-14]

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Bài 6.1 NHIỆM CỤC ÂN SỦNG

1. Cách thức tiếp cận vấn đề ân sủng

Ân sủng là một vấn đề căn bản của thần học, vấn đề mà nội dung của nó có thể gồm gói toàn bộ mầu nhiệm cứu độ cũng như liên can đến toàn bộ đời sống đức Tin Kitô giáo. Chúng ta cùng đọc lại bản văn trang trọng điễn tả mầu nhiệm ân sủng cứu độ trong thư Ephêsô:

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ tình thương của người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử, nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu. Trong Thánh Tử, nhờ máu của Thánh Tử đổ ra, chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người. Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu” [Ep I, 3-8; xin đọc tiếp 1,9-14]

Tân Ước dùng từ ngữ ân sủng để chỉ một “chế độ mới”, chế độ ân sủng do Chúa Kitô thiết lập để đối lập với nhiệm cục cũ, nhiệm cục bị chi phối do luật:

“Quả thế, Lề luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” [Ga 1,17]

“Tội lỗi sẽ không còn quyền chi đối với anh em nữa, vì anh em không còn lệ thuộc vào Lề luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng” [Rm 6,14t].

''Sứ vụ chính yếu của Giáo Hội cũng không là gì khác hơn việc”.. .. long trọng làm chứng cho Tin Mừng về Ân sủng của Thiên Chúa” [CVTĐ 20,24].

Cũng như vấn đề ơn cứu độ; cách thức người Kitô hữu hiểu về ân sủng cũng trở thành nguyên lý chi phối phần lớn những biểu hiện của đời sống Đức Tin Kitô giáo. Domenico Marafioti nói:

“… một quan niệm đúng hoặc sai về ân sủng, không phải là không có tầm ảnh huởng quan trọng lớn đối với đời sống Kitô, cũng như đối với quyết định tin hay không tin. Quả thật, ạn sủng minh định cho thấy mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người: thay đổi cán cân quân bình trong cách nhận thức và diễn đạt mối liên hệ ấy bằng cách nhấn mạnh quá mức tới một điểm nào đó, là có thể gây ra xáo trộn nguy hại, tựa tấm gương soi méo mó, làm cho hình ảnh của phẩm giá con người biến mất đi và làm cho những nét đặc thù của bản tính Thiên Chúa cũng bị nhạt phai không nhìn thấy được nữa. Và lúc đó, gây cho được niềm tin là chuyện cực kỳ khó khăn” (Domenico Marafioti, Ân sủng, Mồi Liên hệ Tình thương giữa Thiên Chúa và Con người, Hợp Tuyển Thần Học IV, tr.29-30.)

Ở đây, chúng ta không đi sâu vào những khía cạnh chuyên môn của thần học, nhưng chỉ lưu tâm đặc biệt đến những vấn đề có nhiều hệ quả mục vụ quan trọng, nhất là vấn đề gặp gỡ Thiên Chúa.

2. Những khía cạnh của Ân sủng

2.1 Ân sủng là chính Thiên Chúa

Như chúng ta đã nói, trong truyền thống văn hóa Sê-mít, việc gặp gỡ cụ thể là yếu tố căn bản để làm thay đổi con người. Nếu mạc khải là việc Thiên Chúa tỏ bày chính Ngài cho con người, thì cũng thế, ân sủng một cách chính yếu và luôn luôn là việc Thiên Chúa thông ban chính Ngài, thông ban Thánh Thần của Ngài cho con người; đây thực sự là một cuộc “gặp gỡ”. Ân sủng không phải là một bản thể vô hình nào đó, không phải là một năng lực nào đó có tính cách thần linh mà tình yêu Thiên Chúa chỉ là nguyên nhân. (X. Otto Hermann Pesch, trong đề mục Grâce, Dictionaire de Théologie, sous la direction de Peter Eicher, p.277].

“Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà người ban cho chúng ta” [Rm 5,5].

Hoặc cụ thể hơn, ân sủng chính là chính Đức Giêsu Kitô chịu chết và Phục sinh vì yêu thương chúng ta. Đối với người Kitô hữu, Ân sủng của Thiên Chúa đã nhận lấy tên, đã hóa nên con người cụ thể, đã đến với chúng ta trong chính con người và trong công việc của Đức Giêsu Kitô:

“Bẩm sinh chúng tôi là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa như những người khác. Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ! [Ep 2,3-5].

