GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 3
Ba tôn giáo được coi là”Đạo Mạc Khải” đều phát xuất từ chủng tộc Sê- mít: Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Đạo mạc khải nghĩa là tôn giáo đặt tất cả tầm quan trọng của đời sống đức Tin vào việc Thượng Đế tự tỏ bày đạo lý của Ngài cho con người. Đi6èu ấy cho thấy rõ tầm quan trọng của yếu tố gặp gỡ cụ thể trong tinh thần của chủng tộc này đối với vấn đề Thượng Đế. Thượng đế của đạo mạc khải không phải là một vị Thượng Đế cao xa, bất biến; cũng không phải là vị Thượng Đế mà người ta xác định được sau mỗi chuỗi suy tư, lý luận, chứng minh về nguồn gốc của con người, nguồn gốc của vũ trụ. Trong tôn giáo mạc khải, Thượng Đế là Đấng có ngôi vị, nghĩa là có lý trí, có ước muốn, có tự do và nhất là vị Thượng Đế ấy tỏ hiện chính mình trong một cuộc gặp gỡ với con người. Chính vị Thượng đế có ngôi vị tự quyết định đi vào cuộc gặp gỡ và mạc khải chính mình, mạc khải chân lý của Ngài, chân lý của con người, cũng như chân lý của cuộc đời: “Thiên Chúa đã muốn dùng mạc khải để bày tỏ và thông ban chính mình Ngài cùng những ý định muôn đời của Ngài liên quan đến phần rỗi nhân loại,”nghĩa là cho họ được tham dự vào các ân thiêng hoàn toàn vượt khỏi trí khôn loài người”[MK 6a](CĐ. Vatican I, Hiến chế Tín lý về Đức Tin Công giáo Dei filius, ch. 2: Dz 1785 {3005}.).
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài 3.1 NHIỆM CỤC MẠC KHẢI
1.Đạo Mạc Khải
Ba tôn giáo được coi là”Đạo Mạc Khải” đều phát xuất từ chủng tộc Sê- mít: Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Đạo mạc khải nghĩa là tôn giáo đặt tất cả tầm quan trọng của đời sống đức Tin vào việc Thượng Đế tự tỏ bày đạo lý của Ngài cho con người. Đi6èu ấy cho thấy rõ tầm quan trọng của yếu tố gặp gỡ cụ thể trong tinh thần của chủng tộc này đối với vấn đề Thượng Đế. Thượng đế của đạo mạc khải không phải là một vị Thượng Đế cao xa, bất biến; cũng không phải là vị Thượng Đế mà người ta xác định được sau mỗi chuỗi suy tư, lý luận, chứng minh về nguồn gốc của con người, nguồn gốc của vũ trụ. Trong tôn giáo mạc khải, Thượng Đế là Đấng có ngôi vị, nghĩa là có lý trí, có ước muốn, có tự do và nhất là vị Thượng Đế ấy tỏ hiện chính mình trong một cuộc gặp gỡ với con người. Chính vị Thượng đế có ngôi vị tự quyết định đi vào cuộc gặp gỡ và mạc khải chính mình, mạc khải chân lý của Ngài, chân lý của con người, cũng như chân lý của cuộc đời:
“Thiên Chúa đã muốn dùng mạc khải để bày tỏ và thông ban chính mình Ngài cùng những ý định muôn đời của Ngài liên quan đến phần rỗi nhân loại,”nghĩa là cho họ được tham dự vào các ân thiêng hoàn toàn vượt khỏi trí khôn loài người”[MK 6a](CĐ. Vatican I, Hiến chế Tín lý về Đức Tin Công giáo Dei filius, ch. 2: Dz 1785 {3005}.).
Như thế, Mạc khải chính là việc Thiên Chúa ngỏ lời với con người; hay nói cách khác, đó là việc Thiên Chúa gặp gỡ và đối thoại với con người.
