GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 8
Con người là một hữu thể có ngôi vị, khái niệm triết học này, theo lối trình bày của Kinh Viện (theo định nghĩa của Boèce[480-525], được triết học Kinh Viện sử dụng, ngôi vị là: bản thể cá thể thuộc bản tính có lý trí[rationali naturae invidua substantia]), nói lên được tính siêu việt của con người đối với vũ trụ. Thánh Thomas vẫn theo đường hướng ấy, nhưng nhấn mạnh tới khía cạnh tương quan bản thể và lập hữu nơi Thiên Chúa (X. S. T. 1,q. 29,a.4). Những cách nhìn như thế rất căn bản. Tuy nhiên, nền triết học nhân vị[personnalisme] lại nhìn ngôi vị con người một cách năng động và độc đáo, làm sáng tỏ được nét đẹp hiện sinh của mỗi con người, theo đó, ngôi vị là một cá thể tự thể hiện mình (j. Lacroix nói:” Ngôi vị không phải là một dữ kiện như là một nhiệm vụ phải làm”) như một tự do sáng tạo, hình thành nên một cấu trúc giá trị cho bản ngã của mình. Như thế, ngôi vị con người được mặc lấy xương thịt trong những lựa chọn có tính cách tự do. Trong khi cá thể chỉ là một mẫu vật của một chủng loại; mất cá thể này, ta có cá thể khác thay thế, miễn sao chủng loại được bảo đảm: thì ngôi vị lại là một ngôi vị độc đáo tuyệt đối, nghĩa là không ai khác, không một cá thể nào khác, dù cùng loại, có thể thay thế hoàn toàn được. Tính cách độc đáo riêng biệt này được hình thành là nhờ một cấu trúc giá trị mà mỗi người tự sáng tạo cho bản thân mình: tôi thích màu xanh vì nó làm cho tâm hồn con người dịu lại, tôi chọn nghề giáo vì đó là nghề đào tạo chính nhân cách con người; tôi là người Việt, tôi yêu tiếng nói véo von của người Việt…
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài 5.2 SỐNG Ý NGHĨA SIÊU NHIÊN
1.Từ nền tảng nhân bản
1.1 Ngôi vị con người
Con người là một hữu thể có ngôi vị, khái niệm triết học này, theo lối trình bày của Kinh Viện (theo định nghĩa của Boèce[480-525], được triết học Kinh Viện sử dụng, ngôi vị là: bản thể cá thể thuộc bản tính có lý trí[rationali naturae invidua substantia]), nói lên được tính siêu việt của con người đối với vũ trụ. Thánh Thomas vẫn theo đường hướng ấy, nhưng nhấn mạnh tới khía cạnh tương quan bản thể và lập hữu nơi Thiên Chúa (X. S. T. 1,q. 29,a.4). Những cách nhìn như thế rất căn bản. Tuy nhiên, nền triết học nhân vị[personnalisme] lại nhìn ngôi vị con người một cách năng động và độc đáo, làm sáng tỏ được nét đẹp hiện sinh của mỗi con người, theo đó, ngôi vị là một cá thể tự thể hiện mình (j. Lacroix nói:” Ngôi vị không phải là một dữ kiện như là một nhiệm vụ phải làm”) như một tự do sáng tạo, hình thành nên một cấu trúc giá trị cho bản ngã của mình. Như thế, ngôi vị con người được mặc lấy xương thịt trong những lựa chọn có tính cách tự do. Trong khi cá thể chỉ là một mẫu vật của một chủng loại; mất cá thể này, ta có cá thể khác thay thế, miễn sao chủng loại được bảo đảm: thì ngôi vị lại là một ngôi vị độc đáo tuyệt đối, nghĩa là không ai khác, không một cá thể nào khác, dù cùng loại, có thể thay thế hoàn toàn được. Tính cách độc đáo riêng biệt này được hình thành là nhờ một cấu trúc giá trị mà mỗi người tự sáng tạo cho bản thân mình: tôi thích màu xanh vì nó làm cho tâm hồn con người dịu lại, tôi chọn nghề giáo vì đó là nghề đào tạo chính nhân cách con người; tôi là người Việt, tôi yêu tiếng nói véo von của người Việt…
Khi không nhìn nhận cho đủ tính cách độc đáo như là nét căn bản của phẩm giá của con người, người ta sẽ dễ dàng đi đến chỗ đoàn lũ hóa con người, đoàn lũ hóa bằng những phong trào, những thi đua, những xếp hạng, những khen thưởng…; bộc lộ trong một cung cách đầy tính cách tuyên truyền [ba giảm, bốn quyết tâm, năm thi đua…]. Chính nền tư tưởng coi thường phẩm giá con người, coi con người chỉ như một sinh vật xã hội, nền tư tưởng ấy đã làm cho những giá trị nhân sinh không thâm nhập và gắn kết với ngôi vị chân chính của con người, mà chỉ tạo nên một lớp vỏ những giá trị thuần túy xã hội, thuần túy ngoại tại. Những giá trị này không có khả năng “giáo dục” thực sự mà chỉ đúc khuôn, nhào nặn con người trong một môi trường đầy tính phong trào của tập thể mà thôi.
