GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 6

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tại vùng đất Galilê, Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ công khai [x. Mt4, 12-17]. Cũng tại vùng Galilê này, Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng và làm nhiều phép lạ. Thế nhưng, dù có”ba đầu sáu tay”, một ông Giêsu lịch sử cũng không thể làm cho xuể những công việc, ngay chỉ với những công việc của một hoàn cảnh, hoàn cảnh Galilê lúc ấy. Công trình cứu độ của Chúa Giêsu không thể bị đóng khung trong hoàn cảnh lịch sử. Chính vì vậy, Ngài muốn lên Giêrusalem, trung tâm của tôn giáo, Ngài muốn chọn lễ vượt qua, một biến cố trọng đại nhất trong lịch sử của dân tộc, để”gởi gắm” công cuộc giải phóng dân nghèo vào trong một chiều kích siêu thời gian và vượt mọi hoàn cảnh. Chính khung cảnh phượng tự của Giêrusalem trong dịp lễ Vượt Qua, một cách nào đó, đã giúp cho công ttrình cứu độ, giải phóng của Ngài trở thành một biểu tượng vĩnh cửu”

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Bài 4.2 SỐNG CÁC BÍ TÍCH CỨU ĐỘ

1.Chiều kích biểu tượng của phụng vụ Bí Tích

1.1 Nẻo đường của Đức Giêsu

Tại vùng đất Galilê, Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ công khai [x. Mt4, 12-17]. Cũng tại vùng Galilê này, Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng và làm nhiều phép lạ. Thế nhưng, dù có”ba đầu sáu tay”, một ông Giêsu lịch sử cũng không thể làm cho xuể những công việc, ngay chỉ với những công việc của một hoàn cảnh, hoàn cảnh Galilê lúc ấy. Công trình cứu độ của Chúa Giêsu không thể bị đóng khung trong hoàn cảnh lịch sử. Chính vì vậy, Ngài muốn lên Giêrusalem, trung tâm của tôn giáo, Ngài muốn chọn lễ vượt qua, một biến cố trọng đại nhất trong lịch sử của dân tộc, để”gởi gắm” công cuộc giải phóng dân nghèo vào trong một chiều kích siêu thời gian và vượt mọi hoàn cảnh. Chính khung cảnh phượng tự của Giêrusalem trong dịp lễ Vượt Qua, một cách nào đó, đã giúp cho công ttrình cứu độ, giải phóng của Ngài trở thành một biểu tượng vĩnh cửu”

“Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hóa được nên hoàn hảo. Điều đó cả Thánh Thần cũng làm nên hoàn hảo. Điều đó cả Thánh Thần cũng làm chứng cho chúng ta thấy. Quả thật, sau khi phán:’đây là giao ước Ta lập với chúng sau những ngày đó, thì Đức Chúa phán: Ta sẽ ghi vào tâm khảm chúng, sẽ khắc vào lòng trí chúng, sẽ khắc vào lòng trí chúng lề luật của Ta. Ta sẽ không còn nhớ đến lỗi lầm và việc gian ác của chúng nữa”.

Mà nơi nào đã có ơn tha tội, thì đâu cần lễ đền tội nữa” [Dt 10 14-18]

Như thế, công cuộc loan báo Tin Mừng cho người nghèo tại Galilê được nối kết với cuộc “tế tự” tại Giêrusalem và tìm thấy sức mạnh, tình yêu, ý nghĩa phổ quát. Cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu trở thành một biểu tượng vĩnh cửu của sức mạnh giải phóng, của tình yêu thắng hận thù, và là lời cam kết yêu thương của Thượng Đế đối với con người.

Ta có thể thấy, một cách nào đó, Galilê là vùng đất của cuộc sống trần gian, Giuđê [Giêrusalem] là vùng đất của trung tâm tôn giáo, của phượng tự, Chúa Giêsu rao giảng tại Galilê, nhưng về Giêrusalem để chịu chết. Cái chết của Chúa Giêsu ở Giêrusalem là chiều kích “biểu tượng” của những gì diễn ra ở Galilê; cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu tỏ hiện sự chiến thắng của những gì Chúa đã và đang làm ở Galilê trong chiều kích vĩnh cửu, chiều kích phượng tự.