Tư tưởng đối thoại được nhấn mạnh đặc biệt trong Công Đồng Vatican II (Xc. Augrain Amiot, Philipon Neveu, Mạc Khải, trang 32). Trong thời gian diễn ra Công Đồng, Đức Phaolô VI công bố thông điệp Ecclesiam Suam [6-8-1964]; trong đó, đức thánh cha tập trung vào tư tưởng đối thoại với Thiên Chúa, Giáo Hội cần thể hiện tinh thần đối thoại ấy giữa con người với nhau:
“Tự bản chất, tôn giáo là một mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Việc cầu nguyện diễn tảtương quan đó bằng cách đối thoại. Mạc kkhải, vốn là liên hệ siêu nhiên mà chính Thiên Chúa đã có sáng kiến thiết lập với loài người, thì có thể được trình bày như một cuộc đối thoại trong đó Ngôi Lời Thiên Chúa phát biểu qua việc Nhập Thể và sau đó qua Tin Mừng. Cuộc đối thoại đượm tình cha con và thánh thiện, bị đứt đoạn giữa Thiên Chúa và con người vì tội nguyên tổ, thì được lập lại một cách lạ lùng trong dòng lịch sủ. Lịch sử cứu độ k6ẻ lại chính xác cuộc đối thoại dài dòng và đa dạng đó, khởi đi từ Thiên Chúa và nối kết với con người một cuộc đàm đạo đầy biến t6áu và dị thường. Chính trong cuộc đàm thoại giữa Đức Kitô và con người [Xc. Br 3,38] mà Thiên Chúa đã cho người ta hiểu được một điều gì đó về Ngài, mầu nhiệm về đời sống của Ngài trong đơn Nhất về yếu tính Ba Ngôi Vị- Chính ở đó mà sau cùng Ngài nói cho ta hay Ngài muốn được muốn được nhận biết thế nào: Ngài là Tình Yêu; muốn được mọi người tôn kính và phụng sự thế nào. Yêu thương là giới luật tối thượng của chúng ta. Cuộc đối thoại diễn ra thật đầy đủ và tín thành. Người Con được mời đến cuộc đối thoại đó. Ở đó, huyền nhiệm được tỏ bày. Chúng ta phải luôn luôn canh cánh bên lòng khôn tả và rất thực về cuộc đối thoại do Thiên Chúa Cha cống hiến và thiết lập, qua trung gian Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần”[ Ecclesisam Suam]
Ý tưởng đối thoại của Đức Phaolô VI được Công Đồng sử dụng, và trở nên ý tưởng then chốt trong toàn bộ Hiến chế Tín lý về Mạc Khải. Mạc khải chính yếu không nhằm bày tỏ một chân lý của suy tưởng, nhưng nhằm để thiết lập mối thông giao giữa con người với Thiên Chúa. Bản chất của mạc khải là tương quan, là mối liên hệ giữa Chúa và Dân, giữa Chúa và mỗi người tín hữu:
“Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình [x. Cl 1,15; 1 Tm 1,17] ngỏ lời với loài người như với bạn hữu[x. Xh 33,11; Ga 15, 14-15]. Ngài đối thoại với họ [x. Br 3,38] để mời gọi họ hiệp nhất với Ngài” [ MK 2].
Chính vì thế, mặc khải Do Thái Kitô giáo bao hàm những yếu tố căn bản của một cuộc đối thoại ngôi vị: là hồng ân, mời gọi sự đón nhận trong tự do và tự nguyện dấn thân… và mạc khải như thế trở thành một lịch sử nghĩa tình, cụ thể, sống động chứ không phải chỉ là một bài học viết sẵn, một sự soi sáng cho lí trí hay là một qui luật bất biến chụp xuống trên con người.
2. Mạc Khải chính Chúa
Trước đây, để chứng minh cho sự cần thiết của mạc khải, các sách giáo lý và suy tư thần học thường nêu lên lý do chính là sự giới hạn của trí khôn con người, vì con người cần có ánh sáng mạc khải để soi lối chỉ đường (chẳng hạn Thánh Thomas nói:” vì chân lý về Thiên Chúa theo khả năng nhân loại có thể nhận biết được thì cũng chỉ một ít cá nhân nh6ạn biết thôi, và nhận biết được sau một thời gian lâu dài tìm kiếm, và đồng thời sự nhận biết này có thể vướng mắc nhiều sai lầm. Bởi vì sự cứu rỗi nhân loại toàn diện thì ở nơi Thiên Chúa, nên do ở sự nhận biết chân lý này. Bởi đó, để sự cứu độ nhân loại thực thực hiện cách thích hợp hơn, nhân loại cần thiết phải được dạy cho biết các chân lý về Thiên Chúa, qua sự mạc khải của Thiên Chúa” [ST. l, q. 1,a. 1. resp]). Đó cũng là khía cạnh mà Công Đồng Vatican I triển khai. Cách nhìn ấy, dĩ nhiên, không phải là sai, nhưng bị giới hạn trong việc coi mạc khải chỉ như việc Thiên Chúa tỏ bày những chân lý thuộc lãnh vực tri thức. Đó là lối nhìn mạc khải theo phương diện đối tượng, tức nhìn tới các chân lý khách quan, các chân lý tự nhiên được biết do lý trí suy luận cũng như các chân lý siêu nhiên được tỏ bày trong mạc khải.
Trong khi đó, Công Đồng Vatican II lại nhìn bản chất của mạc khải theo phương diện chủ thể, tức việc Thiên Chúa tỏ bày chính Ngài, theo đó, tất cả lịch sử cứu độ chỉ là việc Thiên Chúa biểu lộ chính mình trong một mạc khải duy nhất, được thực hiện nhiều lần và dưới nhiều hình thức:
“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ…”[Dt 1,1]
Mạc khải của Thiên Chúa, theo nghĩa căn bản nhất, và dù là tỏ bày bất cứ điều gì, đều quy hướng đến việc Thiên Chúa tỏ bày chính bản thân Ngài; mạc khải ấy, chính yếu, không chỉ nhằm để trao cho con người biết một kiến thức về Thiên Chúa, nhưng nhằm mời gọi con người sống với Chúa trong tình thân nghĩa thiết:
“Công đồng này muốn trình bày giáo lý chân thực về mạc khải của Thiên Chúa và lưu truyền mạc khải ấy, để khi nghe công bố ơn cứu độ,toàn thể nhân loại tin theo, đ6ẻ nhờ tin và hy vọng, và nhờ hy vọng mà yêu mến”[MK 1] (Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín lý về Mạc khải, bản dịch của Giáo Hoàng Chủng viện Pio X, chú thích 3:” Ở đây, Công Đồng trình bày: mục đích của mạc khải là cứu độ con người chứ không phải để thỏa mãn óc tìm tòi của trí khôn chúng ta”).
