GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 4

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Người Hy Lạp đã chọn con đường đến cùng Thượng Đế thông qua một thứ ”siêu hình học tự nhiên”, nghĩa là Thượng Đế bộc lộ mình ra trong những quy luật tự nhiên của thiên nhiên và phản ánh trong luật lệ của thành-bang. Do đó, người ta không đến với Thượng Đế bằng cầu khẩn và lễ bái nhưng bằng những hiểu biết quy luật, quy luật của thiên nhiên và quy luật của thành-bang. Để nắm bắt được quy luật, lý trí thông minh là quan năng quan trọng nhất. Trên nẻo đường này, triết gia là người có điều kiện tốt nhất để tìm hiểu và sống kết hiệp với Thượng Đế. Phương cách ấy đóng kín nẻo đường phượng tự để mở ra nẻo đường tri thức.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Bài 3.2 ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN

1.Thái độ của niêm Tin

1.1. Từ nền tảng “siêu hình” của Đức Tin

Người Hy Lạp đã chọn con đường đến cùng Thượng Đế thông qua một thứ ”siêu hình học tự nhiên”, nghĩa là Thượng Đế bộc lộ mình ra trong những quy luật tự nhiên của thiên nhiên và phản ánh trong luật lệ của thành-bang. Do đó, người ta không đến với Thượng Đế bằng cầu khẩn và lễ bái nhưng bằng những hiểu biết quy luật, quy luật của thiên nhiên và quy luật của thành-bang. Để nắm bắt được quy luật, lý trí thông minh là quan năng quan trọng nhất. Trên nẻo đường này, triết gia là người có điều kiện tốt nhất để tìm hiểu và sống kết hiệp với Thượng Đế. Phương cách ấy đóng kín nẻo đường phượng tự để mở ra nẻo đường tri thức.

Đức Phật nhìn thấy thế giới trùng điệp những nhân duyên; nhưng lại tìm cách siêu thoát mọi nhân duyên để đạt đến thái độ giác ngộ, tự mình đạt đến một nhận thức sáng suốt bằng cách vượt thoát mọi ràng buộc ảo tưởng. Con đường ấy loại trừ mọi “tha lực” và tự bản chất cũng loại trừ sinh hoạt phượng tự.

Tronh khi đó, Do Thái-Kitô giáo lại đặt tất cả ý nghĩa, tất cả tầm quan trọng của vận mạng con người trong tương quan sống động với Thượng Đế. Trong mối tương quan này, điều căn bản của con người chính là thái độ của niềm Tin. Nhưng tin ở đây là tin vào Thượng Đế, chứ không phải chỉ là tin có Thượng Đế hay tin thật những điều thượng Đế phán truyền.

Thiên Chúa tự mạc khải trong Kinh Thánh không phải là một nguyên lý hợp lý, không phải là một sức mạnh vô ngã. Ngài không hành xử với thế giới như một bộ máy vi tính cực mạnh, hay như một năng lực cuốn hút tổng quát, vô ngã như quan niệm của người Hy Lạp. Thượng Đế của Kinh Thánh cũng không phải là một ”hiện thể thuần túy”, không chút thay đổi, như được xác định trong khoa thần học, nhưng Ngài là Đấng đối thoại, liên đới và liên lụy vào những tội lỗi của con người; Ngài dấn thân như một kẻ’ ngu dại” vào con đường yêu thương con người [x. 1 Cr 1, 22-25].

1.2 Tin là sống mối tương quan ngôi vị

“Thiên Chúa của Abraham, Isáac và Giacóp” là Đấng quan tâm đến những ưu tư của con người. Trước nỗi lo lắng của Abraham vì không có con nối dòng, Ngài đã tự mình liên lụy trong việc ký giao ước đơn phương [x. St 15, 1-21]; trước lời nài nỉ của Abraham, Ngài sẵn sàng chấp nhận những điều kiện mới [St 18, 22-32], Ngài “đàm đạo với ông Môsê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” [Xh 33, 11] và chấp nhận những lời khẩn xin của ông để không tiêu diệt dân,”Ta tha thứ như lời ngươi xin” [x. Ds 14, 13-20]…

Trong Tân Ước, chúng ta còn thấy Chúa Giêsu là Đấng có khả năng thay đổi chương trình [x. Ga 7, 8-10]. Vì lời đức Maria và vì cảm thương đám cưới hết rượu, Ngài thực hiện phép lạ đầu tiên, dù rằng “… chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến” [x. Ga 2, 1-12].