2.2 Ân huệ tặng-không

Truyền thống Do Thái – Kitô giáo khẳng định những điều tốt lành nhất và có tính quyết định nhất luôn đến từ Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa có sáng kiến đến với con người và ban tặng những ân huệ quí báu của Ngài cho con người (Otto Hermann Pesch thử định nghĩa về ân sủng như sau: “Ân sủng là một ơn ban tặng không, “bất ngờ” [inattendu], bất khả quan niệm của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, một ân ban mang lại cho con người ơn cứu độ bằng cách làm cho con người tham dự và sự sống thần linh, làm cho con người khám phá ra sự chống cuỡng đối với Thiên Chúa như là một cách giam hãm trong chính mình, và ân sủng chiến thắng sự chống cưỡng này bằng cách giải phóng con người”. Ibid.227).

“Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” [1 Ga 4,10].

Do đó, ân sủng là chuyển động từ Thiên Chúa đến với con người. Ân sủng không xuất phát từ năng lực hay lòng đạo đức của con người, nhưng chính là ân huệ tặng không của chính Thiên Chúa. Chống lại thái độ của những người biệt phái muốn khẳng định sự công chính của mình dựa vào việc tuân giữ lề luật, Chúa Giêsu cho thấy chính người tội nhân khiêm tốn trước Thiên Chúa đã đón nhận được ơn tha thứ [Xc. Lc 18, 9-14]. Thánh Phaolô khẳng định, nhờ ân sủng mà con người được cứu độ:

“Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện. Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta” [Ep 2, 8-10; Xc, 2,5]

2.3 Một cuộc gặp gỡ có khả năng biến đổi con người

Việc đón nhận ân huệ của Thiên Chúa, hay đúng hơn là việc gặp gỡ với chính Ngài, tạo nên những hiệu quả nơi người lãnh nhận. Như tất cả những cuộc gặp gỡ đích thực khác, cuộc gặp gỡ này thực sự tạo nên một sự biến đổi sâu xa, nơi con người.

“Lề luật đã xen vào, để cho sự sa ngã lan tràn; nhưng ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó, ân sủng càng chứa chan gấp bội. Như vậy, nếu tội lỗi đã thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, thì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính, được sống đời đời, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” [Rm 5, 20-21]

Đón nhận ân sủng của Thiên Chúa chính là sống với Chúa, và ân sủng có sức tác động làm thay đổi toàn diện con người. Từ Công đồng Trente, thần học quen sử dụng những khái niệm diễn tả sự biến đổi nài là :”công chính hóa” hay là “thánh sủng”, và một số những ân sủng khác cần thiết cho những hoàn cảnh riêng của mỗi con người.

2.4 Tham dự vào đời sống Thiên Chúa

Tuy nhiên tác động biến đổi của ân sủng không phải là thêm một sự vật nào, cũng không phải chỉ là sự thanh tẩy hoặc trang điểm thêm cho tạo vật. Mục tiêu cũng như hiệu quả của việc Thiên Chúa ban ân sủng chính là để đón nhận con người vào trong cộng đồng sự sống ngôi vị của Ba Ngôi Thiên Chúa. Ân sủng Thiên Chúa làm cho con người được “thần hóa” hay được “nghĩa tử hóa” để thông chia phần “thừa tự” của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

“Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử, nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu”. [Ep 1, 5-6; Xc. Rm 8, 15-16; Gt 4,6].

3. Vài vấn đề tranh luận

Từ một vài dữ kiện căn bản như trên, chúng ta dừng lại ở hai vấn đề chính, những vấn đề có nhiều ảnh hưởng trên đời sống đức Tin:

3.1 Ân sủng thụ tạo và ân sủng bất thụ tạo (Theo lối phân biệt truyền thống trong Giáo Hội :”Ân sủng bất thụ tạo” nghĩa là chính Chúa; “ân sủng thụ tạo” là những hệ quả từ “Ân sủng bất thụ tạo”, nghĩa là những biến đổi nơi con người)