Ngược lại, một thái độ tôn trọng phẩm giá và tự do của con người sẽ luôn luôn đưa ra những “lời gọi” (Những người theo chủ thuyết nhân vị lưu ý về sự kỳ diệu của từ “tiếng gọi” [appel] : kêu gọi ai tức là chỉ định họ bằng một tên gọi, đồng thời cũng chờ đợi nơi họ một câu trả lời làm nên chính hữu thể của người ấy.), những “đề nghị” và mong được đáp trả trong tự do. Những “lời gọi” này, một khi được đón nhận cách tự do chân chính, luôn bao gồm một chút sáng tạo, luôn bộc lộ một nét độc đáo, luôn là một sự gặp gỡ “bên trong”, là sự thông hiệp ở mức độ con người, thông hiệp giữa những giá trị chung của xã hội và ngôi vị độc đáo của mỗi con người. Với những giá trị chân thật, con người tìm được niềm vui và tự hào với chính mình; chứ không phải chỉ vui vì được tuyên dương trong một phong trào.
Như thế, ý nghĩa siêu hình của phẩm giá con người cũng được thể hiện một cách “có xương thịt” trong một cấu trúc giá trị riêng; vừa hòa hợp với tập thể, vừa độc đáo như một ngôi vị không có gì có thể thay thế được. Nói cách khác, ngôi vị con người chỉ thể hiện trọn vẹn phẩm chất của mình khi thể hiện được khả năng sáng tạo những giá trị riêng trong mối tương quan ngôi vị với người khác.
1.2 Thời đại khủng hoảng căn tính
Trước đây, mỗi người dân sống trong xã hội có thể tìm thấy ý nghĩa căn bản của cuộc đời mình trong một vai trò hay nghề nghiệp. Vai trò và nghề nghiệp ấy được xã hội công nhận và tôn trọng. Trong xã hội trước đây, ý nghĩa ấy tạo nên một giá trị căn bản về cái mình “là”. Khi đó, người ta cũng cho một chút tự hào về bản thân và có một thứ lương tâm nghề nghiệp. Ý nghĩa ấy giúp người ta xác định bản thân, tìm được giá trị con người, ý nghĩa cuộc đời, và có thể tìm thấy niềm vui trong cuộc sống.
Hiện nay, nền kinh tế thị trường và văn hóa tiêu thụ lôi cuốn con người vào vòng xoáy của đồng tiền. Việc có tiền và có nhiều tiền là tiêu chuẩn duy nhất để con người có được những thứ khác. Muốn thăng tiến bản thân phải có tiền, muốn cho con cái học hành nên người, muốn chơi ngang hàng với bạn bè, muốn được người khác kính trọng… Tất cả đều nhờ có tiền. Khi ấy, con người không còn thấy mình “là”, và là gì đi nữa cũng chẳng quan trọng bao nhiêu. Con người chỉ thấy mình “có”, và càng có nhiều thì ra như càng thành công trong vận mạng của mình. Tâm thức ấy ngấm ngầm phá hoại căn tính của đời người. Người ta không còn an vui được với bản thân mình, với ý nghĩa công việc của mình, với vị trí xã hội của mình, mà luôn lo lắng để có tiền và để được người khác chấp nhận. Khi ý nghĩa căn bản của đời sống con người bị phá hủy, tất cả những tô vẽ rườm rà, cồng kềnh bên ngoài, những danh hiệu, những chức vụ,… chỉ còn là cái xác không hồn, và cuộc sống lại càng dễ tạo nên nhiều căn bệnh khủng hoảng tâm lý.
Nói chung khủng hoảng căn tính là tình trạng con người không tìm thấy một ý nghĩa đích thực, giá trị tích cực và ý nghĩa làm nên nét đẹp của đời sống mình đang sống. Trong khi mà, trên bình diện sự kiện, cuộc sống càng ngày càng có nhiều khó khăn, thì trên bình diện ý nghĩa, tâm hồn con người càng ngày càng rỗng tuếch. Đó là một sự khủng hoảng căn bản của mọi thứ trục trặc khác trong đời sống hiện nay.