Thánh Gioan đã cho thấy rõ ý nghĩa của mạc khải trong việc loan báo về”sự sống” là Đức Kitô:
“Chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời, sự sống ấy vẫn hướng về chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài” [1 Ga 2,3]
Tính chất căn bản của mạc khải Do Thái – Kitô giáo như thế được di6ẽn tả trong đoạn văn then chốt của Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải như sau:
“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa”[x. Ep 2, 18; 2 Pr 1,4]. Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình[x.Cl 1,15; l Tm 1,17] ngỏ lời với loài người như với bạn hữu[X. Xh 33,11; Ga 15, 14-15].Ngài đối thoại với họ[ x. Br 3,38] để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài”[MK 2].
Cuối cùng, nhiệm cục mạc khải của Thiên Chúa được tỏ bày trọn vẹn nơi bản thân Đức Giêsu Kitô, đỉnh cao của “mạc khải chính Chúa”, và cũng là đỉnh cao của sự liên đới, của tình yêu thương. Bản thân Đức Giêsu chính là nhiệm cục Thiên Chúa tỏ bày trọn vẹn, hết mình, rốt ráo tình yêu thương của Ngài cho con người, bằng chính sự chết và Phục Sinh của Ngôi Hai Thiên Chúa làm người:
“Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử”[Dt 1,1-2]
Thiên Chúa đã chọn lựa con đường cứu độ con đường người bằng cách mạc khải chính Ngài, cách thức ấy không phải chỉ như một sự can thiệp từ xa, chỉ tỏ cho biết con đường, mà là một sự can dự sâu xa, dấn thân trọn vẹn, để cùng liên đới, chia sẻ và cùng hành trình với con người như là Cha, như là bạn.
3. Đức Tin và Mạc Khải
Cũng như quan niệm về mạc khải, hai khía cạnh của Đức Tin cũng thường tạo nên những khuynh hướng khác biệt, đôi khi đối lập hoặc loại trừ nhau.
Công đồng Vatican I có khuynh hướng trình bày đức Tin như sự chấp nhận của lý trí đối với những chân lý mạc khải được Giáo Hội trình bày. Quan niệm này cũng thường được trình bày trong các sách giáo lý cũng như trong khoa thần học suy lý. Trong khi đó, từ nguồn mạch Kinh Thánh, người ta tìm thấy khía cạnh rõ nét của đức Tin là sự gắn bó với Chúa, tin cậy và tin yêu đối với Ngài. Nói chung, dựa vào Thánh Kinh (X. Điền Ngữ Thần Học Thánh Kinh, đề mục Tin) cũng như trường thần học hiện nay, người ta nhìn nhận rằng đức Tin bao gồm hai khía cạnh: tin vào Cháu và tin vào những chân lý Chúa chỉ dạy.
Đoạn văn thư Do Thái trình bày cả hai ý nghĩa ấy như sau:
“Nhờ đức Tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi Lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có. Nhờ đức Tin, ông A- ben đã dâng lên Thiên Chúa một hy lễ cao quý hơn hy lễ của ông Ca-in: nhờ tin như vây, ông A-ben đã được chứng nhận là người công chính, bởi vì Thiên Chúa đã chấp nhận những lễ phẩm ông dâng. Và cũng chính nhờ tin như thế mà tuy đã chết rồi, ông vẫn còn lên tiếng.
Nhờ đức Tin, ông Kha- nóc được đem đi nơi khác để khỏi chết và người ta không tìm thấy ông nữa, bởi vì Thiên Chúa đã đem ông đi. Quả thât, Kinh Thánh chứng nhận rằng: trước khi được đem đi, ông đã làm đẹp lòng Thiên Chúa. Mà không có đức Tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa. Mà không có đức Tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Ngài ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người”[Dt 11, 3-6].
Tuy nhiên, cũng như mạc khải là mạc khải chính Chúa, thì Đức Tin, lời đáp trả của con người trước nhiêm cục mạc khải, cách căn bản, cũng là chính bản thân người tín hữu quyết định gắn bó với chính Chúa. Lý do là vì, trước tiên, đức Tin là một hồng ân Chúa ban, đó là “món quà” của một Đấng; mặt khác, hồng ân đức Tin nhằm tới những con người cụ thể, co lý trí tự do, tức là những ngôi vị. Nói cách khác, mạc khải tỏ bày chính Chúa như một Thiên Chúa ngôi vị, nên đức Tin hướng tới mạc khải ấy cũng là đức Tin của những con người như là những ngôi vị. Con người tin vào Thiên Chúa như những con người tự do, tự nguyện đáp lại lời tỏ bày của Chúa, nhằm gắn bó với chính Chúa. Đức Tin và mạc khải gắn liền với nhau như là sự gặp gỡ của hai chủ thể, Thiên Chúa mạc khải và người tín hữu có đức tin. Sự gặp gỡ ấy không dừng lại, không cô đọng thành sự gặp gỡ của lý trí và nghi thức; đó không phải là một trí thức thuần túy và cũng chẳng phải là một “kỷ thuật”, nhưng là lời đáp trả tự do trước tình yêu tỏ bày chính mình.