Chính vì đó, Sau khi một hoàn cảnh cụ thể đã tìm được sức mạnh và ý nghĩa nơi “chiều kích phổ quát”, sau khi đã gắn liền với nguồn mạch của vĩnh cửu, thì cuộc chiến thắng ấy liền được đưa trở về với hòan cảnh cụ thể của không gian và thời gian lịch sử. Chính vì thế niềm vui mừng của các môn đệ phải là niềm vui ở Galilê; và việc gặp lại Chúa Phục Sinh, trtong chiều kích hiện sinh sẽ chỉ được tỏ hiện trong những vấn đề, trong công cuộc giải phóng “còn bỏ dở” tại Galilê. Do đó, Chúa Giêsu hẹn gặp các ông ở Galilê.

“Chị em đừng sợ! Về loan báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được gặp Thầy ở đó” [Mt 28,10]

Vùng đất Galilê, vùng đất của dân ngoại, đó là vùng đất của sứ vụ, và là vùng đất của ơn cứu độ, đặc biệt với những “bệnh nhân cần tới thầy thuốc”, với những “người bé mọn”, với những người đau khổ, với những người tội lỗi, thu thuế và đĩ điếm …; và chính ở Galilê ấy, Chúa Giêsu đã hiện ra long trọng với các ông để chính thức sai các ông đi rao giảng Tin Mừng đến tận cùng thế giới [Mt 28, 16-20].

1.2. Cử hành phụng vụ hôm nay

Đức Giêsu luôn khởi đầu ơn cứu độ của Ngài từ nhu cầu thật của cuộc sống con người, từ bánh mì trần thế đến Bánh Trường Sinh, từ nước uống cho đến Nước Hằng Sống… Hơn nữa, Chúa Giêsu cũng mời gọi các môn đệ “Chính anh em hãy cho họ ăn”[Mt 14, 16], và cùng với các ông, Chúa ban bánh cho con người được no lòng. Khởi từ kinh nghiệm cụ thể ấy, Chúa mới tỏ bầy Bánh đích thực trong bí tích Thánh Thể để dưỡng nuôi, không phải chỉ cơn đói dạ dày, mà chính là cơn khát được sống với Chúa.

Tuy nhiên, cách thức trình bầy trong Giáo Hội hiện nay hình như lại biến hồng ân lớn lao đó trở thành điều không dính dáng gì bao nhiêu đến nhu cầu thật của cuộc sống hằng ngày, thay thế những dữ kiện căn bản của cuộc sống bằng những giá trị của một thời đại đã qua, giá trị luật pháp, giá trị danh giá, giá trị thiêng liêng… Thực sự, các bí tích không phải chỉ là một hồng ân lớn lao xét theo giá trị tự tại, theo kiểu Thiên Chúa, Đấng cao cả vô cùng, đã hóa thân để ở với loài người, nhưng các bí tích hòa nhịp vào từng cảnh huống của tất cả cuộc đời con người… Tinh cách “giá trị tự tại” như thế cũng giống như ban tặng cho người sắp chết đói một mỏ vàng. Mỏ vàng thật quí nhưng không ăn được trong lúc đói lòng.

Hình như là các bí tích, xét như là những biểu tượng, dù là biểu tượng tái thực hiện, phải luôn luôn là những biểu tượng có khả năng gợi lại chính thực tại. Người tham dự bí tích là người sống thực tại qua những biểu tượng. Thế mà bí tích hiện nay, được cử hành và dược tham dự, hình như lại đưa người ta vào một thế giới khác, thế giới thần biểu tượng, thế giới của những ý niệm xa la, hơn là bắt nhịp cầu cho con người nối kết thực tại với biến cố cứu độ vĩnh cữu.

Khi tham dự nghi thức bẻ bánh chẳng hạn, các tông đồ sống lại việc mình đã từng được đồng bàn với với Đức Giêsu; khi cử hành bí tích Thánh Tẩy, các tông đồ sống lại sống tử nạn của chúa Giêsu. . . .

Người Kitô hữu hiện nay cũng vậy, họ cần sống lại thật với ơn cứu độ, với những biến cố cứu độ trong cuộc đời mình, với những việc Thiên Chúa làm trong cuộc đời của mình một cách sống động và có thực. Nếu không, người ta cứ mãi phải ép mình vào thế giới biểu tượng xa lạ với cuộc sống thực, mà cứ phải nỗ lực đưa tâmtrí đến một kỷ niệm mà mình không được sống, không được kinh nghiệm…

Như thế nghĩa là, trong bí tích cử hành mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa trong “bầu khí” của những ý nghĩa siêu việt thời gian và không gian cụ thể, thì “nhiệm cục cứu độ” của Thiên Chúa cũng phải vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian của thời đức Giêsu và tiếp tục diễn tiến, tiếp tục sống trong thời đại hôm nay và trong lúc này [hic et nunc].