Điển ngữ Thần Học Thánh Kinh cho ta những ý nghĩa căn bản của từ Ân sủng như sau:

“Ân sủng, chính là ân huệ của Thiên Chúa, chứa đựng tất cả mọi ân huệ khác, là ân huệ của Con Ngài [Rm 8,32], nhưng nó không chỉ là đối tượng của ân huệ này mà thôi. Đó là ân huệ tỏa rạng từ lòng quảng đại của người cho và nhờ chính lòng quảng đại này bao bọc lấy tạo vật đón nhận ân huệ, Thiên Chúa trao ban qua ân sủng, và người nào đón nhận ân huệ của Ngài thì được ân nghĩa và làm đẹp lòng Ngài.

Bằng một sự trùng hợp đầy ý nghĩa, từ ngữ chỉ Ân sủng trong tiếng Hy bá và Hy lạp, dịch sang La ngữ: gratia, cả hai vừa chỉ nguồn gốc của ân huệ nơi người cho, vừa chỉ hiệu quả của nó nơi người nhận. Đó là vì ân huệ tối cao của Thiên Chúa không hoàn toàn xa lạ với những trao đổi mà con người dùng để liên kết cùng nhau, và vì giữa Ngài với chúng ta có những mối liên hệ có thể biểu lộ hình ảnh Ngài nơi chúng ta.

Trong chữ Hy bá “hén” trước tiên chỉ lòng ưu ái, lòng hảo tâm nhưng-không của một nhân vật cao cấp; kế đó chỉ bằng chứng cụ thể của lòng ưu ái được bày tỏ bởi người-cho và làm ơn, và được đón nhận bởi kẻ-nhận và được ơn. Từ ngữ còn chỉ vẻ duyên dáng thu hút đôi mắt và lưu giữ lòng ưu ái thì tiếng Hy Lạp “kháris”, gần như ngược lại, trước hết chỉ sự quyến rũ rạng rỡ của sắc đẹp, rồi đến sự tỏa rạng bên trong của lòng tốt, và còn nói lên những ân huệ làm chứng cho lòng quảng đại đó”. (Xc. Diển ngữ Thần học Thánh Kinh, Giáo Hoàng Học Viện Pio X, Đà Lạt, Việt Nam, 1973; mục Ân sủng).

Cách chung, ân sủng luôn bao hàm hai khía cạnh chính yếu: “lòng hảo tâm nơi Thiên Chúa” và “sự biến đổi nơi con người”. Đôi lúc, trong những hoàn cảnh cá biệt, Kinh Thánh hoặc lịch sử có thể nhấn mạnh đến một khía cạnh nào; nhưng tự căn bản hai khía cạnh ấy vẫn luôn gồm gói, luôn gắn liền với nhau. Trong hai khía cạnh ấy, Kinh Thánh luôn cho thấy ý nghĩa căn bản của ân sủng là chính “Lòng Hảo Tâm” tức là chính Chúa, chính Thánh Thần của Chúa hay chính Tình Thương nơi Thiên Chúa.

Thánh Phaolô cũng trình bày ân sủng, trước tiên như là lòng nhân hậu nơi Thiên Chúa, Ngài ban cho chúng ta chính Con Một của Ngài. Tuy nhiên, Phaolô cũng còn trình bày nhiều về những hệ quả của ân sủng nơi con người, ân sủng làm cho con người được thanh tẩy, đổi mới, nên công chính, được giải án tuyên công.

“Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” [Tr 2, 11].

Không ra ngoài đường hướng ấy, từ ban đầu, các giáo phụ, nhất là các giáo phụ Hy lạp luôn nhấn mạnh đến ý nghĩa căn bản của “ân sủng bất thụ tạo”. Theo các giáo phụ, Ân sủng mà con người lãnh nhận, một cách chính yếu, không phải là một phẩm chất thụ tạo, một hiệu quả, một sự may lành nào đó, nhưng là chính Ngôi vị Thiên Chúa đến với con người.