Ý nghĩa khủng hoảng này, chúng ta cũng thấy trong đời sống đức tin Kitô giáo, khi mà nhiều giới răn, nhiều nhân đức được trình bày như là thái độ “phải”, chứ không “được”, khi mà mọi giới luật và nhân đức đều đặt nền trên “nhân đức chịu vậy”. Phong cách đoàn lũ trong lề lối quản trị và giáo huấn của Giáo Hội không đụng đến được tầng sâu ý nghĩa của cá nhân con người. Nếu được tự do lựa chọn mà không có một sự sợ hãi, đe dọa nào, có lẽ khá nhiều Kitô hữu Việt Nam sẽ từ bỏ đức Tin [?].
Cũng thế, chúng ta thấy sự khủng hoảng tương tự trong đời sống tu trì, nhất là đối với giới trẻ. Những ý nghĩa quá trừu tượng, quá siêu vời không đủ sức nuôi tâm hồn người tu sĩ trong cuộc chiến đấu với những thách đố, những cám dỗ của cuộc sống thường ngày. Thái độ “gồng lên” để chu toàn những nghĩa vụ đầy công đức thiêng liêng nhưng không cảm nhận được trong như một nét đẹp khiến cho đời sống trở nên nặng nề, ì ạch.
2. Thái độ nhân bản của con người trước Thiên Chúa
Con người cần đón nhận Lời Chúa như một chủ thể có tất cả phẩm giá cao quí của Thiên Chúa ban cho. Do đó, thái độ của con người trong cuộc đối thoại với Thiên Chúa cần thể hiện được thái độ đón nhận lời Chúa như một lời ngỏ, đáp lại bằng sự tự do dấn thân đi vào tương quan với Chúa trong một cuộc phiêu lưu, một sự tự do từng ngày, từng bước, chứ không phải chỉ một lần thay cho tất cả…
2.1 Đức Tin như một lời mời gọi
“Đức Tin” là hồng ân Chúa ban, nhưng không phải là một sản phẩm “đúc sẵn” từ trên trời rơi xuống, như sản phẩm đồng loạt và bắt buộc con người phải tiếp nhận “nguyên si”. Đức Tin là tác động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn mỗi con người. Tác động thần linh ấy không cưỡng chế, nhưng hòa hợp với khát vọng tự nhiên của con người cũng như nâng đỡ hoàn cảnh riêng biệt của mỗi người. Đức tin không phải là một thực tại lù lù, cứng đọng, nhưng đúng hơn là cuộc đối thoại hiện sinh, là một lời gọi và thôi thúc thái độ tự do đáp trả của tâm hồn.
Như thế, đức Tin chính là sức sống của Thánh Thần, một Ngôi vị Thiên Chúa, Đấng có thể khơi dậy thái độ tự chủ và khả năng sáng tạo nơi con người. Đức Tin không một chút nào hạ giá con người, nhưng làm cho con người nên người hơn, nhờ sự tự do chọn lựa cách sáng suốt và trong mối tương quan thân tình.
2.2 Thái độ tự chủ
Đáp lời mời gọi của Thiên Chúa, con người cần thể hiện hồng ân được tự chủ mà Thiên Chúa đã ban cho một hữu thể có lý trí và tự do. Các chân lý đức Tin cũng như lời mời gọi của Thánh Ý Chúa đuợc trình bày cho con người như một lời mời gọi và chờ đợi nơi con người một thái độ đón nhận cách tự chủ.
Với thái độ tự chủ, con người đón nhận mạc khải không phải như một cái máy, không phải như một đứa trẻ học thuộc lòng để trả bài, không phải như một sự ép buộc, cưỡng chế trí khôn, nhưng như một sự ưng nhận tự do và tự chủ, cho dù có những điều và những lúc người ta không thấu hiểu được huyền nhiệm của Thiên Chúa. Chỉ với thái độ tự chủ, thì những giá trị của chân lý đức tin mới có thể trở thành giá trị thật cho bản thân và góp phần xây dựng nên cấu trúc giá trị cho cá thể con người như một ngôi vị đích thực.
Dù tin tưởng giá trị của Lời Chúa, nhưng người tín hữu cũng chẳng nên “nhắm mắt nhắm mũi” để ca tụng khi mà chính mình chưa cảm được ý nghĩa. Thái độ tự làm hèn mạt chính mình, dù là hèn mạt trước Thiên Chúa, Không phải là điều Thiên Chúa ưa thích nếu không muốn nói là xúc phạm đến tình yêu của Ngài. Chính thái độ ấy làm cho sứ điệp lời Chúa trở thành sáo ngữ, chẳng thuyết phục và chẳng góp phần chia sẻ đức Tin được cho ai.
2.3 Tinh thần sáng tạo
Cũng thế, hồng ân đức Tin không phá hủy nhưng làm tăng tiến khả năng sáng tạo của con người. Trước lời mời gọi của đức Tin, con người đón nhận trong sự sáng tạo của mình, nghĩa là đón nhận trong và với nét độc đáo của riêng bản thân mình. Điều này không luôn bao hàm nguy cơ làm sai lệch Lời Chúa, nhưng chính là cách thức đón nhận Lời Chúa chân chính.