Một cách nào đó, ta có thể hiểu rằng trong khi ngày thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể và chức linh mục [để cử hành tích] thì ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày của thực tại. Nếu không có ngày Thứ Sáu, thì ngày Thứ Năm vô nghĩa. Cũng thế, nếu không có thực tại của nhiệm cục cứu độ trong cuộc sống thực thì những biểu tượng chỉ là lớp vỏ. Nếu không có thực tại của Nhiêm cục Cứu Đo trong cuộc sống thực hằng ngày, thì bí tích, dù là tái hiện thực tại cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu lịch sử, vẫn chỉ là chuyện bên lề cuộc sống của con người hôm nay và chẳng có tác dụng gì bao nhiêu với tình tự cuộc đời.

Chúng ta dễ rơi vào tình trạng cử hành phụng vụ như thể tưởng nhớ một biến cố của quá khứ.Đúng ra, phụng vụ là một sự “cử hành”. Cử hành không phải chỉ là nhắc nhớ mà là tái hiện dưới hình thức biểu tượng; và việc cử hành như thế luôn luôn phải là”cử hành cho”, nghĩa là nối kết’ thực tại căn bản” với”thực tại cụ thể” hôm nay. Cử hành phụng vụ nghĩa là”Ướm” thực tại hôm nay vào biến cố căn bản của Kitô giáo, biến cố Đức Giêsu chịu chết và Phục Sinh. Cử hành nghĩa là nối liền cuộc sống hôm nay vào thực tại huyền nhiệm, để sức sống có thực tại huyền nhiệm ấy được thông truyền, được tái hiện trong cuộc sống hôm nay. Đây phải là việc cử hành một biến cố mang tầm vóc”sử tính”, mộtLịch Sử đã, đang và sẽ còn lưu chuyển, một”Lịch Sử” nằm sâu và hiện diện trong mọi diễn biến của dòng thời gian. Nói cách khác, đó là “sử tính” của ơn cứu độ. Như thế, thực sự chúng ta đang cử hành một biến cố của “hiện tại”, một hiện tại của mọi thời điểm trên chặng đường lịch sử.

Biến cố Đức Giêsu chịu chết và Phục Sinh sẽ không còn ý nghĩa khi nó chỉ còn là những biến cố quá khứ, hoặc ngầm chứa thái độ đầu hàng, trốn chạy trước cuộc sống và chỉ còn là một ước mơ tương lai. Ngược lại, biến cố Đức Giêsu Chết và Sống lại phải là sức sống chống lại sự chết, là tình yêu chống lại ghen ghét trong mọi thời đại. Nói cách khác, chúng ta không để lòng mình cắt đứt với hiện tại rồi trôi vào dĩ vãng, nhưng phải công bố Tin Mừng cho ngày hôm nay, mang lại sức sống phục sinh cho những cái chết, những thứ chết của ngày hôm nay.

Như thế, khi ta cử hành phụng vụ, ta không được “chia trí” về biểu tượng , nhưng phải cầm trí về thực tại cuộc sống; không được quên những con người trong cuộc sống hôm nay để đi vào một thế giới thuần túy biểu tượng. Khi ta dâng của lễ, ta không được “chia trí” vì bánh rượu, nhưng phải cầm trí về những mảnh đời được biểu tượng trong bánh rượu; khi linh mục truyền phép, ta không được “chia trí” vì chuyện “biến đổi bản thể”, nhưng phải cầm trí về ơn cứu độ Chúa cho những mảnh đời ấy, cho những con người hôm nay; khi ta rước lễ, ta không được ”chia trí” về một Đức Giêsu xa xưa của lịch sử, nhưng phải cầm trí về một Đức Giêsu đang đón nhận con người hôm nay và đã thánh hóa cuộc đời hôm nay trong tình yêu hy hiến của Người.

Đức Giêsu trong thập giá hôm nay, Đức Giêsu trong Thánh Thể hôm nay, Đức Giêsu trong Lời Chúa hôm nay … không phải là một Đức Giêsu của lịch sử, một thứ lịch sử đã trôi vào dĩ vãng nhưng chính là một đức Giêsu trong diễn tiến lịch sử, một Đức Giêsu đang sống, trong Thánh Thần, và trong cuộc đời của tôi, của anh; một Đức Giêsu đang hẹn gặp chúng ta ở vùng đất Galilê của dân ngoại.