Thiên Chúa của đạo mạc khải là một Thiên Chúa có khả năng đi vào cuộc đối thoại. Những thay đổi chương trình trong cuộc đối thoại với con người không làm cho nhiệm cục cứu độ của Ngài bị sai trệch, nhưng Ngài còn có muôn ngàn cách để thực hiện nhiệm cục ấy cách hoàn hảo. Ngài không phải là một Thiên Chúa khăng khăng bảo vệ uy tín của mình, không chấp nhận bất cứ một sự đổi khác nào của con người. Điều mà Ngài không thay đổi, đó chính là lòng trung tín của Ngài, chứ không phải thái độ đề cao uy tín dựa trên một khẳng định “như đinh đóng cột” vềtất cả mọi sự:

“Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình [2 Tm 2,13]

Chính từ một nền tảng của niêm tin như thế, mà Lời cầu nguyện Kitô giáo tìm được một cánh cửa rộng mở. Trước một Thượng Đế hữu ngã, một Thượng Đế quan tâm đến đời sống con người và hơn nữa, một Thượng Đế” có khả năng thay đổi chương trình”, con người mới có thể thực sự đi vào mối tương quan sâu xa và thân tình trong đời sống cầu nguyện.

Cầu nguyện Kitô giáo chẳng phải chỉ là việc thay đổi thái độ của mình trước một Thiên Chúa trước sau như một; theo kiểu trình bày quen thuộc: Ơn Thiên chúa ban như cơn mưa rào; khi ta không cầu nguyện là ta đang úp cái bát của lòng ta xuống và không hứng được giọt nước nào; còn khi cầu nguyện là ta ngửa cái bát tâm hồn lên, khi đó ta lãnh nhận được ân huệ như mưa của Thiên Chúa. Lối trình bày ấy quá bận tâm bảo vệ uy tín của Thiên Chúa mà không làm sáng lên thái độ sẵn sàng của Thiên Chúa để đi vào cuộc đối thoại chân thật với con người. Lối giải thích ấy giết chết mối tương quan ngiôi vị và làm cho lời cầu nguyện, rốt cuộc, chỉ còn quy lại trong một thái độ phản tỉnh, thái độ quay về với chính mình.

Để khai mở con đường cầu nguyện, cần phải chọn nẻo đường của niềm tin, một niềm tin cụ thể hướng tới một”Đấng”. Đó là nẻo đường tin-cậy và tin-yêu.

2. Nẻo đường đức cậy

Sống đức Cậy là khám phá ra Thiên Chúa là Đấng đồng hành với mình trên bước đường đời.

2.1 Kinh nghiệm ban đầu của dân Ít-ra-en

Dân Ít-ra-en vốn là dân du mục, và bán-du-mục khi vào đất Canaan. Mặt khác, lịch sử Ít-ra-en lại là một lịch sử đầy những biến cố thăng trầm, ít có bình an lâu dài. Cuộc đời du mục, rong ruổi nay đây mai đó, đối diện với bao nhiêu bất trắc thường ngày, cùng với những biến cố đe dọa thường xuyên trong lịch sử dân tộc, khiến cho lòng trông cậy Chúa trở thành một nét tinh thần sâ xa trong tâm thức dân chúng. Hơn nữa, người dân Cựu Ước sống cuộc đời thực là chính cuộc sống trần thế. Tất cả ưu tư cũng như hy vọng cứu độ đều là những chuyện đời thường.

Do vậy, niềm tin của dân Ít-ra-en vào Thiên Chúa gắn liền với việc phó thác hành trình cuộc đời trong tay Ngài. Đó là chiều kích đức Cậy của niềm tin. Chúng ta có thể đọc thấy chiều kích tin-cậy ấy tràn ngập trong tâm tình cầu nguyện của Thánh Vịnh:

- “An thân bên cạnh Chúa Trời,

thì hơn tin cậy ở người trần gian

Cậy vào thần thế vua quan,

Chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời” [Tv 117,8-9]

- “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,

con ẩn náu bên Ngài,

Xin cứu vớt và giải thoát co

khỏi tay mọi người đang đuổi bắt,

kẻo họ vồ lấy con,

xé nát như sư tử

mà không người giải thoát” [Tv 7,2-3]

- “Hãy cậy trông vào Chúa,

mạnh bạo lên, can đảm lên nào!

Hãy cậy trông vào Chúa” [Tv 26,14]

Điều đó cho thấy, bình thường, và nhất là trong những bước khởi đầu của niềm tin, chính đức Cậy là nẻo đường căn bản. Chiều kích đức Cậy dính dáng đến những chuyện đời thường và giữ cho niềm tin không rơi vào thái độ “siêu thoát” và quá “thiêng liêng” của niềm Tin.