Sáng tạo không phải nhất thiết là tạo nên một sản phẩm hoàn toàn khác người, nhưng trước tiên đó là kết quả bình thường và đương nhiên của một sự gặp gỡ giữa hai chủ thể, chứ không phải của chủ thể và đối tượng. Do đó, như một chủ thể đón nhận Thánh Ý Chúa, người ta cũng thường có thể nhận ra một nét tinh tế riêng, một diễn ngữ riêng, một khía cạnh riêng, một thúc bách riêng theo tự do và hoàn cảnh cá biệt của mình. Thánh Thần sáng tạo làm cho con người có khả năng đón nhận Lời Chúa như một lời sáng tạo và chỉ cách thức ấy mới có khả năng để cho lời Chúa trổ sinh hoa trái đích thực:
“Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy”[ ga 15,8].
Như thế, một đức Tin Kitô giáo chân chính cũng bao hàm khả năng sáng tạo cuộc đời mình trong mối tương quan với Chúa. Trong tất cả mọi cuộc đối thoại như thế, yếu tố căn bản như dấu chỉ để chúng ta nhận ra tính cách chân chính của đối thoại, đó là khả năng trổ sinh hoa trái trong một sự sáng tạo ý nghĩa. Có thể nói được, một cuộc đối thoại chân chính là cuộc đối thoại giúp con người sáng tạo ý nghĩa.
2 .4 Sống đức Tin như “căn tính” của người tín hữu
Chính trong việc đáp trả lời mời gọi của Thiên chúa một cách tự do, con người thể hiện phẩm giá cao quí nhất của mình, đó là khả năng sáng tạo những ý nghĩa siêu nhiên (Từ ngữ “sumaturel” [siêu nhiên], trước kia và cho đến thế kỷ XVII, có nghĩa là điều gì vượt trên những sức mạnh và những qui luật quen thuộc của thiên nhiên. Ngày nay, từ ngữ này có nghĩa là điều gì thuộc về ân sủng và đời sống vĩnh cửu. Xc. Dict. Des Mots de la foi chrétienne, Cerf 1982, Nature.). Nói cách khác, trong mối tương quan “yêu mến Chúa”, người Kitô hữu có thể tìm thấy những ý nghĩa nơi những biến cố, những sự kiện hằng ngày của cuộc sống. Ý nghĩa siêu nhiên như thế có thể trở nên căn tính của con người trong hành trình cuộc đời.
Người Kitô hữu sống niềm Tin trong cuộc sống này, cũng có nghĩa là sống trong cuộc đối thoại thường xuyên với Chúa, để nhận ra, qua những sự kiện thường ngày, thế giới của Chúa, công việc của Chúa, chương trình của Chúa và nhiệm cục cứu độ của Chúa đang dẫn dắt cuộc đời mình.
Từ nền tảng “tâm linh nhân bản” ấy, chúng ta có thể nhận ra sức sống của đời sống tâm linh như là một thái độ có thể làm cho “mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Chúa” [Rm 8, 28]. Một đời sống tâm linh phong phú cũng biểu lộ trong khả năng khám phá những ý nghĩa siêu nhiên phong phú, để giải quyết những vấn đề của cuộc sống trong lịch sử ơn cứu độ ngay trong lịch sử đời mình.
Đời sống đức Tin như thế thực sự có thể mang lại căn tính cho người tín hữu, một thứ căn tính có thể giúp đón nhận những bất trắc, tìm được những ngõ mở, hóa giải những tủi nhục… Chính ý nghĩa siêu nhiên có khả năng làm thay đổi bản chất của các biến cố và làm tỏ hiện sự hiện diện của Nước Trời ngay trong cuộc sống hôm nay (Quả thật, ngay ở mức độ con người, những yếu tố căn bản và có tính cách quyết định của cuộc sống không phải diễn ra bình diện “thế kỷ” [sự kiện cụ thể], nhưng trên bình diện “luân lý” [“bình diện luân lý” ở đây không chỉ hiểu theo nghĩa đạo đức, luân thường, nhưng là bình diện tinh thần, do từ những quyết định tự do của con người, do cách thức ứng xử của tự do con người]. Một thái độ “luân lý” tốt hoặc xấu có thể biến đổi bản chất của những sự kiện tốt hoặc xấu “thể lý” và trở thành những nguyên lý, sức sống chi phối những giải pháp “thể lý”.). Một ý nghĩa siêu nhiên như vậy thực sự mang lại “lợi ích” cho tâm hồn con người và cuộc sống chung quanh, vượt quá thế giới hiện tượng sự vật cũng như hòan trọn ý nghĩa nhân bản của cuộc sống nhân sinh.