2. Tầm mức của giao ước

Thiên Chúa muốn cứu độ con người, đó là một huyền nhiệm mà conngười không sao hiểu thấu. Mặt khác, cách thức Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ của Ngài cũng lại là một điều mà con người khó có thể hiểu được. Thiên Chúa cứu độ con người không phải như một người bố thí ơn phước, và không bao giờ biến con người thành kẻ ăn xin ơn thánh. Thiên Chúa cứu độ con người như một “Đấng có trách nhiệm” và Ngài chờ đợi con người cũng thể hiện tự do và trách nhiệm của mình. Tất cả những điều ấy được thực hiện trong huyền nhiệm giao ước giữa Thiên Chúa với con người.

Kitô giáo là đạo Giao Ước, điều đó cho thấy đời sống Kitô giáo không phải là một đời sống dựa theo một bộ luật vô hồn, một lẽ khôn ngoan vô ngã, nhưng là sống trong mối tương quan chặt chẽ với Thiên Chúa. Cùng với Lời Chúa, Ý nghĩa giao ước bao hàm toàn bộ đời sống Kitô giáo mà ta có thể thấy thể hiện trong các bí tích Kitô giáo.

2.1 Bí tích Kitô giáo

Bí tích Kitô giáo thường được định nghĩa là “Những dấu chỉ hữu hình để thông ban ơn sủng vô hình”; hoặc “Những dấu chỉ hữu hình để thông ban ơn sủng của Thiên Chúa”. Định nghĩa như thế có vẻ như đặt con người vào trong mối liên hệ với một thứ ân huệ “vô ngã”, máy móc, thiếu tính chất của một mối tương quan hiện sinh.

Thật ra, tất cả mọi bí tích đều là tái hiện một giao ước hiện sinh giữa hai chủ thể. Trong mỗi bí tích, Thiên Chúa nhìn tới con người, nhìn tới điều gì đang xảy ra trong con người ấy và trong cuộc sống của con người ấy; và con người cũng đến với Chúa bằng tất cả con người cũng như cuộc đời mình.

Tất cả những lần tái hiện giao ước qua các bí tích như thế đều đặt nền trên giao ước căn bản là giao ước Thánh Tẩy, tức việc con người chấp nhận chịu chết trọn vẹn, chết cho đời sống và vận mạng của mình để sống một đời sống mới thuộc hoàn toàn về Chúa, liên đới trọn vẹn với Chúa. Về phần Thiên Chúa, Ngài cho Con của Ngài chịu chết để cam kết bằng máu rằng Ngài không bỏ rơi con người. Trên nền tảng của một sự liên đới trách nhiệm cách trọn vẹn như thế, Chúa sẽ tiếp tục đồng hành với ta trên từng bước đường đời, qua những bí tích cứu độ.

Chẳng hạn trong bí tích hôn nhân, Đức Giêsu lại tiếp tục chịu Chết và Phục Sinh để nói lên rằng Ngài cũng liên đới với cô dâu chú rể về tình yêu của hai người, về mái ấm gia đình của hai người…; trong bí tích Thánh Thể, chính Chúa Giêsu Chịu Chết và Phục Sinh cho những mảnh đời được dâng lên qua tấm bánh và chén rượu…

Với cái nhìn về bí tích Kitô giáo trong mối tương quan ngôi vị, trong những khía cạnh cứu độ hiện sinh hơn, ta có thể nói rằng: bí tích là việc Đức Giêsu Kitô chịu chết và sống lại cho những vấn đề cụ thể của cuộc sống con người, được cử hành cách biểu tượng, nhưng là biểu tượng tái hiện thực tại. Mỗi bí tích là một lần ký kết giao ước để Thiên Chúa khẳng định lại sự trung tín của Ngài bằng sự chết và Phục Sinh của đức Kitô và con người khẳng định lại giao ước của mình đã ký dâng trọn vẹn trong bí tích Thánh Tẩy.

Như thế, bí tích Kitô giáo không phải là một chiếc máy ban ơn, ban những ơn như nhau và cho mọi người đến xin đúng cách. Ngược lại, bí tích Kitô giáo là sự nhắc lại giao ước của mỗi người với Thiên Chúa trong Bí Tích phổ quát là chính đức Kitô và Giáo Hội phổ quát của Ngài. Mỗi bí tích đều hàm chứa ý nghĩa chính yếu là: Chúa Giêsu lại một lần nữa chịu chết và phục sinh cho “vấn đề” của anh/chị để thể hiện giao ước mà Ngài và anh/chị đã ký kết với nhau.