Do vậy, đức Tin luôn bao gồm hai khía cạnh cụ thể: tin cậy và tin yêu. Đây không phải là những nhân đức tách biệt nhau, nhưng là những tỏ hiện khác nhau, tùy từng hoàn cảnh, trong từng trường hợp, của cùng một mối tương quan sống động và có ngôi vị giữa mạc khải và đức Tin.
Tin là chấp nhận bản thân của nhau, với tất cả những gì làm nên phẩm tính ngôi vị của nhau. Tin không phải là một sự cân nhắc mua bán, đặt tha nhân lên bàn cân để tính toán, nhưng là sống với một ngôi vị cụ thể, có ý muốn, có lý trí và tự do. Tin cũng có nghĩa là khẩn cầu nhau như là những ngôi vị không thể thay thế.
Do đó, Tin cũng là bước vào lịch sử nghĩa tình như một cuộc phiêu lưu, theo đó, mỗi ngày lại là một hoàn cảnh mới, mỗi biến cố lại là một cơ hội mới để cả hai cùng thể hiện lòng trung tín đối với nhau. Đức Tin là một sự dấn thân theo Chúa, là khởi đầu một hành trình. Đức Tin như thế có thể làm xáo trộn đời sống quen thuộc của tín hữu, nhưng chính điều đó lại là bằng chứng của một đức Tin chân thật. Tin Chúa cũng là theo Chúa, là chấp nhận xáo trộn, là từ bỏ chọn lựa riêng, là lắng nghe và tình nguyện chấp nhận sự can dự của Chúa vào cuộc đời mình. Mạc khải và đức Tin kết dệt nên một lịch sử nghĩa tình giữa Thiên Chúa và con người. Nếu không can đảm chấp nhận sự xáo trộn của đời sống đức Tin, người tín hữu sẽ rơi vào phương thức thực dụng, nghĩa là chỉ còn biết chấp nhận tín điều, ráng thi hành những đòi buộc của giới răn, và xoay sở thế nào đểđược lợi ích nhất.
4. Những đặc tính của Mạc Khải
Người ta có thể kể nhiều đặc tính của mạc khải Do Thái- Kitô giáo, chẳng hạn: Tính cách lịch sử; tính cách ngôi vị, tính cách Kitô, tính cách Ba Ngôi(Xc. Phan Tấn Thành, Giáo trình Thần Học Mạc Khải, Học Viện Đa Minh 2002, trang 9)…
Augrain Amoit, Philipon Neveu ( Xc. Aurain Amiot, Philipon Neveu, Mạc Khải, trang 161) đã tóm lại những tính chất căn bản của mạc khải Do Thái- Kitô giáo qua bảy đặc tính như sau:
4.1 Mặc khải mang tính cách liên- ngôi- vị
Tính cách liên ngôi vị là nét đặc trưng của văn hóa Do Thái. “Ngôi vị” tức một “chủ thể” lãnh nhận tất cả mọi hành vi; hoặc là một “bản thể” riêng biệt, có “cá tính”, có “trí thông minh”, có “ước muốn” … Thiên Chúa ngôi vị như thế tỏ mình ra qua cách thức “viếng thăm dân người”. Đối với một Thiên Chúa ngôi vị như thế, con người không phải chỉ học hỏi, nhưng còn tiếp xúc “cụ thể” với ngài, cách này hay cách khác. Mạc khải chính là sự gặp gỡ giữa thiên Chúa ngôi vị và con người có ngôi vị.
Mạc khải siêu nhiên (Từ ngữ”siêu nhiên”, từ thế kỷ XVII,, có nghĩa là liên hệ đến ân sủng và đời sống vĩnh cữu, hay có nghĩa là thuộc về Chúa. X.O. La brosse, A. M. Henry, Philipon Rouillard, Dictionaire des Mots de la Fol Chétienne, Cert, Paris 1992, từ Nature.) là Lời Chúa nói với con người như một chủ đề đối thoại [ nói với anh/chị] , là một cuộc đối thoại, là sứ điệp nhắn gởi và mời gọi lời đáp. Trong Cựu Ước , Thiên Chúa mạc khải b8àng lời ngỏ với dân. Trong Tân Ước, Thiên Chúa tỏ bày Thánh ý của Ngài với từng người tín hữu, trong nhiệm cục chung của ơn cứu độ đối với dân. Sự tiến triển của Cựu Ước sang Tân Ước cũng là một sụ tiến triển của một quá trình mạc khải càng ngày thể hiện tính liên ngôi vị trọn vẹn hơn. Sự công chính mới của Tân Ước chính là lời đáp của người tín hữu đối vớiThánh ý của Thiên Chúa, Thánh ý dành cho bản thân mình, lời mời gọi này thường vượt qua luật lệ và hoàn tất lề luật bằng sự gắn bó trực tiếp với Chúa.
4.2 Mạc khải mang tính cách ân huệ
Mạc khải của Thiên Chúa xuất phát từ tình yêu và để thực hiện một công trình cứu độ trong tình yêu thương của Ngài. Mạc khải siêu nhiên không phải là một chuyện tự nhiên hoặc do một quy luật tất yếu khách quan nào bên ngoài tự do của Thiên Chúa. Do đó, mạc khải hướng cái nhìn của con người vượt qua các biến cố, các cách thức diễn tả, để nhận ra chính Thiên Chúa là Đấng đang thực hiện chương trình của Ngài. Mạc khải là ân huệ của Thiên Chúa, và nói cho tới cùng, ân huệ ấy lại không là gì khác hơn hcính Thiên Chúa, Thiên Chúa thương ban chính Ngài. Như thế,bản chất của mạc khải là hồng ân và thái độ của người tín hữu đón nhận mạc khải cũng chỉ là tạ ơn.