Origène nói tới sự hiện diện của Thần Khí; Clément thành Alexandria là người đầu tiên dùng từ “thần hóa”; thánh Irénée nói tới ơn cứu độ như là sự “qui tụ muôn loài” nơi Đức Kitô; Cyrille thành Alexandria cho rằng ý nghĩa cuối cùng của việc nhập thể là để thông ban ơn nghĩa tử cho nhân loại; Thánh Athanasio quen dùng công thức “Thiên Chúa làm người để con người trở nên Thiên Chúa” [Oratio de Incarnatione, 54]; và vào cuối thời các giáo phụ, Jean Damascène nói: “Điều mà Đức Kitô là, do bản tính, thì chúng ta được trở nhờ ân sủng“ [De fide orth., IV,8]. Origène viết những lời đầy tính chất thần bí như sau:

“Tôi biết thế nào là một linh hồn có Chúa ngự và thế nào là một linh hồn vắng bóng Chúa. Nếu linh hồn không có Thiên Chúa, nếu nó không có Chúa Kitô, Đấng đã nói:” Ta và Cha ta, chúng ta sẽ tới với nó và sẽ ngự nơi nó”, nếu linh hồn không có Chúa Thánh Thần, nó sẽ hoang vắng. Nó có “người” ở, nếu nó tràn đầy Thiên Chúa, nếu nó có Chúa Kitô, nếu Chúa thánh Thần ở trong nó” [Origène] (Những trích dẫn tư tưởng của các giáo phụ trên đây được trích lại trong giáo trình Mầu Nhiệm Ân Sủng, Lớp Bồi Dưỡng Phaolô Nguyễn Văn Bình, niên học 1999-2000, trang 19; không đề tác giả.).

Tuy nhiên, khi đối diện với bè rối Pélage, vấn đề trở nên phức tạp. Bè rối Pélage chủ trương tội nguyên tổ không phá hủy tự do và không làm hư hỏng con người mà chỉ là một vật cản trở. Do đó, họ cho rằng con người có thể, bằng nỗ lực của mình, đạt đến một đời sống công chính mà không cần tới ân sủng của Chúa. Chống lại quan điểm này, các giáo phụ tìm cách xác định tầm quan trọng của ân sủng và khẳng định không ai có thể nên công chính mà không cần đến ân sủng của Thiên Chúa.

Trong cuộc tranh luận với Pélage, để cụ thể hóa những khía cạnh cần thiết của ân sủng, các nhà thần học bắt đầu chi tiết hóa những loại ân sủng khác nhau. Thánh Âu Tinh, các môn sinh của Âu Tinh, nhất là Tertulien, một người vốn quan tâm đến những đòi buộc gắt gao của đời sống đức tin, tìm cách xác định các loại ân sủng. Thêm nữa, vào thế kỷ XVI, để chốn glại Luther với chủ trương ân sủng tác động ngoại tại [con người chỉ được Thiên Chúa kể như là công chính], vấn đề lớn của khoa thần học ân sủng tập trung vào vấn đề ơn công chính hóa [ân sủng thụ tạo]…

Hậu quả của các cuộc tranh luận này là việc phân biệt nhiều loại ân sủng khác nhau; cách thức tác động cũng như sự cần thiết khác nhau của các loại ân sủng ấy. Lối nhìn như thế đương nhiên tập trung vào khía cạnh tác động của ân sủng nơi con người nhiều hơn là chính lòng hảo tâm của Chúa. Tuy rằng bao giờ Giáo huấn của Giáo Hội cũng khẳng định rằn gơn sủng thụ tạo không tách khỏi ân sủng bất thụ tạo (Ta có thể kể vài văn kiện như: Đức Lêo XIII, trong thông điệp Divinum Illus Unus [1897] nói: “Việc kết hợp kỳ diệu gọi là lưu ngụ, so với việc kết hợp trong đó Thiên Chúa ôm vào lòng các kẻ được tuyển chọn cho họ được phước lộc, chỉ khác ở trạng thái”. Đức Pio XII, trong thông điệp Dominus et Vivificantem [1986] viết: “Người ta nói các Ngôi Vị Thiên Chúa ở trong chúng ta vì các Ngài hiện diện cách nhiệm mầu trong các thụ tạo có sự sống, có trí khôn, các Ngài để cho chúng biết và yêu mến các Ngài, nhưng một cách vượt quá tự nhiên và hoàn toàn thâm sâu và duy nhất”. Trích lại trong giáo trình Mầu Nhiệm Ân Sủng, tác giả?, Lớp Bồi Duỡng Phaolô Nguyễn Văn Bình, trang 46. Đức Gioan Phaolô II, trong Thông điệp về Chúa Thánh Thần “Chúa và Nguồn Sinh Khí” viết: “Giáo Hội, ngay từ đầu, đã tuyên xưng lòng tin vào Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống, Đấng mà qua Ngài, Thiên Chúa huyền nhiệm, duy nhất và Ba Ngôi, thông ban chính mình Ngài cho loài người, thiết lập nơi họ mạch sống đời đời” [số 1].), nhưng thực tế, hầu hết những quan tâm thần học đều chỉ lưu ý đến ơn thánh hóa hay ơn công chính hóa nơi con người, tức là “ân sủng thụ tạo”.