2.2 Giao ước với “ngôi vị” con người

Trong bẩy bí tích Kitô giáo, bao trùm toàn bộ những thực tại nhân sinh, ta thấy có những bí tích trực tiếp gắn liền với bản vị mỗi người, gắn liền với ngôi vị của một con người : bí tích Thánh Tầy là việc Thiên Chúa nhận một con người làm con của Ngài trong Đức Kitô; bí tích Thêm Sức là việc Thiên Chúa hứa ban Thánh Thần ở cùng một con người trong những trách nhiệm được trao phó; bí tích Truyền chức là việc Thiên Chúa cam kết chọn một người nào đó để thi hành tác vụ linh mục thừa tác. Một khi cam kết, Thiên Chúa không bao giờ rút lại lời cam kết của mình; do đó nếu Ngài đã cam kết với một ngôi vị nào, Ngài không bao giờ phá hủy lời cam kết với con người ấy.

Điều ấy thường được trính bày một cách “mầu nhiệm” như là những ấn tích do Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn con người và chỉ cử hành một lần mà thôi. Tuy nhiên, ta có thể thấy được một ý nghĩa hiện sinh của “ấn tích”, đó là việc Thiên Chúa thể hiện một giao ước dứt khoát với con người. Một khi đã ký giao ước bằng chính việc Đức Giêsu Kitô chịu chết và Phục Sinh, thì Ngài chấp nhận con người ấy tới cùng, tin tưởng con người ấy tới cùng, hy vọng vào con người ấy đến cùng.

Nếu Thiên Chúa có tuyển chọn tôi là con của Ngài quan bí tích Thánh tẩy, thì đối với Ngài, tôi mãi mãi là con của Ngài, dù tôi có tội lỗi đến đâu đi nữa; cũng vậy, nếu Thiên Chúa đã giao ước trao ban Thánh Thần cho tôi qua bí tích Thêm Sức, thì Thánh Thần của Ngài vẫn chờ đợi để trợ giúp tôi trong những trách nhiệm mà Ngài đã trao phó cho tôi; nếu Ngài đã chọn tôi làm linh mục, thì dù tôi có tệ hại tới đâu, Ngài vẫn trao ban quyền cử hành bí tích cứu độ cho tôi [khía cạnh thành sự].

Điều này quả thực là một nền tảng vững chắc để con người có thể vững lòng trông cậy nơi Thiên Chúa trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Con người được giao ước ngôi vị với Thiên Chúa trở thành những đứa con “có cha có mẹ”, nghĩa là được chấp nhận từ chính bản thân của mình chứ không phải vì những tài năng hay đức độ. Trong khi những trẻ mồ côi luôn sống trong trạng thái bất an; tất cả những gì các em được hưởng đều là những phần thưởng không đương nhiên có được, đó chỉ là thành quả của một nỗ lực không ngừng, phải chăn ngoan, phải giữ kỷ luật, phải giỏi…; thì những trẻ có cha mẹ lại tìm được một sự an hòa sâu xa trong tâm hồn; chúng mơ hồ nhận ra được cha của mình, mẹ của mình, anh chị em của mình, và đó là những người thuộc về mình. Giao ước ngôi vị giúp người Kitô hữu có được một sự an hòa mhư thế, và hơn thế, trong tâm hồn; đồng thời tìm thấy một nguồn sức sống sâu xa trên hành trình đời người.

2.3 Đảm nhận những vấn đề trong đời sống

Với những bí tích khác, chúng ta thấy Thiên chúa giao ước lo toan cùng với con người về những sự việc xảy ra trong đời sống: tội lỗi [Sám Hối], bệnh tật [Xức Dầu], tình yêu gia đình [Hôn Phối] (Chúng ta cũng có thể hiểu tính “bất khả phân ly” của bí tích Hôn Phối trong chiều hướng ẩn tích. Giao ước hôn nhân cũng chính là một giao ước giữa hai ngôi vị với nhau, tiếp nối tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, nên nó cũng làmột sự chấp nhận dứt khoát không rút lại, cho tới khi một người qua đời.) và tất cả mọi vấn đề khác, từ những chuyện nhỏ nhất cho đến những chuyện quan trọng nhất [Thánh Thể].

