GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần 10

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Khi vừa được khai sinh, Kitô giáo đã phải đối diện với một “gã khổng lồ”, triết lý Hy La. Do đó, nhiều suy tư thần học và đời sống tâm linh Kitô giáo đã phải thích ứng để sống và để chiến thắng được hệ thống triết học ấy. Một cách nào đó, cuộc đấu đầu ấy đã mang lại kết quả tốt đẹp, nhưng không phải là không có những “thương tích”. Suy tư thần học chịu ảnh hưởng nhiều do nguồn mạch triết học Hy La, mà ngày nay, người ta thấy có khá nhiều điểm khác biệt, nếu không muốn nói là đối lập nhau trong nhiều nguồn mạch.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Bài 6.2 ĐỜI SỐNG TÂM LINH KITÔ GIÁO

1. Đời sống thiêng liêng Kitô giáo

1.1 Ảnh hưởng của triết học Hy Lạp

Khi vừa được khai sinh, Kitô giáo đã phải đối diện với một “gã khổng lồ”, triết lý Hy La. Do đó, nhiều suy tư thần học và đời sống tâm linh Kitô giáo đã phải thích ứng để sống và để chiến thắng được hệ thống triết học ấy. Một cách nào đó, cuộc đấu đầu ấy đã mang lại kết quả tốt đẹp, nhưng không phải là không có những “thương tích”. Suy tư thần học chịu ảnh hưởng nhiều do nguồn mạch triết học Hy La, mà ngày nay, người ta thấy có khá nhiều điểm khác biệt, nếu không muốn nói là đối lập nhau trong nhiều nguồn mạch.

Trong truyền thống triết học Platon, tinh thần có nghĩa là đối nghịch với vật chất. Quan điểm này đã ảnh hưởng rất sâu trong Giáo Hội và trở nên một linh đạo chính yếu cho đời sống thiêng liêng Kitô giáo. Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy có một nguồn mạch khác hẳn của đời sống thiêng liêng. Người tín hữu được kêu gọi sống theo tinh thần của Chúa. Người sống theo tinh thần của Chúa [Thần Khí] sẽ sống dưới tác động của Thiên Chúa, sống phù hợp với những điều Chúa muốn, họ thuộc về “thế giới của Thiên Chúa”. Nhưng thế giới của Chúa không đối lập với trần gian cụ thể mà con người đang sống, không đối lập với vật chất, mà là đối lập với “xác thịt”, tức những gì là thấp hèn của thế gian.

Như thế đời sống thiêng liêng Kitô giáo, chính yếu, không đương nhiên phải là khinh chê thế gian, để sống những gì thuần túy là tinh thần, mà là sống bằng “tinh thần” của Chúa ngay trong thế gian.

1.2 Nẻo đường nội tâm

Trong truyền thống Giáo Hội, khi nói về con đường tu đức, người ta luôn nhắc đến”đới sống nội tâm” (“la vie intérieure” hay “la vie spirituelle”.), và coi đó như là con đường duy nhất để những tâm hồn khao khát có thể đến củng Chúa.

Một lịch sử lâu dài của Giáo Hội, với biết bao vị thánh, có thể là bằng chứng xác thực về giá trị con đường nội tâm ấy. Tuy nhiên, con đường nội tâm như thế lại thường được coi như con đường duy nhất; điều này khiến cho những người đang trầy trật trên đường đời cảm thấy mình bị loại trừ. Làm sao có thể sống “nội tâm” được khi mà người ta còn phải đấu tranh để giành lấy sự sống, khi người ta còn biết bao lo toan về trách nhiệm thường ngày?

Thật ra, nhìn lại lịch sử chúng ta có thể nhận ra con đường nội tâm ấy chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Thánh Âu Tinh; và Âu Tinh lại chịu ảnh hưởng nặng nề của Platon qua triết gia thần bí Plotin. Chúng ta có thể thấy hầu hết những nét căn bản của con đường Âu Tinh đều đã có trong học thuyết của Plotin : lòng khát vọng tuyệt đối, xa lánh cuộc đời, khinh chê trần gian, và nhận ra sữ hòa hợp giữa “cái bên trong” và “cái trên cao”.