Với thái độ tự do và sẵn sàng trứơc đề nghị của Thiên Chúa, người Kitô hữu không sống đạo với một mớ luật lệ, nhưng là thể hiện lòng trung tín với Chúa trong việc đón nhận các biến cố với một “ý nghĩa siêu niên”. Thái độ sống ý nghĩa siêu nhiên giúp con người có khả năng sáng tạo ý nghĩa, một ý nghĩa giúp con người, ngay từ bây giờ, trong lòng tin, có thể sống an hòa ngay trong những bất toàn, sống vui ngay khi chưa đạt được những thành quả mong muốn, sống tâm linh hay sống thực tại Cánh chung ngay trên hành trình đang đi tới.
3. Những dấu hiệu không có ý nghĩa siêu nhiên
3.1 Bế tắc trước tính cách hữu hạn của cuộc sống
Không bao giờ người ta có thể tìm thấy nơi thế giới có-thời-gian này một sự hoàn hảo khách quan, tròn đầy; bởi vì tự bản chất, trần gian và những sự vật trong trần gian đã là những sự vật có-thời-gian, là hữu hạn. Hơn nữa, khi muốn đi trọn vẹn chủ nghĩa anh hùng của một người vô thần, muốn hiến dâng cả mạng sống của mình cho thế giới tương lai, một nẻo đường rất đáng kính phục, thì người ta lại rơi vào một mâu thuẫn không sao giải quyết được : con người trở nên phân bón cho hòa điệu tương lai; và đây lại là một hòa điệu đầy tính chất không-tưởng, vì tự bản chất của thế giới có-thời-gian đã là hữu hạn. Nói cách khác, con đường của khoa học thực nghiệm chắc chắn đi vào bế tắc. Cũng thế, con đường của triết học không tránh khỏi sự hàm hồ khi những giá trị do con người thể hiện đụng phải những mâu thuẫn không thể giải thích hoặc những tình cảnh “dở khóc dở cười” vốn đầy rẫy trong cuộc đời.
Như vậy, thế giới của sự vật phải được hoàn thành ở một bình diện khác trong thế giới nhân sinh, thế giới của giá trị, của ý nghĩa mà con người đặt tên cho chúng: và rồi thế giới ý nghĩa ấy lại chỉ có thể được hoàn thành một cách tuyệt đối ở một bình diện khác nữa, trong thế giới siêu nhiên, thế giới của đức Ai, của tình yêu Thiên Chúa.
Không khám phá ra những ý nghĩa siêu nhiên như một nhịp cầu nối kết giữa thế giới siêu nhiên và thế giới có-thời-gian, người ta sẽ mãi xoay xở một cách vô vọng để hoàn thành cuộc sống, hoặc người ta sẽ mãi lý sự để lý giải một cách hợp lý những biến cố trên đường đời. Kitô giáo không phải là đạo siêu thoát, nghĩa là trốn tránh khỏi trần gian bằng một cánh cửa thoát hiểm riêng cho mình hoặc chung cho cả Giáo Hội, nhưng là con đường rộng mở để cho Thiên Chúa hoàn tất cuộc sống trần gian. Sự thành toàn này, trên hành trình trần gian, được biểu lộ nơi những “dấu hiệu” của ngày Cánh chung, nơi những “thời điểm” của thế giới, tức là những ý nghĩa siêu nhiên mà niềm tin cung cấp cho người tín hữu.
Hơn ai hết, chính Kierkegaard là người đã diễn tả thật hay cuộc vượt qua từ thế giới “hiếu cảm” của giác quan, cũng như chối từ một thế giới của những hệ thống hợp lý nơi Hégel để khẳng định thế giới của niềm tin, thế giới có khả năng đón nhận được những mâu thuẫn và huyền nhiệm của đời người.
3.2 Dính cứng vào thế giới hiện tượng
Đối với con người, thế giới này chưa hoàn thành ý nghĩa căn bản. Thế giới của những sự kiện, của hiện tượng, cần được trao cho con người để con người “đặt tên”:
“Hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế” [St 2, 19]
Thế giới ấy không thể tự mình tìm được giải thoát, nhưng phải nhờ vào con cái Thiên Chúa:
“Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người” [Rm 8, 19]
Trong khi khoa học chỉ đụng đến thế giới hiện tượng; triết học vui vầy với thế giới nhân bản hợp lý; thì niềm Tin lại đưa con người vào thế giới siêu nhiên, một thế giới của Chúa, có khả năng dung nạp và biến đổi bản chất của hiện tượng cũng như những ý nghĩa hoàn toàn trần gian. Không có triết học như một khả năng tìm thấy ý nghĩa nhân sinh, không có niềm tin như một khả năng làm nẩy sinh ý nghĩa siêu nhiên, thế giới sẽ chỉ còn là những sự kiện thuần túy, cơn đau sẽ chỉ là cơn đau, thành công sẽ chỉ còn là thành công và thất bại sẽ chỉ còn là thất bại; giàu có chỉ là có tiền và nghèo cũng chỉ là túng thiếu… Khi ấy, con người bị dính cứng vào thế giới hiện tượng, và luôn đòi hỏi phải có một tổ chức hoàn hảo, phải có một giải pháp toàn diện, phải có những con người hoàn thiện…; những điều mà không bao giờ người ta có thể đạt được hoàn toàn. Khi ấy, người ta rơi vào thái độ thực dụng, dẫn đến sự tin tưởng rằng chỉ có khoa học mới là vị cứu tinh duy nhất cho con người.