Trung thành với nguyên tắc này,người Do thái thường nhìn trong các biến cố một nguyên nhân tối hậu, đó là chính Thiên chúa đang chỉ giáo cho con người. Nói cách khác, người Do Thái thường suy tư về nguyên nhân của sự kiện, thay vì suy tư để tìm bản chất sự kiện như nó vốn có, theo kiểu của người Hy Lạp. Như thế, khi nhìn các hiện tượng xảy ra, điều quan trọng đối với người Do Thái là nhận định xem đó có phải từ Chúa hay không, chứ không bận tâm lắm để xem bản chất hiện tượng đó là gì. Chẳng hạn,khi Chúa Giêsu rủa cây vả không sinh trái lúc không phải mùa của nó[ x. Mc 11, 12-14. 20-21], thì đó là một hành động vô lý trong “bản chất” theo nghĩa Hy Lạp, nhưng đó là một hành động bộc lộ”bản chất” của một ngôn sứ tuyên bố về số phận của dân Ít-ra-en.
4.3 Mạc khải mang tính cách xã hội
Mạc khải của Thiên Chúa, cho dù có ngỏ với tập thể hay cá nhân, thì không báo giờ là chuyện hoàn toàn riêng tư, nhưng là cách thức để Thiên Chúa ngỏ với nhân loại và để thực hiện chương trình cứu độ của Ngài cho nhân loại.
Sách Thánh không nhìn con người không dưới khía cạnh cá nhân nhưng dưới khía cạnh tập thể. Trong Tân Ước, ý muốn của Thiên Chúa được tỏ bày với từng cá nhân, nhưng không có nghĩa là chuyện riêng của cá nhân, mà là, qua từng cá nhân, với tất cả sự tôn trọng cá nhân, Thiên Chúa ban hồng ân của Ngài nhằm phục vụ cho toàn thể Giáo Hội vào con người.
Chúng ta hiểu được tính cách hòa hợp giữa cá nhân và tập thể qua mầu nhiệm” các Thánh cùng thông công”. Thiên Chúa không ban ân huệ cho bất cứ một cá nhân nào, ngay cả với Đức Maria, như là những ân huệ riêng và để dùng riêng. Chíng vì Giáo Hội và để mang lại lợi ích cho Giáo Hội mà Đức Maria cũng như các Thánh được đón nhận những ân huệ cao quý cho mình. Đó là những hồng ân nằm trong mầu nhiệm” Các Tháng cùng thông công”; đó là gia sản chung trong một cộng đoàn các phúc nhân, nhằm chống lại sức mạnh liên lụy chung của thế lực sự ác.
Ở đây, mạc khải dính dáng đến một vấn đề khá quan trọng trong đời sống con người: mối tưiơng quan giữa cá nhân và tập thể. Nói chung, trong thời đầu của các nền văn minh, chỉ có tập thể mới quan trọng, cá nhân không hoặc rất ít được quan tâm và tôn trọng. Tính cách tập thể lấn áp phẩm giá của cá nhân. Tuy nhiên, nền văn minh Tây phương đã dần dần triển khai tính cách cá nhân và khía cạnh này không ngừng lớn lên, nhiều khi đi tới mức quá đáng(Alain Laureent, Lịch sử cá nhân luận, Col. Que sais-je? Bản dịch của Phan Ngọc, Nxb. Thế Giới, Hà Nội 1999). Cuộc “cạnh tranh” loại trừ giữa cá nhân và tập thể chỉ tạm chấm dứt, về phương diện lý thuyết, từ giữa thế kỷ XX ( X. Emile Brehier, Những Chủ đề Hiện đại của Triết Học, bản dịch của Mai Vi Phúc, kỷ nguyên 1969, trang 56-61). Tinh thần đề cao cá nhân của thế giới Tây Phương cũng ảnh hưởng trên các lục địa khác cùng với sức mạnh của nền văn minh khoa học kỹ thuật. Ngày nay, người ta hiểu ra cá nhân và tập thể thực sự không loại trừ nhau, nhưng hòa hợp tự trong bản chất con người.
Chúng ta cũng thấy một tiến trình song song trong lịch sử ơn cứu độ. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa giao ước với dân Ít-ra-en như một dân. Trong Tân Ước, Thiên chúa đi sâu vào cảnh huống của đời người, và Ngài cũng đến với từng cá nhân với những hoàn cảnh riêng biệt
(Đặc điểm của Giao Ước Mới là mối liên hệ giữa từng cá nhân với Thiên Chúa. X. Dt 8,11[x. chú thích b trong Bản dịch Các giờ Kinh Phụng Vụ], 1 Tx 4,9; 1 Ga 2,27;5,20….
Quan niệm về mạc khải của Giáo Hội cho thấy tính cách cá nhân và tính cách xã hội luôn hòa hợp với nhau. Quan niệm ấy cũng cung cấp cho chúng ta một điểm tựa cho một quan niệm nhân học đúng đắn.