Plotin đã nói lên ý tưởng này: “Có một sự gần gũi của những sự vật thâm sâu và những sự vật tối cao… Chiều cao và chiều sâu trao cho nhau nụ hôn hòa bình”; và điều đ1o chắc hẳn vang vọng trong tâm tình của Âu Tinh: “Chúa còn ở sâu trong con hơn chính con và cao hơn sự cao cả trong con” (“Deus interior intiomo meo et superior summo meo”). Chính Âu Tinh cũng thú nhận rằng học thuyết tân-Platon [plotin] đã mở đường cho ngài đến với Kitô giáo.

Hơn ai hết, Âu tinh là con người sống mãnh liệt và chân thực. Âu Tinh đã đi vào con đường của Plotin, không phải bằng lập trường tri thức, không phải bằng một phương pháp tập luyện, nhưng bằng chính máu thịt của một cuộc đời tìm kiếm. Kinh nghiệm của Âu Tinh thực sự là một bằng chứng hiển nhiên cho con đường nội tâm. Tuy nhiên sự lầm lẫn xẩy ra khi người ta coi đó là con đường duy nhất của tất cả những ai khao khát sống một đời sống thân mật, sống mối tương quan”thâm sâu” với Chúa.

Sự ngộ nhận đó vô tình làm cho nẻo đường cứu độ của Đức Giêsu đi vào vết xe của những học thuyết luân lý khác: con đường dành cho những người ưu tuyển. Một cách ngẫu nhiên, khi quá đề cao con đường nội tâm, Giáo Hội lại bỏ quên những người nghèo, những người “mang gánh nặng nề” mà Chúa Giêsu đã hết lòng yêu thương. Con đường của Đức Giêsu, trước hết và ưu tiên, dành cho những người nghèo và những người bé mọn, những người đang bị giằng xé bởi biết bao nhiêu chuyện phải lo trên đường đời.

Công đồng Vatican II khẳng định ơn gọi nên thánh của mọi người Kitô hữu (X. Gh 39; và cả chương V.) và khẳng định môi trường sống của những người Kitô giáo dân tính là cuộc sống trần thế (X. Gh 31b; TĐGD 13.). Điều đó buộc chúng ta nhìn lại lối quan niệm truyền thống về đời sống thiêng liêng trong lịch sử Giáo Hội.

2. Những thái độ lệch lạc trong Dân Ít-ra-en

Trong truyền thống Thánh Kinh, vấn đề được nhìn theo khía cạnh khác: hoặc trung tín với chính Chúa hoặc dừng lại ở những phương thế diễn tả.

Những phương thế diễn tả là những cử chỉ, hành vi, thái độ, lời nói cụ thể, rõ ràng mà người ta có thể dễ dàng kiểm nghiệm. Do đó, con người cũng dễ bám vào những phương thế ấy để đánh giá nhau hoặc để xác định tâm hồn của mình trước Thiên Chúa. Tuy nhiên, chuyện đáng nói là những phương thế diễn tả ấy, rất thường, lại trở thành một qui luật khiến người ta an tâm với hình thức được thể hiện, khiến người ta biện minh cho bản thân mình bằng cách khẳng định sự cần thiết không thể thay thế của những thái cử trong khuôn phép cứng đọng ấy. Đó là thái độ “nghiêm nghị”. Trong tôn giáo, chọn thái độ bên ngoài thay thế sự gặp gỡ trọn vẹn, đó là cách thức không thể hiện được mối tương quan ngôi vị; cuộc sống con người trở thành “kỹ thuật”; sinh hoạt bên ngoài thay thế cho tâm hồn, khuôn phép luân lý thay cho lòng tri ân.

Cám dỗ lớn của con người nói chung, và cũng là cám dỗ lớn của Dân Chúa là thích tìm an tâm trong những qui luật, trong những nghi thức phượng tự, trong thái độ tự hoàn thiện bản thân bằng đời sống luân lý gương mẫu… Thái độ này biểu hiện rõ nét nhất trong những người biệt phái, luật sĩ và nhóm Saducéo thời Chúa Giêsu.