3.3 Khẳng định lập trường bằng phương pháp lý sự
Cũng thế, khi không có một niềm tin có khả năng sáng tạo ý nghĩa siêu nhiên, con người dễ dàng rơi vào lập trường của những lý sự, những lý lẽ hết sức hợp lý, những lập trường hết sức “triết học”, những nhận định hết sức “thần học”, nhưng lại chẳng có khả năng nắm bắt được mạch ngầm huyền nhiệm của thế giới, nhất là của cõi nhân sinh.
Những người biệt phái đã tưởng có thể bắt bí được Đức Giêsu khi đưa ra trường hợp mà chuỗi lý lẽ tưởng chừng như quá chắc chắn, không thể nào bẻ gẫy được: người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình mà theo luật Mô-sê thì phải bị ném đá [xc. Ga 8,1-11]. Thế nhưng lập trường của Đức Giêsu lại vượt xa những lý lẽ ấy: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” [Ga 8,11].
Cũng thế, khi quá bám vào thế giới lý sự, khi chỉ tìm khẳng định bản thân mình bằng phương pháp lý sự, người ta sẽ tìm được đủ lý lẽ để đấu tranh và để bất mãn, để phê phán và để kết án trước những hoàn cảnh “phi lý” của cuộc sống.
4. Khám phá những giá trị từ kho tàng đức Tin
Nhân loại đã học biết tôn vinh Thượng Đế từ sớm, nhưng biết tôn trọng phẩm giá con người thì muộn lắm. Chúng ta thấy điều đó trong lịch sử vấn đề nhân quyền và cả trong một nền thần học quá chú trọng đến “vinh quang Thiên Chúa”, quá nhậy bén với những tội xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng lại “sơ cứng” với những tội xúc phạm đến con người.
Mặc dù không thể chối cãi rằng tinh thần Tin Mừng đã gợi hứng và là nguồn mạch của những trào lưu nhân bản chân chính trong dòng lịch sử; nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, cũng như dòng lịch sử ấy, đã có nhiều lần và nhiều người vì muốn đấu tranh cho con người mà phải chối từ Thượng Đế. Trào lưu nhân bản vô thần là một bằng chứng và Công Đồng Vatican II đã công khai nhìn nhận phần lỗi của người Kitô hữu khi đã sống và đã trình bày hình ảnh Thiên Chúa một cách méo mó: “Song chính những tín hữu nhiều lúc cũng có một phần trách nhiệm về vấn đề này” [MV 19]; đồng thời khẳng định “Giáo Hội cho rằng nhìn nhận Thiên Chúa không có gì nghịch lại phẩm giá con người” [MV 21].
Như thế, cách trình bầy của chúng ta về mạc khải của Thiên Chúa trong thời đại hôm nay, không thể dừng lại ở một số lý thuyết phải chấp nhận bằng lý trí, và cũng không thể cứ mãi là một thứ bài học dành cho con nít, theo kiểu nhắm mắt mà tin, theo nghĩa để mặc mọi hệ quả cho “Chúa” hay cho những người có trách nhiệm trong Giáo Hội. Đối với tâm thức con người ngày nay cũng vậy, khoa luân lý Kitô giáo cũng nên nhuốm mùi chủ thuyết duy ý muốn [volontarisme] của Roger Bacon hay Occam, nghĩa là Thiên Chúa có toàn quyền muốn một điều nào đó là tốt hay xấu; nghĩa là tội chỉ là tội vì Thiên Chúa muốn thế và nhân đức cũng chỉ là nhân đức chỉ vì Chúa muốn thế. Cách trình bầy luân lý như thế khiến người ta chỉ còn thấy những nghĩa vụ, những đòi buộc; cách trình bầy ấy dựa theo mẫu câu “tôi phải”, “anh em phải”. Trong giáo lý cũng như trong cách giảng huấn của Giáo Hội, hình như còn có quá nhiều điều “phải…”.