Tóm lại, các giáo phụ thường chú trọng đến ơn sủng bất thụ tạo” là Thánh Thần Thiên Chúa; vì chúng ta được nhận lãnh Thánh thần nên chúng ta được thánh hóa. Trái lại, các nhà thần học kinh viện lại chú trọng đến “ân sủng thụ tạo” nhiều hơn; nghĩa là chính vì chúng ta được “thánh sủng” nên chúng ta nhận được Thánh Thần.

Quả thật, vấn đề vẫn còn hết sức phức tạp; chẳng hạn những cuộc “tái khám phá” ý nghĩa căn bản của “ân sủng bất thụ tạo” ở những thập niên 40 đến thập niên 60 của thế kỷ XX, gặp phải những khó khăn không dễ giải gỡ khi so chiếu với những đoạn văn khác-truyền-thống trong Kinh Thánh hoặc những điểm giáo lý căn bản của Hội Thánh (Xc. Dictionaire de Théologie, sous la direction de Peter Eicher, Les Editions du Cert, Paris 1988, mục “grâce”, tr. 281).

3.2 Tác động của Ân sủng (Phần này dựa theo những suy tư của Domenico Marafioti, sđd, tr. 28-45).

Kể từ những cuộc tranh luận với Pélage, nền thần học tây phương không thể bỏ qua vấn đề về mối tương quan giữa Ân sủng và Tự do. Một đàng, suy tư thần học không thể làm tổn thương tự do của con người. Làm tiêu tan sự tự do của con người, thì tất cả nhiệm cục cứu độ, tất cả lý do hiện hữu của niềm tin cũng tiêu tan. Đàng khác, suy tư thần học cũng luôn luôn khẳng định quyền năng của Thiên Chúa, Đấng có thể làm được mọi sự theo ý muốn của Ngài.

Để chống lại thuyết Pélage muốn chối bỏ tầm quan trọng thiết yếu của ân sủng, thần học công giáo, tứ thánh Au Tinh và nhất là những môn đệ của Ngài, lại đẩy xa những tác động của ân sủng đến độ không thể nào hiểu được tự do của con người là thế nào nữa. Truyền thống thần học quảng diễn ân sủng thế nào đó khiến cho người ta có cảm tưởng con người bị cầm giữ trong tình trạng luôn luôn chịu lệ thuộc vào ý thích độc đoán và thất thường của Thiên Chúa, hoặc luôn ở trong một tư thế hèn mạt, nô lệ trước một Thiên Chúa “phân bì” với quyền độc lập của con người.

Thật ra chúng ta cũng có thể nói rằng một cách trình bày Thiên Chúa cần con người làm nô lệ, đòi con người phải hèn mạt, cũng là một cách hạ giá Thiên Chúa. Tư tưởng nhân bản có quyền để không thể chấp nhận một niềm tin làm cho con người như thể khoán trắng vận mạng đời mình cho một mình Thiên Chúa. Trong khi đó, Kinh Thánh khẳng định với chúng ta chính ân sủng của Thiên Chúa làm cho con người được tự do:

“Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta”[Gl 5,1]

Tác giả Domenico Marafioti cho rằng hai lối nhìn truyền thống, một đằng giải thích tác động của ân sủng theo kiểu vật lý, và một đàng mặt mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người vào phạm trù xã hội học, cả hai đều không giải quyết được những khúc mắc trên đây.