4.4 Mạc khải mang tính cách lịch sử
Mạc khải của Thiên Chúa được thể hiện như là sự can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử. Mạc khải có tính cách lịch sử xét như la một sự tiến bộ theo dòng thời gian, để dẫn dắt lịch sử của nhân loại đến ngày Cánh chung. Hơn nữa, mạc khải dính liền với những biến cố lịch sử và Thiên Chúa tỏ bày chính Ngài qua sự can thiệp của Ngài vào lịch sử, tạo nên một lịch sử ơn cứu độ.
Thiên Chúa không dạy” cấp tốc” những bài học trừu tượng, nhưng Ngài tỏ bày chính Ngài. Việc tỏ bày chính mình như thế, để được đích thực, phải là tỏ bày qua dòng lịch sử. Tính cách lịch sử, làm nên một lịch sử cứu độ, là tính cách riêng biệt của của mạc khải Do Thái – Kitô giáo. Cách thức ấy không thể tóm gọn trong những khái niệm, không thể đốt giai đoạn bằng một vài phút xuất thần. Thiên Chúa tỏ bày chính Ngài bằng cách thể hiện sự liên đới của Ngài với đời sống của Dân, và cách thức ấy chỉ có thể chân chính khi được thể hiện qua một quá trình sống. Chính một sự can thiệp trung tín của Thiên Chúa trong dòng lịch sử như thế có thể tỏ bày, hay thể hiện, khuôn mặt một Thiên Chúa từ bi thương xót và tha thiết ban ơn cứu độ của Ngài.
Mạc khải như thế được diễn ra trong lịch sử, với những thời điểm và vị trí cụ thể của lịch sử, qua những biến cố liên can đến đời sống của Dân[Xc Đnl 26,5-9;Gs 24, 2-13; 1Cr 15-3-5].Cũng thế, người tín hữu đón nhận mạc khải của Thiên Chúa để sống một cuộc đời với đầy những kỷ niệm về Thánh ý và về những hành động của Chúa trong đời mình.
Quả thật, Thiên Chúa Cha đã không cho Dân biết ”danh tính” của Ngài như một danh hiệu có sẵn từ đời đời, nhưng cho tỏ bày” thực chất” của Ngài qua những việc Ngài đã làm và những lời Ngài qua những việc Ngài đã làm và những lời Ngài đã hứa[x. Xh 3,14-15].
Đức Giêsu không chỉ tỏ mình ra là Đức Chúa như một vị thế có sẵn, nhưng thiết yếu, Ngài thực hiện vai trò của Đức Chúa: hóa thân làm người, sống kiếp phàm nhân, chịu khổ hình, Phục Sinh vinh hiển và được tôn phong làm Đức Chúa[x. Pl 2, 1-11].
Cũng thế, Chúa Thánh Thần là Đấng ta chưa “nắm bắt’ được. Ngài tỏ mình ra cách “mù mờ” có lẽ cũng chính vì Ngài đang làm công việc của Ngài, và ta chỉ có thể hiểu biết về Ngài rõ ràng hơn ở cuối chặng đường lịch sử, khi Ngài hoàn tất việc tỏ mình ra của chính Ngài cho nhân loại.
Thiên Chúa mặc lấy danh hiệu sau khi đã làm. Ngài mạc khải “danh tính” của Ngài qua một quá trình làm việc với Dân. Ngài cùng liên đới với con người trong dòng lịch sử đời người. Qua dòng lịch sử ấy, Ngài thiết lập mối tương quan thân tình với con người. Thực sự , mạc khải của Thiên chúa là mạc khải chính bản thân; ta khó có thể tưởng tượng ra một cách thức nào khác để mạc khải chính bản thân cho người mình quý mến.
4.5 Mạc khải mang tính cách nhập thể
Mạc khải được tỏ bày một cách thích nghi với tâm thức cụ thể của con người trong dòng lịch sử. Mạc khải là Lời của Thiên Chúa nói với con người bằng “ngôn ngữ” của chính con người. “Ngôn ngữ’ ở đây không phải chỉ là”lời nói” nhưng còn là cách thế và là sự hội nhập của Thiên Chúa vào đời sống cụ thể của con người. Ngài tỏ mình cho những con người cụ thể, có tâm thức và hoàn cảnh riêng. Với những con người cụ thể ấy, Ngài “nói” qua não trạng, trình độ hiểu biết của họ; và Ngài nói về chính những vấn đề của cuộc sống thật. Như thế, việc mạc khải chính bản thân mình được Thiên Chúa thực hiện qua việc làm và lời nói.
Trong chiều hướng đó, chúng ta cũng nhận ra” một chút” thay đổi trong cách thức Giáo Hội trình bày phương thế mạc khải. Trước đây, khi chỉ thấy mạc khải là việc Thiên Chúa tỏ bày những chân lý thuộc lãnh vực hiểu biết, các nhà thần học, đặc biệt là nền th6àn học Công Giáo, thường quan niệm mạc khải như một lời nói. Công đồng Vatican II lại trình bày mạc khải của Thiên Chúa bằng hành động và lời nói; hay nói cách khác, đó là hành đọng của Thiên Chúa có lời giải thích của Ngài:
“Công cuộc mạc khải này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ, củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói thì ôcng bố các việc làm và khai sáng mầu nhiệm chứa đựng trong đó”[MK 2].