Chúng ta có thể duyệt xét mối tương quan này theo một số khía cạnh như sau:

2.1 Lề luật

Yếu tố làm nên sự thống nhất và vững bền của Dân Ít-ra-en chính là Lề luật. Tuy nhiên, đây không phải là luật của sự khôn ngoan con người, cho dù người ta thấy được khá nhiều điều trỗi vượt của lề luật Mai sen so với những suy tư của các triết gia ngoại giáo. Đối với Dân Chúa, Lề luật gắn liền với Giao Ước, và vì thế chỉ có Luật Mô-sen mà thôi, vì Mô-sen là trung gian của giao ước. Do đó, từ ngữ Luật [Tôra] của người do thái có ý nghĩa rộng hơn và ít chuyên về pháp luật như từ pháp luật [Nomos] của Hy Lạp. Luật của Dân Chúa là giáo huấn của Thiên Chúa và người ta tuân giữ luật vì trung thành với Thiên Chúa mà họ đã giao ước. Tuy nhiên, theo dòng lịch sử, Dân đã biến lề luật thành một mớ qui định tỉ mỷ; các nhà giải thích luật đã làm cho luật nên quá chi tiết và quá tế vi. Điều ấy đưa đến một hệ quả tai hại : người ta nên công chính do giữ kỹ lưỡng lề luật chứ không còn phải do tấm lòng chân thành với Chúa; luật trở nên gánh nặng và chỉ có một số rất ít người có thể giữ được cách tương đối; người ta ganh đua nhau tuân giữ lề luật và tưởng như ơn cứu độ là do chính công sức của mình.

Đức Giêsu đã chống lại quan niệm vụ luật như thế và những cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với người Do Thái về lề luật trở nên một vấn đề nóng bỏng. Đức Giêsu không bãi bỏ lề luật nhưng kiện toàn từng chấm từng phẩy [xc. Mt 5, 17]. Cách thức hoàn tất từng chấm từng phẩy như thế không phải là giữ luật chi li, hình thức, nhưng là trả lại cho Luật cái hồn của lòng trung tín và thể hiện ý muốn đích thực của Thiên Chúa khi ra lề luật : Ngài chữa bệnh ngày Sabát, Ngài cảm thông với người đói cần ăn trong ngày Sabát, Ngài vượt qua luật ô uế… Nhất là Chúa Giêsu công bố Ngài là Luật mới, Ngài là Thầy duy nhất [xc. Mt 23, 10], ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền, sự hiện diện của Ngài còn hơn cả ngày sabát nữa [xc. Mc 2, 22-27]…

2.2 Phượng tự

Ngay từ đầu, ý nghĩa căn bản của nền phượng tự trong Dân Chúa đã là thể hiện thái độ của tâm hồn [xc. St 4, 3 tt]. Tuy nhiên, theo đà suy thoái, Dân Chúa lại thường giản lược việc thờ phượng Chúa thành những lễ nghi hoàn toàn hình thức. Nhiều lần trong lịch sử Dân Chúa, khi sinh hoạt phượng tự sầm uất thì đời sống luân lý thường ngày lại sa sút và đầy rẫy bất công. Các ngôn sứ đã hết sức nặng lời để thức tỉnh Dân về thái độ sa đọa này:

“Đức Chúa phán: ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với ta, nào có nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã chán ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! Khi các ngươi đến trình diện Ta, ai khiến các ngươi phải dẫm lên khuôn viên của Ta. Thôi đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sabát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cử lễ lạc linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa.” [ls 1, 11-14[Xc. Hs 6,6; Am4, 1-5; Ed 7, 21 …].

Tiếp nối truyền thống ngôn sứ, Đức Giêsu phục hồi ý nghĩa phượng tự chân chính khi khẳng định rằng: “Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” [Ga 4, 23]. Chúa Giêsu nhắc lại giáo huấn của ngôn sứ: “Vì ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu” [Mt 9, 13a; x. Hs 6,6]. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn tuyên bố phá bỏ nền phượng tự cũ để thiết lập nền phượng tự mới bằng chính hy lễ bản thân mình chứ không phải chỉ là những nghi thức hoàn toàn bên ngoài [x. Ga 2, 13-22].