2.2 Nẻo đường của con người hiện đại

Chiều kích đức Cậy cũng là chiều kích được ưa thích đối với con người hiện nay, khi mà thế giới càng ngày càng biến chuyển thật nhanh. Trước đây, xã hội tương đối bình lặng,”con vua thì lại làm vua, con sãi chùa lại quét lá đa”, và kẻ nào lắm tham vọng cũng khó có thể thay đổi vị thế xã hội đã dành sẵn cho bản thân mình. Trong xã hội ấy, tâm hồn con người đã được chuẩn bị sẵn để chấp nhận cuộc đời mình ; và dù đời sống thực tế có bao nhiêu cực nhọc, người ta vẫn có thể chọn thái độ an phận để tự tìm lấy một chút bình an. . . Ngày nay, nếp sông êm ả và ổn định của làng xóm không còn nữa; xã hội không ngừng biến đổi, cuộc sống mỗi người đều bị lôi vào cuộc cạnh tranh và đối diện với nhiều đe dọa. Người ta luôn phải chạy đua để tìm phương thế giải quyết cuộc đời mình. Trong cuộc chạy đua này, người ta luôn thấy bài toán đời mình chưa được tính toán xong và luôn mang tâm trạng xao xuyến.

Chính vì thế, ngày nay, chiều kích đức Cậy lại trở thành sống động; nhu cầu đức Tin

Được biểu lộ rõ ràng trong khát vọng tìm thấy một người đồng hành và liên đới. Khát vọng Thiên Chúa, một khát vọng thâm sâu trong bản chất con người, tìm thấy giải đáp trong thái độ tin cậy vào Thiên Chúa. Người ta mong muốn tìm thấy Thiên Chúa đang đồng hành trên bước đường gian khó, Thiên Chúa nâng đỡ những vấp ngã, Thiên Chúa đang vẫy gọi trên hành trình hướng tới tương lai.

2.3 Nẻo đường của người nghèo

Nẻo đường đức Cậy cũng là nẻo đường của người nghèo, những người không phải đang quay quắt với cuộc sống hằng ngày, những người mang gánh nặng cuộc đời.

Cũng như với phần lớn con người thời đại hôm nay, đối với những người nghèo, đời sống là một thực tế lù lù trước mắt, với bao nhiêu chuyện lo toan, nghĩ ngợi. Người ta chẳng có thể quay mặt, nhắm mắt, chối từ, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Do đó, người ta chẳng thể nào thoát được cảnh:” khi đọc kinh xem lễ, luôn chia trí khi ít khi nhiều, khi nào cũng có”. Thật sự người nghèo chẳng thể đi vào nẻo đường nội tâm, để sống một đời sống tu đức siêu thoát được.

Những người ấy không thể có cách nào khác để đến với Chúa nếu không tìm thấy nẻo đường đức Cậy, nơi đó họ dâng lên Chúa chính những lo toan của mình để tìm thấy nơi Chúa một niềm an ủi, một chỗ tựa nương, một lời chỉ giáo.

Hơn nữa, đối với những người “bé mọn” nói chung, một sự trợ giúp chân chính không thể chỉ là những bài giáo huấn hay một chút ân huệ lặt vặt, nhưng chỉ có thể là một sự liên đới và đồng hành thực sự; đó là đảm nhận những khó khăn của người bé mọn như là vấn đề của chính mình.

* * *

Trong những tình huống như trên, nẻo đường đức Cậy mời gọi con người sống với Chúa trên hành trình lịch sử đời mình. Thay vì bỏ lại tất cả những lo toan cuộc sống ở cửa nhà thờ, thì người ta phải mang tất cả vào trong nhà thờ và đặt trên “đĩa thánh cuộc đời”. Thay vì đặt Chúa và những lo toan cuộc sống như là hai vế đối nghịch nhau, các mục tử phải biết hướng dẫn để dân Chúa tìm thấy bàn tay Chúa đỡ nâng chính cuộc sống của họ. Thay vì luôn cảm thấy Chúa như kẻ chất chồng thêm “món nợ cuộc đời”, người tín hữu cần khám phá một Thiên Chúa giúp ta”trả nợ đời”.

Con đường của người dân Ít-ra-en ban đầu, cũng là con đường của người nghèo và con đường của con người thời đại hôm nay, trước hết, phải là con đường của đức Cậy. Con đường đó chính là nẻo đường có tính”lịch sử”. Chính những chuyện thường ngày của đời sống con người, được xử lý trong niềm tin cậy, kết dệt nên một lịch sử nghĩa tình; giống hệt như tình yêu thương của hai con người đã cùng nhau vượt qua gian khó, giống hệt như tình nghĩa bằng hữu của những người đã từng chia một thời gian khổ. Trên nẻo đường này, người tín hữu, thay vì xa lánh, càng cần sống và sống hết mình với những chuyện đời; bởi vì trên nẻo đường ấy, Chúa Giêsu đang chờ đợi để gặp gỡ. Sống lòng trông cây chính là sống với một Thiên Chúa đồng hành; là nhận ra Chúa Giêsu đang đồng hành và Ngài dẫn dắt cuộc đời mình qua từng chặng đường, qua từng biến cố chứ không phải thái độ siêu thoát cao xa.