Thiên Chúa tỏ bày chính Ngài qua những hành động cụ thể, qua việc Ngài dẫn dắt lịch sử Dân Chúa, đặt biệt qua giao ước mà chính Ngài đã đi bước trước để liên kết với con người. Những hành động ấy lại luôn được Lời Chúa, qua các ngôn sứ, qua lề luật, giải thích rõ ý định của Ngài. Mạc khải như thế nhằm mời gọi con người nhận ra Thánh ý Chúa và cùng tham gia vào lịch sử cứu độ như một công cuộc chung.
4.6 Mạc khải mang tính cách đạo lý và thiết thực
Mạc khải không phải là một bài học khôn ngoan như những bài học khôn ngoan trong thế gian, cũng không phải là một chân lý khoa học nhằm gia tăng sự hiểu biết của con người; nhưng mạc khải là một giáo huấn mang tính cách tôn giáo, luôn dính dáng cách này cách khác tới nhiệm cục cứu độ. Do đó, mạc khải có tính cách siêu nhiên. Đồng thời mạc khải cũng có tính cách thiết thực, nghĩa là nhằm tới những sinh hoạt cụ thể của con người chứ không phải chỉ là kiến thức suông.
Như thế, những chân lý mạc khải không phải chỉ là những bài toán thách đố trí khôn nhân loại, nhưng chính là ánh sáng chiếu soi cho cuộc sống. Điều này cho thấy những khẳng định tín lý cần phải được triển khai thành những giá trị nhân sinh chứ không phải chỉ là”mầu nhiệm” theo nghĩa là những gì lơ lửng chẳng dính dáng chi đến tình tự cuộc đời.
Mạc khải nhằm mời con người sống hiệp thông với Đức Kitô, chia sẻ sứ vụ của Ngài và chia sẻ chức phận làm con Thiên Chúa của Ngài.
“Thiên Chúa là Đấng trung thành, người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Coan của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”[l Cr 1,9].
4.7. Mạc khải mang tính cách cứu độ
Mạc khải chính là cách thức Thiên Chúa can thiệp vào cuộc sống con người để dẫn đưa con người tới ơn cứu độ trọn vẹn của Ngài. Mạc khải nhằm để cho cuộc sống con người được hiệp thông với sự sống của Chúa và được sống dồi dào.
Cuộc tranh luận tại Công Đống Vatican II về đường nét của măc khải cho thấy một chiều hướng quan trọng trong việc đón nhận và giải thích Mặc khải, đó là chiều hường cứu độ. Cuộc tranh luận ấy được tóm lại trong Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa [MK 11b].
“Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh ứng viết ra, tức các thánh sử, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những[?] Chân lý*mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta (la vérite que Dieu pour notre salut a voulu voir consigée dans les lettres sacrées). Bởi vậy, “mọi sự trong Thánh Kinh được Thiên Chúa linh ứng có ích lợi cho việc dạy dỗ, biện luận, sửa trị và rèn luyện trong công chính; để người của Thiên Chúa trở nên trọn hảo và sẵn sàng thực hiện mọi việc lành”[2 Tm 1, 16-17, bản Hy Lạp]. [11b]
Bản dịch của Học Viện Pio X chú thích về đoạn văn này như sau:
Kết quả linh ứng là “chân lý” của Thánh Kinh. Trước kia lược đồ 2 chỉ nói”vô ngộ”; sau đó bản thảo thứ 3 lại thêm” vô ngộ và chân lý”; trong bản thảo thứ 4, Uy ban thêm tĩnh từ”cứu rỗi” vào danh từ “chân lý”. Điều này gây nên một cuộc tranh luận rộng lớn và sôi nổi, vì người ta cho rằng như thế sẽ hạn chế tính cách vô ngộ của Thánh Kinh vào những điều siêu nhiên và đi ngược lại Giáo Huấn của các Đức Giáo Hoàng gần đây. Uy ban chấp nhận đề nghị sửa đổi của 73 nghị phụ”vì phần rỗi chúng ta” trong khi nhấn mạnh là linh ứng không bị giới hạn vào một phần nào của Thánh Kinh. Những câu này chỉ rõ đặc tính riêng biệt của chân lý Thánh Kinh, nghĩa là chiều hướng để hiểu đúng những xác quyết của Thánh Kinh. Chân lý Thánh Kinh chứa đựng tronh những lời xác quyết hay lời giáo huấn của các tác giả chứ không trong những từ ngữ.. Những giáo huấn ấy không bị giới hạn trong “ đức tin và luân lý” bởi vì các” chân lý cứu độ” cũng bao gồm cả những sự kiện lịch sử. Nên lưu ý là bản văn không nói “ những chân lý”, nhưng nói”chân lý” theo số ít, và chân lý ở đây hiểu theo nghĩa Thánh Kinh, nghĩa là hàm chứa sự biểu lộ của Thiên Chúa chân thật,[ chứ khôngtheo nghĩa duy trì]. Chân lý lịch sử của Thánh Kinh không nhất thiết hệ tại việc dựng lại các sự kiện theo thời gian và hoàn cảnh xã hội, nhưng hệ tại sự giải thích các sự kiện, nghĩa là dưới phương idện những sự kiện đo diễn tả mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa.