2.3 Thanh sạch và nhơ uế

Theo quan niệm chung của các tôn giáo cổ xưa, nguyên nhân làm cho con người nên trong sạch và nhơ uế thường không phải do hành vi luân lý nhưng do những úy kỵ nghi thức. Người ta ra nhơ uế là do chạm phải đồ vật nhơ uế chứ không phải do thái độ luân lý xấu xa, “Ai đụng vào người chết, bất cứ người chết này là ai, đều bị nhiễm uế trong bảy ngày liền” [Ds 19, 11]. Cũng thế người ta thanh tẩy khỏi nhơ uế bằng nghi thức “Để thanh tẩy người bị nhiễm uế, người ta sẽ lấy một chút tro của con vật đã được hỏa tế làm lễ tạ tội mà pha với nước lã trong một chiếc bình. Rồi một người còn thanh sạch lấy nhành hương thảo nhúng vào nước và rẩy lên lều, lên tất cả các vật dụng cùng mọi người ở đó, lên kẻ đụng vào xương cốt vào người bị gươm đâm, hoặc tử thi hay là mồ mả” [Ds 19, 17-19; xc. Ds 19; Xh 29,37]… Các ngôn sứ, tuy vẫn bảo vệ nghi thức phượng tự nhưng không ngừng nhắc nhở một thái độ của tâm hồn, nhơ uế chính là do hành vi gian ác và thanh tẩy không phải chỉ là nghi thức tế tự “Hỡi con người, con cái nhà Ít-ra-en đang cư ngụ trên đất của chúng, đã làm cho đất ấy ra ô uế vì lối sống và cả hành vi của chúng” [Ed 36, 17]; “Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngưoi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi…” [Ed 36, 25-26]

Trong đường hướng ấy, đức Giêsu xác định nguồn gốc của nhơ uế là “ở trong”, do chính tâm hồn con người; Ngài khẳng định rõ ràng “Xin mọi người nghe tôi nói đây và hiểu cho rõ: không ai có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ta ô uế” [Mc 7, 14-15].

Quả thật, khi những thái độ bên ngòai trở thành mẫu mực, không thể khác đi, không thể thêm bớt… người ta đánh mất “tinh thần” và rơi vào thái độ nghiên nghị. Thái độ này khiến cho người ta chỉ còn cách thực hiện bản thân mình theo những tiêu chuẩn hoàn thiện và tìm thấy một sự an tâm giả dối.

Ngược lại, đối với Kinh Thánh, tỉnh thức luôn luôn là tỉnh thức để đón nhận một Đấng chứ không phải chỉ là thái độ khôn ngoan hay đạo đức mà thôi. Sám hối luôn là quay về với Chúa chứ không phải chỉ là sửa đổi một vài tật xấu. Trung tín là nhận ra Thiên Chúa đằng sau một lề luật, mọi nghi thức và qui định. Đây không phải là một thứ đạo “nội tâm”, nhưng chính là sự gặp gỡ chân chính, là chính những tấm lòng gặp gỡ nhau. Tỉnh thức là không rơi vào thái độ an tâm vì những sinh hoạt quen thuộc, không hoàn thiện bản thân bằng những công việc tự mình tô vẽ cho bản thân, và tỉnh thức là nghe được tiếng Chúa nói trong đời mình, nói với lòng mình, và nói về chính Ngài cho chúng ta trong tương quan yêu thương.

3. Đời sống thiêng liêng chân thật

Tinh thần Dân Ít-ra-en có một nét tiêu biểu không thể lẫn lộn vào đâu được: sống với Chúa trong một quá trình lịch sử. Dân Ít-ra-en không suy ra Thiên Chúa, nhưng kinh nghiệm thấy hành động của Thiên Chúa trong cuộc sống. Chính cuộc sống thường ngày trước nhan Chúa như thế làm nên lịch sử ơn cứu độ.

Như thế, chúng ta cũng có thể khám phá những khía cạnh cụ thể và sống động của đời sống thiêng liêng Kitô giáo dựa theo tiến trình của sự gặp gỡ đời thường. Gặp gỡ là chia sẻ công việc với nhau; gặp gỡ là biết chiều ý nhau và gặp gỡ là tri ân nhau.