Khi mỗi bí tích được ử hành thì Thiên Chúa lại tỏ lòng yêu thương con người bằng cách cho con của Ngài chịu chết và Phục Sinh, để nhắc lại lời giao ước Thien Chúa ở cùng con người cho đến tận thế. Tất cả đời sống Kitô giáo cũng như mọi bí tích Kitô giáo đều là một sự triển khai, tái hiện bí tích Thánh Tẩy, nơi đó, người tín hữu giao ước với Thiên Chúa bằng trọn vẹn con người và cuộc sống của mình.

Như thế, các bí tích dàn trải suốt cuộc đời con người và trong bất kỳ tình huống nào, bất kỳ hòan cảnh nào, bất kỳ khó khăn nào, người tín hữu đều có thể tìm thấy Thiên Chúa đang cùng sống và cùng chia sẻ gánh nặng cuộc đời. Mỗi khi cử hành bí tích, Thiên Chúa và con người cùng “cử hành” lời giao ước, cùng “hâm nóng” lên lòng tin tưởng, tình yêu và niềm hy vọng vào nhau. Qua cá bí tích, Chúa Giêsu luôn là người bạn đồng hành với con người. Ngài tỏ bầy ơn cứu độ cho con người, trước hết, bằng việc cam kết liên đới với con người bằng chính cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người.

Ơn cứu độ như thế không làm cho con người ỷ lại vào Thiên Chúa, cũng không phải là một thứ tương quan tôi tớ với chủ, làm cho con người trở nên hèn hạ, khiếp sợ và mưu tính lợi lộc một cách khôn khéo.

Kết

Bí tích, cùng với những kỳ công dấu lạ khác, chính là việc Thiên Chúa mạc khải chính Ngài qua hành động. Bí tích chính là giao ước của Thiên Chúa với cá nhân mỗi người, trong giao ước chung với toàn thể Giáo Hội. Nói các khác, bí tích chính là việc “áp dụng” qui chế giao ước vào với mỗi ngôi vị, cũng như mỗi hòan cảnh, mỗi tâm tình riêng của ngôi vị con người.

Việc trở về với nguồn mạch bí tích có thể giúp chúng ta nhận ra đường lối cứu độ của Thiên Chúa dành cho những người nghèo, tức những người đang phải sống thật với cuộc đời mình, đang phải đương đầu với bể khổ của đời người. Thiên Chúa đã không muốn lôi con người ra khỏi cuộc sống cách dễ dàng, những muốn cùng con người đảm nhận cuộc sống thật; và chính trong cuộc sống ấy, con người tìm thấy ơn cứu độ đã khởi đầu, đang trở nên viên mãn, con người nhìn thấy ánh sáng cuộc chiến thắng của chính mình nhờ tình yêu thương của Chúa Giêsu.

Một thanh niên tôn thờ chủ nghĩa độc thân. Anh thất thỏa mãn trong cuộc đời của mình: tự do vui chơi với bạn bè, tự do đi sớm về khuya, sống tự do với những thói quen của mình. Không có sự ràng buộc và trách nhiệm nào với ai, thật là thoải mái!

Thế nhưng, bước vào tuổi trung niên, anh ta bắt đầu cảm thấy xao xuyến. Bao nhiêu bạn bè đấy, bao nhiêu quen biết đấy, nhưng không ai thuộc về mình và mình chẳng thuộc về ai. Anh thầm nghĩ: chẳng ai thuộc về tôi, nên tôi chẳng dám hy vọng và chờ đợi ai hy sinh, thật tâm giúp tôi trong lúc tôi bệnh tật hoặc sa cơ thất thế; tôi không thuộc về ai, nên tôi chẳng dám trao những gì quí báu nhất của mình cho ai, tôi phải thủ thân phòng khi hữu sự.

Cảm giác chơi vơi ấy làm cho anh ta xao xuyến!

Cảm giác chơi vơi ấy cũng là cảm giác của một đứa trẻ mồ côi, của những người độc thân lớn tuổi. Có lẽ đó cũng là cảm giác của những tu sĩ không tìm thấy sự hiệp thông thực sự trong cộng đoàn, cảm giác của các linh mục, nhất là các linh mục triều, khi về già. Cuối cùng, nói chung, đó là cảm giác của những ai chưa gặp được Đức Kitô thuộc về mình trong một giao ước thực sự.

Xem tiếp phần 7