3. Nẻo đường đức mến

Nẻo đường đức Mến là khám phá ra một Thiên Chúa đối thoại tận tình với con người bởi vì Ngài thông hiểu, thông cảm và đã chấp nhận bản thân mỗi người chúng ta.

3.1 Khó khăn trong cuộc đối thoại người với người

Con người là sinh vật xã hội, nên chỉ có thể hoàn thành vận mạng của mình khi sống với người khác. Khẳng định ấy quá hiển nhiên, nhưng không phải là đơn giản. Nếu”làm người khó thật”, như Đức Khổng Tử nói, thì tất cả khó khăn của vận mạng làm người ấy cũng bộc lộ trong cung cách phải”sống với”.

Mặt khác, nhu cầu khẳng định chính mình là một nhu cầu thúc bách sâu xa và tạo nên những thái độ căn bản của đời sống con người. Nhu cầu ấy chi phối, không phải chỉ một tầng lớp người trẻ vào đời, nhưng là mọi người, trong mọi lứa tuổi và mọi hoàn cảnh. Đó là một nhu cầu chân thật và cần thiết cho vận mạng làm người.

Vận mạng “sống với” cần phải được đáp ứng trong nhu cầu khẳng định chính mình. Nhưng vấn đề bắt đầu trở nên phức tạp và nẩy sinh bao nhiêu tai họa khi con người tìm cách khẳng định chính mình bằng phương thức tô vẽ bản thân mình, nâng cao giá trị con người mình trước người khác. Người ta dễ nghĩ rằng khi ta “hơn người”, thì ta sẽ được người khác chấp nhận. Thế nhưng, chính người khác lại cũng có nhu cầu khẳng định mình như thế, và người khác ấy sẽ cảm thấy bị đe dọa khi bị thua sút. Khi đó, nhu cầu khẳng định mình đi vào một cuộc đấu ttranh “sống còn”. Trong cuộc đấu tranh này, người ta thường phải dùng đến mọi phương cách, dù là những phương cách gian dối, giả hình với chính mình và với người khác. Thế là con đường khẳng định chính mình để được chấp nhận, cuối cùng, lại làm cho con người trở nên cô đơn hơn, phòng vệ hơn.

Nỗi bận tâm khẳng định chính mình làm con người luôn phải xoay sở trình bày con người của mình trước người khác và thường đó là những mặt nạ giả hình. Khi đó, người ta luôn phải đối phó với tha nhân, chứ không phải bộc lộ chính bản thân mình với thái độ hồn nhiên, thanh thản, khổ thay, càng che dấu, càng phòng vệ, thì những uẩn ức trong tâm hồn càng bị dồn nén và càng có nguy cơ bị “lộ tẩy”, thường là qua những thái cử hết sức tế vi. Thật sự, chỉ cần một chút tinh ý, chúng ta có thê nhận thấy ngay những”lổ rò”của những nhân cách tự bơm mình lên, trương phồng bản thân mình trước người khác.

Chúng ta có thể thấy một vài lễ hội, một vài sinh hoạt xã hội đã tạo điều kiện để những nhân cách giả tạo của con người được” xì ra” nhằm bớt căng thẳng trong cuộc đấu tranh khẳng định mình. Lễ hội hóa ttrang, chẳng hạn, cho phép mỗi người được che dấu bộ mặt xã hội của mình để có thể tự do làm điều mình thích. Các ngày lễ hội như lễ kính thần rượu nho Dionysos ở Hy Lạp, lễ hội Ông Đùng Bà Đà ở nước ta, xét một khía cạnh nào đó, cũng là một phương thế”xã hơi” con người thật thâm sâu của bản thân. Hiện nay, nhu cầu”chat”[tán gẫu trên mạng] của giới trẻ cũng biểu lộ một nhu cầu tương tự. Trên mạng, người ta có thể nói huỵch toẹt điều mình nghĩ, dám bày tỏ thẳng thừng những ước muốn bậy bạ ám ảnh ttrong tâm hồn, nói xả láng mà không sợ người khác biết con người thật của mình là ai.

Thế nhưng, những cách “xả hơi” như thế không giải quyết được vấn đề một cách căn bản. Nó chỉ làm dịu đi một chút những uẩn ức, những bức xúc, những khát vọng vô độ trong tâm hồn chứ không có khả năng hóa giải.

Ngoài căn bệnh cô đơn, bệnh phòng vệ, người ta còn thấy một triệu chứng khác biểu lộ nỗi khó khăn trong việc thực hiện vận mạng”sống với”: bệnh chủ quan. Vì không có sự đối thoại thông thoáng nên người ta chỉ còn biết” tin vào chính mình”, thái độ ấy làm hco con người không có khả năng học được những bài học từ cuộc đời . Người ta càng ngày càng xây lô cốt cho định kiến của mình và khó có thể thấu cảm được hoàn cảnh khác, tâm tình khác, những lựa chọn khác. Điều khá rõ là căn bệnh ấy nẩy sinh cho thái độ quen truyền khiến, ít trao đổi và lắng nghe; và có lẽ cũng ít lắng nghe với chính Chúa nữa.