Quan điểm thứ nhất cho rằng ân sủng tác động, thôi thúc từ bên ngoài, giống như một cú búng, để đưa con người tới chỗ không thể dùng sức riêng của mình. Tác động “vật lý” như thế giống như một sự can thiệp làm biến đổi tình trạng quán tính của sự vật.

Lối nhìn xã hội học lại dựa vào những tương quan trong xã hội con người; khi đó, để khẳng định thế ưu tiên của Thiên Chúa, người ta phải theo mẫu thức”biện chứng chủ nô” của Hégel, hoặc theo cách mô tả hiện tượng luận của Startre về “cái nhìn của tha nhân” mà rốt cục chỉ có thể đưa đến sự chinh phục của bên này đối với bên kia.

Như thế, không thể đặt mối tương quan giữa ân sủng và tự do trên bình diện tương tác vật lý và cũng không phải bình diện tổ chức quản trị. Tương quan chân chính giữa con người với con người là tương quan liên bản vị, trong đó mỗi bên vẫn là mình và càng trọn vẹn là mình hơn. Do đó, cần để ý đến cách thức diễn tả”liên chủ thể tính” của các mối tương quan ở tầm mức ngôi vị.

Trong cuộc tranh luận với Pélage, Âu tinh nói tới ba loại ân sủng:

-Ơn tạo dựng là ơn Thiên Chúa ban cho bản tính con người khi sáng tạo, nhất là ban cho con người có lý trí và ý chí;

- Ơn mạc khải, qua đó Thiên Chúa thông truyền chân lý và ban lề luật để dẫn dắt con người;

- Ơn cứu chuộc, tức là ơn nhờ đó con người được Đức Kitô dùng cuộc tử nạn và Phục Sinh mà cứu thoát.

Điều đặc biệt là Âu tinh nhân ra bản chất sự trợ lực của ơn cứu độ chính là tình thương; Ân sủng Thiên Chúa mang lại cho con người một khả năng mới để yêu thích và thực thi điều thiện; do đó, ân sủng là tình thương. Âu Tinh nhiều lần nhấn mạnh rằng Thiên Chúa hoạt động ngay”trong trái tim”con người, bằng cách “tuôn đổ tình yêu” vào trong đó; và kết quả là biến con người là những “người yêu mến”[dilectores] (những điều này được Au Tinh diễn tả đặc biệt trong cuốn De Spiritu et littera[Tinh Thần và Văn tự], Xc. D. Marafioti, sđd, trang 34-35; chú thích 4,5, 6,7).

Như thế Ân sủng chữa lành khả năng yêu thương, vốn có và đã trở nên yếu nhược do tội lỗi, trong con người. Tình thương giúp con người tìm lại được niềm”vui thú và yêu thích” khi làm việc thiện; làm cho con người trở nên chính mình, thể hiện được bản chất của mình như đã được Thiên Chúa sáng tạo. Tất cả những việc ấy cũng là công trình của Thánh Thần; An Sủng tình thương ấy cũng chính là Thánh Thần Thiên Chúa, thâm nhập và tác động trong tâm hồn con người:”Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh thần mà Người ban cho chúng ta”[Rm 5, 5]. Ân sủng xuất phát từ Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa yêu thương; đồng thời ân sủng thấm nhâp con người làm cho con người trở nên chính mình nhờ tình thương. Không có sự loại trừ hoặc thống trị ở đây, mà là một sự quyến rũ, “cầm giữ” và biến đổi bằng tình thương.

“Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu thương chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng, cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta“ [Rm 8, 37-39].

4. Vài suy tư mục vụ

4.1 Nguy cơ “sự vật hóa” An sủng

Khi quá để ý đến ân sủng thụ tạo, người ta rơi vào tình trạng “sự vật hóa” ân sủng; và khi tiếp xúc, không phải với một Thiên Chúa ngôi vị nhưng là “sự vật”, thái độ của con người, bình thường, rất dễ quay về với chính mình, đó là thái độ tính toán, hưởng thụ, tự mãn và thực dụng. Những ân sủng thụ tạo, tự bản chất không là gì nếu không gắn liền với ân sủng bất thụ tạo; cũng thế, những hồng ân muôn vẻ của Thiên Chúa, nếu không trở nên dấu chứng tỏ bày chính Chúa sẽ chỉ tạo nên những biến đổi tùy phụ, tạo nên một sự tăng trưởng giả tạo của đời sống tâm linh, một sự tăng trưởng mà nền tảng và điểm qui chiếu của nó vẫn chỉ là bản thân con người.