3.1 Gặp gỡ là chia sẻ công việc với nhau

Trong cuộc sống của chúng ta có biết bao nhiêu mối liên hệ : khách hàng với người mua, những người bà con láng giềng với nhau, người khách tình cờ gặp trên xe đò… Trong số những mối liên hệ ấy, có khá nhiều cuộc gặp gỡ chỉ dừng lại ở mức độ công việc, mức độ xã giao, mức độ lễ nghi. Sau những cuộc gặp gỡ qua đường ấy, kết quả còn lại chỉ là: đường ai nấy đi, đời ai nấy sống; và những nỗi đau sâu xa nhất của từng con người thì vẫn là của ai nấy chịu …

Xã hội ngày nay càng ngày càng mất dần chiều sâu tình nghĩa, và tất cả mối tương quan con người đang dần dần biến thành mối tương quan sòng phẳng, theo tiêu chuẩn hơn thiệt, và đó là nguồn gốc sâu xa của biết bao nhiêu tranh giành, kiện tụng, đấu đá, chiến tranh. Trước đây, trong tình làng nghĩa xóm, khi một gia đình có việc, cả xóm giềng và anh em họ hàng cùng xúm vào để giúp nhau và điều đó làm cho cuộc sống kết dệt đầy những gặp gỡ thân quen. Hiện nay, người ta chọn phương thức thuê nhà hàng, trao cho dịch vụ… Công việc sẽ gọn gàng hơn, không phải phiền tới ai và có lẽ đỡ tốn kém hơn. Thậm chí, ở vài nước tiên tiến, người ta cũng chẳng thuê một người làm bếp để phải liên đới phiền hà, nhưng thuê công ty nấu ăn, và mọi việc cứ theo lý là xử. Thái độ không gặp gỡ như thế đi liền với thái độ tính toán hơn thiệt: chẳng ai muốn theo tiêu chuẩn “của ít lòng nhiều”.

Trong sứ vụ công khai, sau những lời giảng với các thính giả chung chung, từ chương năm Tin Mừng Luca, chúng ta thấy Chúa Giêsu bước vào thuyền đời của Phêrô (X. Lc 5, 1-11). Đó là một cuộc gặp gỡ đích thực vì nó là bước khởi đầu của một cuộc gặp gỡ mỗi ngày mỗi sâu xa và trọn vẹn hơn. Từ biến cố này, Phêrô không còn thấy Chúa Giêsu là một ngôn sứ cho mọi người cách chung chung nữa; Chúa Giêsu dính dáng vào cuộc đời ông, Chúa Giêsu chia sẻ công việc với Phêrô và mời gọi ông chia sẻ sứ vụ của Ngài. Chúa Giêsu bước vào thuyền của Phêrô, và cuộc gặp gỡ này không phải chỉ là một cuộc gặp gỡ qua đường, nhưng là một cuộc gặp gỡ thay đổi cuộc đời. Từ cuộc gặp gỡ này, Phêrô bỏ mọi sự mà theo Thầy [x. Mt 4,22], Phêrô tuyên bố “bỏ Thầy chúng con biết đến với ai“ [Ga 6,68]. Phêrô vui lòng chịu khổ vì Thầy [x. Cv 5,41], và cuối cùng Phêrô còn hy sinh mạng sống vì Thầy. Đó là một cuộc gặp gỡ đích thực, vì nó bắt đầu bằng việc chia sẻ công việc của nhau và mở màn cho tiến trình đi vào lịch sử thăng trầm của nhau, làm nên một lịch sử nghĩa-tình.

Nét căn bản của Do Thái-Kitô giáo là một lịch sử ơn cứu độ, nghĩa là một quá trình sống với Chúa, chia sẻ công việc với Chúa và để cho Chúa chia sẻ đời sống của mình. Chính bề dầy lịch sử nghĩa tình ấy làm nên gặp gỡ Chúa, làm nên mối thân quen với Chúa. Chún gta có thể khẳng định một lần nữa rằng một đời sống đạo không có kỷ niệm với Chúa mà chỉ là sống theo một lý tưởng, sống theo một ý thức hệ, sống theo một bộ luật luân lý, thì chưa phải là một đời sống đức Tin Kitô giáo đích thực.