Thực sự nhu cầu khẳng định chính mình là nhu cầu chính đáng, nhưng thường lại được thể hiện trng một cung cách ”dễ dãi”. Thay vì gặp gỡ để cảm thông và hiệp thông với nhau, thì người ta lại đi vào con người đấu tranh, thống trị, tiêu diệt tha nhân để khẳng định vị thế của mình. JP. Sartre có lý phần nào khi cho rằng con đường gặp gỡ thường kết thúc bằng hai thái độ khổ dâm và bạo dâm, nghĩa là một bên vui vì hành khổ người khác, một bên vui vì bị người khác hành khổ.

Khát vọng”sống với”, mà tự bản thân là khát vọng yêu thương, được giải quyết bằng phương cách tô vẽbản thân để chinh phục. Thế là, một cách ”vô tình”, nhu cầu khẳng định chính mình lại phá hỏng chính vận mạng ”sống với”. Đây là một lầm lẫn căn bản, là nguyên nhân của biết bao thái độ lệch lạc trong cuộc sống con người.

Tuy vậy, một cách nào đó, chính những khó khăn trong cuộc đối thoại giữa người với người lại thôi thúc và có thể khai mở cho nẻo đường đức Mến.

3.2 Khiêm tốn để đối thoại

Thay vì tô vẽ bản thân để được chấp nhận, vận mạng”sống với” của con người có thể được giải quyết bằng nẻo đường khiêm tốn để đối thoại chân thật.

Khiêm tốn,trước hết, là một loại tâm tình căn bản của phận người. Bởi vì con người, ngay từ chính bản thân cũng như trong mọi kiến thức và sut tư, ngay trong nhân cách cũng như mọi nét văn hóa của mình, tất cả đều khởi đi từ sự lãnh nhận. Từ lãnh nhận, con người mới có thể sáng tạo và hình thành nên con người độc đáo của mình. Do đó, làm người mà không chân nhận rằng mình đã được lãnh nhận thì đã là một khiếm khuyết, một lệch lạc sơ đẳng. Khiêm tốn, trước tiên, là chân nhận mình được lãnh nhận từ người khác, từ Đấng khác:

Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?”[l Cr 4,7].

Bởi vì chân nhận mình đã được lãnh nhận là sống sự thật căn bản của đời người, nên tri ân cũng là tâm tình có tính cách căn bản,” Anh em hãy hết dạ tri ân”[ Cl 3,15]. Sống mà không biết tri ân đã là một sự” vênh” trong nhân cách, và nhân cách ấy đẻ ra nhiều thái độ lệch lạc khác.

Mặt khác, khiêm tốn chính là một thái độ chân thật của con người đáp lời mời gọi sống yêu thương. Đó là từ bỏ thái độ khẳng định mình bằng cách tô vẽ thêm con người của mình; khiêm tốn là loại trừ những chiếc mặt nạ phòng vệ và không đặt lý tưởng đời mình trên một sự cô đơn kiêu hãnh. Khiêm tốn không phải chỉ làmột thái độ”nhẫn nhục”, hoàn toàn thuộc lãnh vực”tu đức”, chỉ có giá trị”pháp lý” để đổi lấy nước Thiên Đàng. Khiêm tốn chính là con đường thông thoáng hướng đến tha nhân.

Như thế, đời sống cầu nguyện phải đặt trên nần tảng của thái độ cần đến”tha lực”; đúng hơn, cần đến tha nhân. Điều đó không đương nhiên là một thái độ hèn mạt, quỵ lụy, mà nhiều khi”nhân đức khiêm nhường” như trước đây đã rơi vào. Cần đến một ai khác, trong sự tự do, trong tình yêu thương dâng tặng, ngược lại, chính là phẩm cách cao quý của một con người dám trở nên như”hạt lúa gieo vào lòng đất” và”thối đi”[x.ga 12,24].

Khiêm tốn chính là vận hành thiết yếu để đi vào cuộc đối thoại. Chúng ta có thể cảm nhận được điều này khi so sánh tâm tình của mình trước một người hay”nổ”, và trước một con người chân thật, thanh thản trước tật xấu của bản thân mình. Một thái độ buông bỏ mặt nạ sẽ có khả năng làm cho những chiếc mặt nạ của “phía bên kia”rơi rụng; để rồi con ngươì có thể nhìn nhau với khuôn mặt thật, đối thoại với nhau bằng con người thật, đón nhận con người thật của nhau như một giá trị độc đáo và tuyệt đối của mỗi con người này.