Mặt khác, điều tốt nhất mà Thiên chúa trao ban cho con người không thể là điều gì khác hơn chính bản thân Ngài; thì đối với con người, điều tốt nhất cho mình cũng không thể là gì khác hơn chính Thiên Chúa:

“Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” [Lc 11, 13]

4.2 Tạo nên một thế giới “thiêng liêng”

Việc phân chia ân sủng thành quá nhiều loại cũng dể dàng làm lu mờ tính cách duy nhất, sống động của chính Thiên Chúa. Những ân sủng thụ tạo đủ loại như thế làm nên một “thế giới những sự vật thiêng liêng” nằm giữa Thiên Chúa và con người. Thế giới thiêng liêng ấy, bởi vì không phải là một ngôi vị, thường có khuynh hướng được tiêu chuẩn hóa bằng những qui luật, bằng những xác định rõ ràng một lần cho xong. Phần còn lại là chính thái độ của con người, phần còn lại ấy, trong thực tế, bỗng dưng lại trở nên như yếu tố quan trọng nhất. Quả thật chúng ta nhận thấy bóng dáng tình trạng này trong cách sống đạo của người Kitô hữu.

Mặt khác, khi không gặp được Thiên Chúa trong mối tương quan ngôi vị, đời sống đạo dễ trở thành một quá trình thu góp, “đóng thuế” để làm giàu cho thế giới thiêng liêng ấy hơn là sự biến đổi thực sự của chính bản thân, nếu không muốn nói là còn làm nghèo đi chính phẩm giá bản thân con người.

4.3 Lối nhìn phi-lịch-sử

Đời sống con người là một lịch sử. Thiên Chúa can dự vào lịch sử ấy và làm cho lịch sử con người trở nên lịch sử cứu độ. Sự can dự của Thiên Chúa là một sự can dự hết mình, nghĩa là cùng chia sẻ và đảm nhận chính quá trình lịch sử con người chứ không phải chỉ là một sự trợ giúp “bên ngoài”. Tình thương của Thiên Chúa được tỏ bày trọn vẹn trong việc Thiên Chúa mạc khải chính mình, mạc khải chính trong lòng lịch sử, mạc khải chính mình qua một quá trình liên đới thực sự với phận người, mạc khải bằng con đường nhập thể làm người… Một ân sủng thụ tạo mà thôi, hoặc một cách tác động theo kiểu vật lý, kiểu tương quan quản trị xã hội mà thôi, chắc chắn không thể diễn tả được tính cách đặc biệt của ơn cứu độ như thế.

5. Nhìn lại vấn đề Ân sủng

Chỉ có mối tương quan ngôi vị chân chính, mối tương quan của sự chấp nhận, liên đới, hiệp thông chính bản vị của nhau mới có thể đáp ứng nhu cầu thâm sâu nhất của con người, và có khả năng làm cho con người tìm gặp được chính mình. Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, nhiệm cục ấy không thể bị giản lược, dưới bất cứ hình thức nào, trở thành mối tương quan phi-nhân-vị. Thiên Chúa tặng ban chính Ngài, món quà ấy không phải chỉ là thứ một hành trang, một sự bảo vệ, hay một sức mạnh bồi dưỡng, nhưng là chính Thiên Chúa đồng hành với con người trong hành trình lịch sử đời người.

Trong lịch sử, ân huệ ấy của Thiên Chúa thể hiện dưới hai hình thức:

- Ân huệ của Người Con đến trong xác thịt, cư ngụ trong thế giới và trong lịch sử của con người;

- Ân huệ của Thánh Thần đến trong Giáo Hội và trong tấm lòng con người của dẫn dắt việc đổi mới mọi sự.

Quả thật Ân sủng chính là Con Thiên Chúa, chứa đựng mọi ân huệ khác: “Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” [Rm 8, 32]; và Ân sủng là chính Thần Khí của Thiên Chúa ở trong con người:”Trong Đức Kitô, từ cõi trời Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” [Ep 1,3].