Như thế, nét căn bản của măc khải là tính chất cứu độ. Những chân lý mạc khải không phải là những bài toán đố, được thiết lập như một cuộc khảo hạch, để đáp ứng những điều kiện phụ thuộc trước khi đón nhận ân sủng của Chúa. Người tín hữu không tìm thấy trong mạc khải những chân lý khoa học, những kiểu sử thế khôn ngoan… Chân lý mạc khải cũng không chỉ là những kiến thức về Thiên Chúa, nhưng là tỏ bày sự hiện diện và hành động của chính Thiên Chúa, Đấng đang thực hiện ơn cứu độ của Ngài cho con người; đó là chân lý có khả n8ang hướng dẫn cuộc sống con người và mời gọi con người bước vào mối tương quan thân tình với chính Chúa ( Ngoài ra, trong phần dẫn nhập Hiến Chế, Cha P. Gomez cũng viết:” Việc xác định chân lý Thánh Kinh ở số 11 là một điều rất quan trọng. Người ta không thể tìm thấy trong Thánh Kinh bất loại chân lý nào[ khoa học, lịch sử,địa lý, dân chủng học…] nhưng chỉ có thứ chân lý cứu thoát chúng ta, và ta cũng nên lư ý Công Đồng không nói những”chân lý” nhưng nói”chân lý” ở số ít; chân lý ấy đồng thời cũng là sự sống. Là đường dẫn đến sự cứu độ. Điều đó muốn nói rằng chân lý của chúng ta không phải chỉ là một điều ta biết suông, nhưng là một bổn phận phải thực hành,”những thực hành chân lý”[Xc. Ep 4,15], và phải tiến tới trong chân lý,”đi trong chân lý”. Công đồng muốn giải phóng thần học khỏi quan niệm Hy Lạp về chân lý quá tĩnh, để trở về với ý niệm Do Thái linh động hơn, cởi mở hơn đối với mầu nhiêm thiên Chúa”
Thực sự, theo đường lối của Công đồng Vatican II, Thiên Chúa của Mặc khải, cách chính yếu và chân thực, chính là Thiên Chúa ban ơn cứu độ. Những loay hoay tìm biết Thiên Chúa theo kiểu khoa siêu hình về Thượng Đế, thực ra, chỉ là thái độ của những anh mù sờ voi .
* * *
Những đặc tính của mạc khải không là gì khác hơn những chiều kích phong phú của cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và người tín hữu. Cuộc gặp gỡ chân chính giúp hai bên hiểu nhau hơn và gắn bó với nhau hơn. Cuộc gặp gỡ chân chính xây dựng tình bằng hữu và thuộc về nhau cách trọn vẹn hơn.
Kết
Chúng ta thấy rằng những nổ lực tìm hiểu Thiên Chúa bằng lý trí con người, những phẩm tính của Thiên Chúa được loại suy từ những đức tính của con người, từ những đức tính thuộc văn hóa của một thời đại nhất định chẳng hạn: một Thiên Chúa là”hiện thể thuần túy”, Thiên Chúa”hằng hữu”, một Thiên Chúa công bằng…], những điều ấy thường có nguy cơ bóp méo hình ảnh của Thiên Chúa mạc khai và trình bày một Thiên Chúa đè bẹp con người chứ không phải luôn mang lại sự giải thoát và ơn cứu độ.
Mạc khải trình bày với chúng ta một vị Thiên Chúa giao tiếp cụ thể, liên đới trách nhiệm và đầy tràn tình yêu thương. Thiên Chúa của mạc khải là đấng mở rộng để mọi người có thể “sống với”, sống sung mãn trong sư ”hiệp thông các ngôi vị” với chính Ngài.
Mạc khải ấy không chỉ tỏ bày nhưng còn thực hiện; và tính chất cao cả của mạc khải không phải chỉ là những chân lý cao siêu vượt quá trí khôn con người, nhưng đích thực là một nhiệm cục đưa dẫn con người tới mọt tình trạng mà con người tự mình không thể đạt đến được.
Như thế tất cả những điều gì khác, tín điều, Kinh Thánh, kỳ công dấu lạ… chỉ có ý nhgiã như là những cách thức Thiên Chúa tự bộc lộ chính bản thân Ngài. Mạc khải như thế cũng không nhằm thưởng công, cho con người một sự thụ hưởng nào, mà là mời gọi con người vào sống trong tinh thần nghĩa thiết của Thiên Chúa.
Hai người kia cùng làm chung trong một nông trường. Hàng ngày và qua nhiều năm, hai anh đã từng chơi với nhau, ăn với nhau, và cùng cuốc đất với nhau.
Một hôm, hai người được cử cùng đi công tác chung, đi mua một dàn máy ép dầu cho nông trường. Đó là một chuyến đi vất vả và cực nhọc.
Khi trở về, hai anh chia sẻ: chuyến công tác của chúng tôi đã thành công.Tuy nhiên, điều quý giá hơn là qua chuyến công tác này, chúng tôi có được một kinh nghiệm gặp gỡ. Gặp gỡ không phải chỉ la ăn chung, nói chuyện, chơi đùa, nhưng gặp gỡ thực sự là một điều thiêng liêng hơn nhiều; tôi đã được GẶP GỠ người anh em của tôi trong chuyến công tác này và đó là một kinh nghiệm không thể nào quên trong suốt cuộc đời.