4. Nhiệm cục mới

Thật ra, nẻo đường tin- cậy và tin- yêu chỉ có thể được thực hiện trọn vẹn trong ”nhiêm cục mới”; nơi đây, Thiên Chúa trở nên một Đấng đồng hành và Đấng đối thoại đặc biệt với con người.

4.1 Thiên Chúa luôn sẵn sàng

Chúa Giêsu khẳng định Cha là Đấng nhân lành, Người luôn sẵn sàng, chờ đón, ban ân và Người sẵn sàng ban cho con cái những gì tốt đẹp:

“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ được mở cho… Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?”[Mt 7,11]

Điều tốt đẹp, với”Thiên Chúa là tình yêu”, chỉ có thể là tình yêu mà thôi; và tình yêu của Người bao gồm hết mọi” nhân đức nhân bản” cũng như mọi nhân đức Kitô giáo. Chính vì thế, hồng ân đích thực của Thiên Chúa chính là Ngôi Hai xuống thế làm người để trở nên một người đồng hành và đối thoại vớichúng ta trên bước đường đời; và Người vẫn tiếp tục ở với chúng ta qua Thánh Thần của Người:

“Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người”[Lc 11, 13]

Thái độ sẵn sàng của Thiên Chúa mở ra một con đường thông thoáng mời gọi con người chia sẽ đời sống của Ngài.

4.2 Cuộc đối thoại thông thoáng và chân tình

Thật sự, những khó khăn trong sự gặp gỡ với con người là điều không bao giờ có thể giải quyết hết. Chẳng bậc thánh hiền nào có thể tránh được tất cả những tật bệnh của nhân cách khi thể hiện vận mạng”sống với”tha nhân.

Chính vì thế, Thiên Chúa muốn trở nên người đối thoại với con người, một người đối thoại có khả năng hóa giải những sợ hãi, phòng vệ, che dấu, của tâm hồn con người,

Thiên Chúa, đặc biệt là Đức Giêsu, là Đấng duy nhất có “quyền” trên con người; không phải là một thứ quyền bính thống trị nhưng là quyền do Ngài thể hiện chính bản chất đích thực của người chăn chiên:

“Thật tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếg người lạ”. Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe họ. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.

Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh , nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê và không thiết gì đến chiên.Tôi chính là Mục Tử nhân lành.tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi”[Ga 1,14]

Đức Giêsu “gọi tên từng con chiên một”, đức Giêsu có khả năng dẫn chiên đến đồng cỏ chân thật, đức Giêsu làm cho chiên được sống, đức Giêsu hy sinh mạng sống cho đàn chiên… Ngược lại, chiên quen tiếng của mục tử; chiên đi theo sau mục tử, chiên d7u6ợc che chở khi gặp sói dữ, chiên được sống dồi dào… những điều đó không phải trình bày một lối sống đoàn lũ, lầm lũi, chịu vậy,… nhưng cho thấy một tình thân sâu xa giữa Chúa Giêsu và người tín hữu.

Trong tình thân nghĩa thiết như thế, con người có thể đi vào một cuộc đối thoại thông thoáng, một sự gặp gỡ trọn vẹn và có thể được hóa giải khỏi căn bệnh phòng vệ sâu xa trong tâm hồn.

Quả thật Đức Giêsu có khả năng đón nhận mọi người, có khả năng khơi dậy những khát vọng chân chính sâu xa trong lòng con người, khát vọng gặp gỡ. Ngài có khả năng cảm thông với những yếu đuối của con người, có khả năng chờ đợi bước chậm chạp của con người… sự sẵn sàng và quảng đại ấy có khả năng gạt bỏ những chiếc mặt nạ giả tạo và làm cho con người được sống trong sự tự do tâm hồn.

4.3 Một tinh thần mới

Chương trình của Thiên Chúa là cho chúng ta được “đồng hình đồng dạng” với Chúa Kitô để có thể nói lên lời”Abba” như Chúa Giêsu đã thốt lên. Chính vì thế mà lời kinh tuyệt hảo nhất của Kitô giáo không thể là lời kinh nào khác hơn”Kinh Lạy Cha”[x. Mt 6, 7-15; Lc 11, 2-4].Điều căn bản của lời kinh ấy không phải nhằm xin sỏ, cũng chẳng nhằm ca tụng vinh quang của Thiên Chúa mà thôi, nhưng nhằm nối kết tình thân mà Chúa Giêsu đã thiết lập cho con người. Cầu nguyện như thế là bày tỏ tâm tình lên Thiên Chúa như với người Cha, trong tâm tình người con yêu mến và tin tưởng.

“Vậy các ngươi hãy cầu ngyuện như thế này: Lạy Cha chúng con ở trên trời”[Mt 6,9].