Sau hết, kết quả của ân sủng phải được nhìn trong viễn tượng hoàn tất cánh chung nhiều hơn là sự hoàn thiện, công chính của bản thân mỗi người, đó là viễn tượng con người đón nhận được trọn vẹn ơn “nghĩa tử hóa”. Lối nhìn này có nhiều cơ may diễn đạt chân chính thực tại Ân sủng, vì được kín múc trực tiếp từ Tin Mừng và có lẽ dễ dàng được con người tiếp nhận cách phong phú. Quả thật cách diễn tả này có thể đạt đến được nét tính chất cao cả ơn huệ Thiên Chúa nơi Người Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô:

“Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào : Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực chúng ta là con Thiên Chúa” [1 Ga 3,1].

Cách diễn tả ấy cũng cho thấy công trình cao cả nhất của Chúa Thánh thần, Ngài đổ xuống cho ta Thần Khí Nghĩa Tử của Đức Giêsu Kitô:

“Quả thật, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa huớng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em , anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó, chúng ta được kêu lên: Áp-ba! Cha ơi! Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” [Rm 8,14-18].

Đức Giêsu không chỉ ban cho chúng ta một tiêu chuẩn mới để phán đoán luân lý. Điều chính yếu trong luân lý Kitô giáo là nguyên lý cứu độ mới, nguyên lý có khả năng tạo nên sức sống mới cho hành trình đời người. Chính Ân sủng của Thiên Chúa, Ân sủng lựa chọn và kêu gọi chúng ta, đồng hành và liên đới với chúng ta trong hành trình lịch sử đời ta, Ân sủng ấy là nguyên lý cứu độ. Khi ấy, luân lý Kitô giáo thực sự thể hiện một sức sống mới, sức sống từ ơn cứu độ, một trợ lực cụ thể cho những người tội lỗi và bé mọn có thể vững bước trên đường đời, chứ không phải chỉ là nỗ lực đơn phương của con người.

Lý tưởng luân lý Kitô giáo không phải chỉ là điểm hoàn tất, không phải chỉ là một tiêu chuẩn khách quan, một khuôn mẫu “siêu hình”, nhưng tỏ hiện ngay trong hành trình bầm dập của con người, một hành trình có ân sủng của Chúa, một hành trình không thất vọng, dù không còn tiêu chuẩn thế gian nào để hy vọng.

“Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin…” [Rm 4,18].

Kết

Có một chú bé mồ côi lang thang giữa chợ, cầu xin lòng thương của bà con cô bác. Trước tình cảnh ấy, có nhiều phản ứng khác nhau:

- Có người la mắng vì lời ăn tiếng nói vô lễ của nó;

- Có người đưổi chú bé đi, vì sợ xui xẻo cho việc buôn bán;

- Có người tội nghiệp, bố thí cho chú bé vài đồng;

- Người khác lại tận tình dẫn chú bé đến trại mồ côi để cho chú có nơi ăn chốn ở;

- Nhưng có người kia lại muốn nhận chú bé làm con trong gia đình.

Chúng ta dễ để ý tới ranh giới thiện-ác giữa hai thái độ xấu [la mắng và xua đuổi] và những thái độ tốt. Thật ra, bình thường người ta có thể chuyển từ thái độ xấu sang thái độ thương hại một cách tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, “quãng cách” từ thái độ thương hại [tội nghiệp, giúp đỡ] đến thái độ yêu thương đích thực [nhận làm con] cũng là cả một sự khác biệt lớn, giống như quãng cách từ bình diện luân lý đến bình diện ân sủng.

Chúng ta có thể thấy giải pháp trọn vẹn cho đứa bé, giải pháp có khả năng giải quyết cuộc đời chứ không phải giải quyết tình huống, giải pháp ấy chỉ có thể là: ai đó có đủ lòng quảng đại để đón nhận nó làm con trong gia đình.

Phương cách của Thiên Chúa vượt xa suy tính của con người và Ngài muốn thể hiện ơn cứu độ ở mức độ trọn vẹn nhất: đón nhận con người làm con của Ngài trong Đức Giêsu Kitô. Phương cách này chỉ có thể thực hiện được trong bình diện ân sủng, bình diện Con Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta.

Xem tiếp phần 10