3.2 Gặp gỡ và biết chiều ý nhau

Trong những mối tương giao không đụng đến ngôi vị, tất cả vấn đề chỉ là việc trao đổi sòng phẳng và được hướng dẫn theo qui luật công bằng. Tôi vào một quán ăn, gọi một tô phở 10.000 đồng. Ở đây, tất cả vấn đề chính yếu chỉ là sự “công bình” giữa phẩm chất tô phở của quán ăn và 10.000 đồng tôi bỏ ra từ túi tiền của tôi. Nếu một tô phở tồi, tôi tự nhiên hối tiếc, hậm hực; hoặc tôi có thể “kiện tụng”, kêu trách và có thể có một cuộc tranh cãi.

Nhưng nếu tôi gặp một người bạn và người bạn ấy mời tôi về nhà dùng cơm. Khi ấy, phẩm chất của bữa cơm không còn là điều quan trọng và dù tôi có phải bỏ ra một số tiền nào đó, mua chai rượu chẳng hạn, thì số tiền ấy cũng không phải là điều quan trọng. Tất cả chỉ là những phương tiện của cuộc gặp gỡ trong tình bạn, tất cả chỉ là những diễn tả giới hạn của một tình bạn chân thật hơn, thắm thiết hơn; mối liên hệ ấy thuộc lãnh vực tình người chứ không phải lãnh vực công bằng của việc so sánh những đồ vật với nhau.

Quả thật, khi đối diện với những sự vật, khi xoay sở trong thế giới sự vật, ta không ngu gì chấp nhận sự thua lỗ, thiệt thòi. Chỉ khi gặp gỡ con người, ta mới có thể vượt qua được những so đo tính toán trong thế giới sự vật.

Galilée đành phải tuyên thệ chấp nhận mặt trời quay chung quanh trái đất, dù ông tin rằng trái đất quay chung quanh mặt trời. Cũng thế, nếu ai dí súng vào lưng để bắt tôi nhận rằng hai với hai là năm, tôi sẽ chấp nhận ngay, thậm chí nếu muốn tôi tuyên thệ rằng hai với hai là mười cũng được. Tôi không ngu gì chịu hy sinh, mất mát, thua lỗ thiệt thòi vì một chân lý vô ngã như thế. Khi đối diện với thế giới sự vật, tôi phải tính toán điều gì tốt nhất cho bản thân tôi… Nhưng khi gặp gỡ con người với nhau, tiêu chuẩn của vấn đề đã đổi khác.

Xã hội càng văn minh, thì những thái cử của con người với nhau càng được chuẩn hóa; những gặp gỡ thường ngày càng “được” xác định bằng những lễ nghi, bằng những thòi tục quen thuộc thì chuyện tình-nghĩa càng ngày càng giảm sút. Chuyện tình-nghĩa chỉ khởi đầu khi người ta biết vượt qua mức lịch sử, vượt qua tiêu chuẩn công bằng để dám chiều ý nhau.

Trước Lời đề nghị của Chúa Giêsu: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”, Phêrô có quyền từ chối, vì”Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả!”. Phêrô có quyền từ chối chịu mất mát thêm thì giờ và công sức, nếu đây chỉ là một chuyện làm ăn, chuyện mua bán, chuyện hơn thiệt. Thế nhưng, Phêrô đã quyết định cách khác:”dựa vào Lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Lý do quyết định của Phêrô không còn là chuyện thành công hay thất bại trong công việc, nhưng là khởi đầu của chuyện tình chuyện nghĩa. Dựa vào Lời Thầy, Phêrô sẵn sàng phiêu lưu. Điều quan trọng không phải chỉ là phiêu lưu làm ăn nhưng chính là bắt đầu đi vào cuộc phiêu lưu trong mối tương quan gặp gỡ.

3.3 Gặp gỡ là tri ân nhau

Phêrô” bắt được nhiều cá đến nỗi hầu như rách cả lưới”. Tuy nhiên, Phêrô không dừng lại ở chuyện cá mú, chuyện lời lỗ, hơn thiệt, vì sau đó ông”bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Mẻ cá lạ lùng ấy làm cho hầu như lưới cá của ông muốn rách; nó vượt qua lãnh vực kinh tế để mở bung vào lãnh vực tình nghĩa,”Lạy Chúa,.. .. con là kẻ tội lỗi”.