Tất cả những phần trong lời kinh này đều có xuất xứ từ trong Cựu Ước; nhưng chính Chúa Giêsu đã phối hợp lại trong một lời kinh độc đáo và duy nhất và đem lại cho nó một tinh thần mới: tinh thần của đứa con hướng lên Cha của mình.

Thánh Âu Tinh nói rằng kinh Lạy Cha bao gồm tất cả mọi lời cầu xin chân chính. Tuy nhiên,đây không phải chỉ là một cách tóm kết ngắn gọn và đầy đủ, nhưng hơn nữa đây là một tinh thần mới hoàn toàn trong Đức Giêsu, tinh thần làm con. Chúa Giêsu đã cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa hai thứ “thần khí”: thần khí dân ngoại và thần khí nghĩa tử [x. Mt 6,7-9]. Thần khí của thế gian mà người dân ngoại vẫn thường sống khi họ cầu nguyện làm cho người ta sống trong sự so đo tính toán hơn thiệt, lải nhải lắm lời [x. Mt 6,7]. Thần Khí NghĩaTử giúp người ta được sống trong thế giới của Thiên Chúa, với thái độ tự do và tự nguyện của những người con, dám để lòng mình gắn bó với “công việc” của Cha, hay là công việc của “chung gia đình”.

Thần khí nghĩa tử giúp cho người Kitô hữu sống trong niềm Tin, Cậy, Mến đối với Thiên Chúa là Cha: “Lạy Cha chúng con”, lời kêu cầu đó là yếu tố chính cho tất cả những lời nguyện xin khác; lời kêu cầu đó xác định vị thế của người làm con Thiên Chúa, sống theo Thần Khí Nghĩa Tử Ngài ban cho.

Trong Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu muốn chúng ta sống tâm tình con thảo đối với Thiên Chúa là Cha. Chính bí tich Thánh Tẩy đặt người Kitô hữu trên một nền tảng mới, đó là mối tương quan với Thiên Chúa là Cha. Mối tương quan này cần phải mỗi ngày mỗi ngày mỗi vững chắc và sâu đậm hơn với tâm tình tin tưởng nơi Thánh ý của Cha, nơi chương trình của Cha, nơi sự quan phòng của Cha. Rồi từ nền tảng ấy, mối tương quan con người với nhau cũng được điều chỉnh theo mối tương quan với Chúa: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em” [Mt 6,14].

4.4 “Những gì của cha đều là của con”

Trọn vẹn hơn, mối tương quan đích thực bao gồm sự kiện hai bên ở trong nhau, ở trong hoàn cảnh, ở trong tâm tình của nhau, ở trong những ưu tư của nhau, ở trong trách nhiệm của nhau. Thái độ thông cảm, yêu thương, lắng nghe nhau… không chỉ là một chút tâm tình mà thật sự là cả sự thông hiệp của bản thân, người này với người kia. Thánh Gioan diễn tả điều này bằng một kinh nghiệm đặc biệt của Ngài, “ở lại trong” :

“Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy….” [Ga 15, 4; x.14, 10; 15, 1-17…]

Một cách đơn giản hơn, chúng ta có thể thấy rằng chỉ có thái độ làm con, tinh thần con cái mới có thể làm cho con người “chia sẻ” đời sống của Chúa và để cho Chúa chia sẻ đời sống của mình.

Người anh cả trong dụ ngôn “Người Cha nhân hậu” [Lc 15, 11-32] đã không “theo kịp” được tinh thần mới. Anh ta sống thái độ so đo tính toán của người làm công : “Cha coi, đã bao năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được con dê con để con ăn mừng với bạn bè” [Lc 15, 29]. Chính vị thế nô lệ đó đã cản trở anh đón nhận mất mát của cha như là mất mát của chính mình, niềm vui của cha như là niềm vui của chính mình, “còn thằng con của cha đó…” [Lc 15,30]

Trong khi đó, người cha lại mời gọi anh ta sống tâm tình của người con trong gia đình, để chia sẻ thành công hay thất bại của gia đình : “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con” [Lc 15, 31]. Chỉ trong tinh thần đó, anh ta mới có thể cùng với cha để “ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy” [Lc 15, 32].

Chỉ có tinh thần con cái mới có thể đưa chúng ta thâm nhập vào trong thế giới của Thiên Chúa một cách trọn vẹn, chứ không phải ở vòng ngoài như những người tôi tớ. Với tinh thần con cái, chúng ta được thông chia tấm lòng của cha và sống trong thế giới của Cha. Chỉ khi đó, chúng ta mới thoát đuợc thái độ đấu tranh, phòng vệ và có thể sống với người khác trong tâm tình “vui với người vui, khóc với người khóc” [Rm 12,15].