Hơn lúc nào hết, trong thời đại nhân loại đề cao phẩm giá giá con người như ngày nay, Giáo Hội cần làm sáng tỏ điều thánh Irênê đã nói: Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống. Điều đó có nghĩa là những điều khoản tín lý cũng như những đòi hỏi của luân lý Kitô giáo đều có những tác dụng cứu độ; nhằm hòa giải, nhằm giải phóng, nhằm nâng đỡ con người cách cụ thể, chân thật, sâu xa… Đó là những giá trị tích cực, những nét đẹp của cuộc sống nhân sinh.
4.1 Tầm quan trọng của những giá trị nhân sinh
“Cái đẹp cứu độ thế giới”, câu nói nổi tiếng ấy của Dostoievsky quả thực là một nhận định hết sức sâu xa. Dĩ nhiên cái đẹp không phải chỉ là một bức tranh hay một phong cảnh hữu tình. Cái đẹp ở đây là một cảm xúc có khả năng rung động tâm hồn. Khi một giá trị nhân sinh được cảm nhận trong khía cạnh thẩm mỹ, nó không phải chỉ là một cảm xúc thoáng qua, những là một sức mạnh lớn lao trong tâm hồn và đồng thời là một sức mạnh tiềm tàng có khả năng vận dụng tất cả năng lực của con người để đưa đến hành động bền bỉ và mạnh mẽ.
Trong một cuộc chiến chẳng hạn, người ta dễ thấy những súng ống, những bom đạn, những trang bị quân sự tối tân, hoặc một chiến lược hợp lý. Tuy nhiên, bên dưới tất cả những điều ấy, có những giá trị nhân sinh được khơi dậy, được vun đắp, được chia sẻ và chính chúng mới tạo nên sức mạnh vô địch. Tình nghĩa đồng bào, tình thương gia đình, tình đồng chí, lòng yêu nước,… chính những điều này mới thật sự là nền tảng cho sức mạnh quân sự. Lòng nhân thắng bạo tàn, cuộc chiến chính nghĩa không gì có thể dập tắt được…
Khi một giá trị nhân sinh càng chân chính, càng hợp với “lòng trời”, với “ý dân”, càng đụng đến nền tảng “hữu thể” của con người thì nó càng có khả năng lay động con người và biến cải xã hội. Quả thật, trong quá trình dài của lịch sử, chính cái đẹp, chính những giá trị nhân sinh chân thật, mới là sức mạnh để “cứu độ” con người.
4.2 Những giá trị nhân bản của Kitô giáo
Ở đỉnh cao minh triết, siêu hình và luân lý hòa hợp làm một cùng nhau, đó lời khẳng định của các triết gia, và lời khẳng định ấy không phải là không có nền tảng. Những lời tuyên tín trong Kinh Tin Kính là cả một bài trường ca của lịch sử Giáo Hội. Không người Kitô hữu nào có thể coi thường di sản đó. Những điều ấy tạo nên một nền tảng vững chắc cho tất cả suy tư thấn học thuộc mọi lãnh vực: tín lý, luân lý, tu đức, mục vụ… Tuy nhiên, điều hết sức khẩn thiết hôm nay và từ nền tảng ấy, Giáo Hội nói chung và người Kitô hữu nói riêng, trong thời đại hôm nay, cần thể hiện niềm tin ấy thành những giá trị nhân sinh chân chính. “Siêu hình Kitô giáo” phải thể hiện trong “luân lý Kitô giáo”. Chỉ khi đó, Kitô giáo mới biểu lộ khả năng diễn tả sứ điệp Kitô giáo như một giải pháp cứu độ cho con người ngày nay.
Có rất nhiều điều trong tín lý và luân lý Kitô giáo, đáng lẽ bao hàm và diễn tả những giá trị nhân sinh cao đẹp, thì lại bị biến thành những qui định cứng nhắc, những giới luật đòi buộc cách áp đặt, những úy kỵ vô cớ. Ta có thể tự hỏi: tại sao người nay người ta tuốn đến với những nơi tham vấn, trình bày với các chuyên viên tư vấn những uẩn khúc của cõi lòng, kể ra cả những tội lỗi sâu xa; trong khi đó thì người Kitô hữu ngại ngùng đến với bí tích Hòa giải?