Chỉ trên bình diện tình thương, người ta mới nhận ra điều thiếu sót của mình. Chỉ khi đón nhận tình thương chân chính, người ta thấy mình mắc nợ nhau trong tình tương thân tương ái.”Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh dể”, sách Diễm Ca ( Diễm Ca 8,7) nói với chúng ta như thế. Không một điều lấy gì có thể mua lấy tình thương, nghĩa là không một điều gì có đủ giá trị để đổi lấy tình thương; và thái độ chân chính nhất là trong tình thương luôn luôn là nhìn nhận “món nợ tương thân tương ái” như Thánh Phaolô đã nói[x. Rm 13,8].

Tương quan tình thương là “vô cùng”,đúng như người ta nói”giới hạn của tình yêu là tình yêu không giới hạn”.Không bao giờ được coi những công lao, những danh giá, cả những hy sinh nữa… là đủ cho tình yêu. Tình yêu thương là tặng vật của tự do mà không ai ép buộc hay đổi chác được. Trao tặng tình yêu thương là trao tặng chính bản thân mình. Đối diện với tình thương, thái độ chân chính nhất chỉ có thể nhận ra tính siêu việt của tình thương, nhận ra tính chất không đủ của mọi đổi chác và đón nhận với lòng tri ân . . . Trong mọi trường hợp, chỉ có tình thương mới đáp trả tình yêu, chỉ có lòng tri ân mới xứng với tình thương.”. . . con là kẻ tội lỗi”, câu nói ấy cho thấy cõi lòng Phêrô đã được mở bung ra trong lãnh vực tình thương.

Kết

Từ lãnh vực của trao đổi theo lẽ công bằng đến lãnh vực nghĩa-tình, bước sang giai đoạn tình-nghĩa là cả một bước nhảy; rồi từ giai đoạn nghĩa-tình, bước sang giai đoạntình-nghĩa, cho đến giai đoạn của tâm tình tri ân lại là cả một hành trình dài. Đó chính là hành trình chân chính của đời sống tâm linh Kitô giáo.

Tất cả những điều ấy giúp chúng ta hiểu ra phần nào cách thế Chúa Giêsu ở trong, Chúa ở trong Chúa cha và ở trong môn đệ; đồng thời cách thế môn đệ ở trong Chúa Giêsu như chúa giêsu ở trong Chúa Cha. Đời sống thiêng liêng Kitô giáo không là gì khác hơn một sự gặp gỡ với Chúa Giêsu, một sự gặp gỡ đưa đến việc thâm nhập vào trong nhau:

“Chúa Cha yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy, nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy,như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn”[Ga 15,9-11]

Một em bé được học tập để chào ông bà ngoại. Em học nói, học làm những cử chỉ. . . nhưng trong khi áp dụng, em khó lòng thể hiện được tấm lòng của mình đối với ông bà. Em phải làm đúng nghi thức và nỗi bận tâm về nghi thức ấy chiếm trọn cả sự chú ý của em. Ở một lúc khác, bình thường và tự nhiên hơn,có lẽ em sà vào lòng ông bà và nói một lời hồn nhiên khiến ông bà nhận được chính tấm lòng của cháu.

Một linh mục, có nhiệm vụ dâng lễ. Khi khoác chiếc áo lễ, và ca đoàn hát ca nhập lễ, vị linh mục nhâp vai một người tế lễ chính thức. Khi ấy, mọi sự diễn tiến theo một qui luật, qui luật của phụng vụ, qui luật của nghi thức . . . Trong khi tế lễ, linh mục có thể cũng chẳng thấy gì, chẳng thích thú gì . . . nhưng những lời đạo đức của nghi thức đã có sẵn và linh mục có thể làm xong một “ván lễ” mà lòng vẫn để đâu đâu hoặc chán ngấy. . .

Thiên Chúa chẳng vì tính cách hình thức luộm thuộm hay vì sự yếu đuối của con người ấy mà lấy làm buồn. Điều quan trọng hơn chính là thái độ “thường ngày” của đứa cháu hay vị linh mục, thái độ tin và trân trọng nhiệm cục cứu độ của Chúa trong tâm hồn.

Điều đáng buồn hơn chính là đứa bé chỉ biết chào hỏi khôn khéo nhưng chẳng hề một chút quí mến ông bà. Điều đáng buồn là có linh mục khăng khăng bảo vệ nghi thức, an tâm với nghi thức, với nề nếp sống, mà không có một chút tâm tình với Thiên Chúa cả.

Xem tiếp phần 11