5. Cầu nguyện và dâng tặng tâm hồn cho Chúa

Nhiều lời cầu nguyện của chúng ta bao hàm rất nhiều điều trái với tình yêu, không bộc lộ tinh thần tự do của con cái, bao hàm sự nhát đảm, sự ăn sẵn, sự dễ dãi, sự ích kỷ, tính ganh đua… Đó là những lời kinh không làm gia tăng mối tương quan thân thiết và tín nhiệm vào nhau. Tinh tần cầu nguyện như thế thường nhằm tới thái độ bản thân mình nhiều hơn là đi vào mối tương quan ngôi vị: Hoặc ta cầu nguyện như thể chu toàn một thủ tục nhằm để được lãnh nhận điều gì, cách cầu nguyện đó là một thứ lợi dụng, chỉ thấy có ân huệ mà không đụng được đến Đấng thi ân; hoặc ta cầu nguyện như là một nỗ lực luân lý để sửa đổi bản thân, cách cầu nguyện này chỉ coi Thiên Chúa như là khuôn mẫu của một bài tập, chứ không đưa bản thân mình vào mối tương quan với Chúa, hoặc cũng có thể ta cầu nguyện bằng cách chúc tụng Thiên Chúa như một kẻ nô lệ có trách nhiệm phải tung hô Ngài. Tất cả những lối cầu xin như thế làm giảm phẩm giá của đôi bên, đồng thời cũng làm mất tính chất của tình yêu. Nó bộc lộ ra một mối tương quan không bình đẳng hoặc không thông thoáng…

Ngược lại, trong mối tương quan chân chính, ta vẫn có thể cầu xin ơn này hay ơn khác, xin như là một cách thức chia sẻ và tỏ bầy suy nghĩ, chương trình của mình cho Chúa và cầu mong được liên đới, cũng như sẵn sàng “chia sẻ” cách thức giải quyết của Chúa. Cầu xin vì tin rằng Chúa có thể chiều ý của mình và mình cũng sẵn sàng chiều ý Ngài. Cầu xin với thái độ như thế, nguyên nó, đã là quí giá. Điều gì khác, xin điều gì cụ thể, trở thành phụ thuộc. Chỉ người con trong nhà mới có thể vui mừng vì ích lợi chung của gia đình; người cầu nguyện như con sẽ biết phó thác cho sự quan phòng yêu thương và khôn ngoan của Cha.

Chỉ như thế, lời cầu xin mới không làm giảm phẩm giá của con người lẫn Thiên chúa và mới có thể làm gia tăng phẩm chất mối tương quan ngôi vị. Lời cầu nguyện chân chính là dâng tặng những vấn đề của đời mình, hoặc trọn vẹn hơn là dâng tặng chính bản thân của mình cho Chúa; dâng tặng vì biết Chúa vui lòng và chờ đợi để đón nhận. Cầu nguyện, trong thực chất, chính là sống mối tương quan chân chính mỗi ngày mỗi phong phú hơn, được kết dệt qua các sự kiện nhỏ nhoi hoặc lẻ tẻ hằng ngày. Ta cầu xin vì ta biết Chúa thương ta, và Ngài cũng rất muốn ban cho ta điều tốt đẹp hơn. Cầu nguyện như thế không khác gì hai người bạn tâm sự với nhau, trao cho nhau tâm hồn của mình, trao cho nhau những biến cố trong lịch sử đời mình. Cầu nguyện thực ra là sinh hoạt bình thường của những người bạn của nhau.

Kết

Cầu nguyện Kitô giáo có thể nâng đỡ và hóa giải mọi trục trặc trong đời sống con người, nhưng đó phải thực sự là lời cầu nguyện trong nhiệm cục mới, trong tinh thần con cái đối với Cha của mình. Thái độ sĩ diện, thái độ xin xỏ, thái độ tính toán, thái độ nô lệ, thái độ sợ sệt… đều không xứng đáng với tinh thần cầu nguyện Kitô giáo.

Một người bạn, đang cơn túng thiếu, tìm đến người bạn thân của mình và nói: Anh đã từng hứa sẽ giúp đỡ tôi. Vậy lúc này, tôi đang cần một triệu. Anh cứ đưa số tiền ấy cho tôi mà đừng hỏi tôi dùng tiền ấy làm gì và làm cách nào.

Người bạn kia trả lời: tôi có thể giúp anh một triệu, hoặc hơn nữa. Nhưng anh đã không coi tôi như một người bạn, anh đã không muốn chia sẻ khó khăn của anh cho tôi mà chỉ coi tôi là một kho tiền, một người thủ quỹ thi hành theo đúng như nguyên tắc. Thực tình tôi muốn cùng anh bàn thảo và dính dáng vào những lo âu và khó khăm của anh. Tôi thực sự tôi buồn vì anh đã không cho tôi được sống như người bạn của anh.

Xem tiếp phần 5