Thực sự chúng ta có thể khám phá rất nhiều “cái đẹp cứu độ” trong kho tàng đức Tin Kitô giáo, nhưng nét đẹp của hạt giống Tin Mừng có khả năng lớn lên, che chở và cải đổi cõi nhân sinh. Chẳng hạn, niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Cha yêu thương nhân loại, đó là khả năng duy nhất để xây dựng một thế giới đại đồng, một tình nghĩa “tứ hải giai huynh đệ”. Niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất chính là niềm hy vọng lớn nhất cho tương lai nhân loại; miễn là người ta đừng suy diễn niềm tin ấy trở thành một chân lý “cô độc”, cứng đọng, lửng lơ của lý trí để bắt buộc người khác phải chấp nhận… Giáo lý về Thiên Chúa Ba Ngôi chính là khuôn mẫu chân chính duy nhất để xây dựng cuộc sống cộng đoàn nhân loại, trong đó mọi người đều bình đẳng và mọi người đều cần tự hiến vì ích lợi của người khác…
Khi tìm thấy những giá trị nhân sinh của Kitô giáo như thế, kinh Tin Kính không phải chỉ là một bản “nội qui” buộc phải chấp nhận, một bài học cần phải thuộc lòng. Khi ấy, đọc kinh Tin Kính, người Kitô hữu không chỉ chấp nhận những chân lý quá tĩnh kiểu người Hy Lạp, nhưng tin vào sức mạnh cứu độ của “cái đẹp” chân chính, của bản chất nhân loại, “của nhiệm cục cứu độ” phát xuất từ Thiên Chúa yêu thương.
Chỉ khi ấy, Kinh Tin Kính mới thực sự là một bản hùng ca của sức mạnh cứu độ, một bản hoan ca của tình thương đại đồng, một bản “hy vọng ca” về tương lai nhân loại…
Kết
Khi một xã hội bị băng hoại về giá trị, không một lực lượng an ninh hay luật pháp nào có thể hoàn thành nhiệm vụ được. Ngược lại, khi ta thấy một xã hội luôn nhấn mạnh đến việc “sống và làm việc theo pháp luật”, ta có thể thấy xã hội ấy đang trong tiến trình băng hoại về giá trị. Không thể có một xã hội không có luật pháp, nhưng nguồn mạch chính yếu để bảo đãm an ninh trật tự, để xây dựng một nếp sống an vui hạnh phúc, lại không phải là luật pháp mà chính là nhờ những giá trị nhân bản.
Cũng thế, trong thời đại khủng hoảng căn tính hiện nay, người Kitô hữu Việt Nam cần phải sẵn sàng đảm nhận trách vụ làm sáng lên những giá trị nhân sinh của Kitô giáo. Một đời sống đức Tin mà không hề gợi hứng được cho một lập trường tư tưởng nào, không tiếp sức được cho một nỗ lực nhân bản nào, không nuôi dưỡng tâm hồn bằng một ý nghĩa siêu nhiên nào; một đức tin không có khả năng biến cuộc đời mình thành lịch sử cứu độ; đức Tin ấy không là gì khác hơn một đức Tin chết. Đó là cách sống tách rời đức Tin và cuộc sồng thường ngày mà Công Đồng Vatican II đã tố cáo là một trong những nguy hại trầm trọng nhất của thời đại hôm nay:
”Cũng sai lầm không kém đối với những ai nghĩ rằng có thể dấn thân hoàn toàn vào các sinh hoạt trần thế như thể sinh hoạt ấy hoàn toàn xa lạ với đời sống tôn giáo, vì cho rằng đời sống tôn giáo chỉ hệ tại những hành vi phụng tự và một vài bổn phận luân lý phải chu toàn. Sự phân ly giữa đức Tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta.” [MV 43a]
Ta có thể nói được rằng nếu đức Tin chưa bao giờ thôi thúc tôi lựa chọn hoặc chấp nhận một sự việc với một ý nghĩa siêu nhiên nào; nếu chưa bao giờ tôi dám thay đổi nhận định hoặc ý kiến riêng của tôi thì nhận ra có thể Chúa muốn cách khác… thì hạt giống đức Tin trong tôi vẫn còn ngủ yên, nó chưa phải là một đời sống, và dĩ nhiên càng không phải là một đời sống tâm linh phong phú.
Có những đứa trẻ bị mẹ cấm không được ăn quà vặt, mà không hiểu nguyên do tại sao.
Khi còn bé, chúng có thể chấp nhận lệnh truyền của mẹ cách an vui.
Nhưng khi chúng lớn lên một chút, thì vấn đề trở nên khác nhiều. Tuy vẫn còn tin rằng lời dạy của mẹ là khôn ngoan, đúng đắn, nhưng một chút tò mò đã bắt đầu nhen nhúm trong tâm trí.
Lớn lên chút nữa, khi chúng biết suy nghĩ và tin vào suy nghĩ của mình, thì những cấm đoán không lý do ấy sẽ tạo nên một sự phản kháng ngấm ngầm.
Những lệnh truyền không tạo nên được “ý nghĩa” sẽ là nguồn của những rối loạn trong đời sống; vì khi đó con người không còn sống được trọn vẹn phẩm giá của mình.