Giá trị nhân bản Kitô giáo - Phần 2

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Có lẽ người Kitô hữu nào cũng biết Kitô giáo là đạo yêu thương. Nhưng không nhiều người hiểu rõ đặc tính của tình yêu thương Kitô giáo mà ta tạm gọi là yêu thương vị tha. Khoa nhân bản Kitô giáo cần phải nhận định rõ sự khác biệt giữa nhiều thứ yêu thương khác nhau và khẳng định đường nét của yêu thương Kitô giáo đích thực.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Bài 6 : Yêu thương vị tha

Có lẽ người Kitô hữu nào cũng biết Kitô giáo là đạo yêu thương. Nhưng không nhiều người hiểu rõ đặc tính của tình yêu thương Kitô giáo mà ta tạm gọi là yêu thương vị tha. Khoa nhân bản Kitô giáo cần phải nhận định rõ sự khác biệt giữa nhiều thứ yêu thương khác nhau và khẳng định đường nét của yêu thương Kitô giáo đích thực.

1. Tình yêu trong Kinh Thánh là tình yêu vị tha

Có một sự kiện cho thấy tầm quan trọng của sự khác biệt giữa nhiều loại yêu thương khác nhau : bản văn Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp đã rất ngại ngùng với từ ngữ eros (tình ái) vốn khá phổ biến trong văn chương Hy Lạp (chỉ có 2 lần trong Cựu Ước; Tân Ước thì không dùng từ này). Tân Ước tạo ra một từ khác là từ Agape (117 lần trong Tân Ước) và thánh Gioan thì dùng từ philia (tình bằng hữu) để diễn tả tình bằng hữu giữa Chúa Giêsu và các môn đệ.

Từ việc dùng những từ ngữ khác nhau trong Kinh Thánh, nổ ra một cuộc tranh luận lớn trải qua nhiều thế kỷ. Có những tác giả Tin Lành chống đối mọi thứ tình ái (eros) mang tính xác thịt con người để đề cao tình yêu vị tha của Thiên Chúa. Nhưng nói chung, Công giáo thì chấp nhận tình ái của con người, coi tình yêu nam nữ, vợ chồng là một thứ tình yêu căn bản nổi bật nhất.. nhưng với điều kiện là tình yêu phải được thanh luyện trong một thứ tình yêu vị tha (agape).

Đây là một từ ngữ quan trọng, diễn tả một thái độ căn bản của đạo yêu thương trong Kinh Thánh. Ta có thể thấy một giải thích tương đương trong hiến chế Mục Vụ của Công đồng Vatican II, số 24 để tìm hiểu :

“Con người, tạo vật duy nhất trên gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thật hiến dâng”

2. Nẻo đường tự chủ

Để có thể thành thật hiến dâng, trước con con người cần được “trả lại” sự tự chủ và trả lại phẩm giá tuyệt đối của mình. Phẩm giá tuyệt đối của con người nằm ở chỗ mỗi con người được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh của Ngài, nên không bao giờ được biến con người thành phương tiện, thành “con dê tế thần” cho một ai hay cho một điều gì khác.

Mỗi một con người, dù là một bào thai, dù là một người khuyết tật, tâm thần hay người già đang hấp hối…đều có quyền sống trọn vẹn cuộc đời mình và người khác phải được tôn trọng một cách tuyệt đối. Mỗi người đều được Thiên Chúa dựng nên vì chính mình, để hoàn thành cuộc đời mình, chứ không phải là phương tiện để mua vui cho Chúa, hoặc để xây dựng một công trình nào khác.

Một khi được tôn trọng và được trả lại “chủ quyền” của mình, con người mới cảm nhận được một khao khát chân thật, khao khát yêu thương đến độ có thể cho đi chính bản thân mình. Ngược lại, khi bị đe doạ mất bản thân, người ta lại thường có khuynh hướng bảo vệ, vun quén, giành giật lại cho mình mọi thứ.

3. Mở ra nẻo đường thành thật hiến dâng

Tuy nhiên, nẻo đường tự chủ chỉ hoàn thành khi con người đáp lại một sự thúc bách mở ra trái tim của mình, ra khỏi chính bản thân của mình, tình nguyện dâng tặng chính bản thân mình cho ai khác.

Khao khát yêu thương là bản chất tự nhiên của con người vốn được dựng nên giống hình ảnh Chúa, nên khi người ta yêu thương ai đó thực sự, người ta bắt đầu cảm thấy trọng tâm của đời mình dần dần dịch chuyển đến người mình yêu. Bắt đầu là thấy vui vì niềm vui của người khác, thấy buồn vì nỗi buồn của người khác, thấy đau vì nỗi đau của người khác… rồi cuối cùng tình yêu thương mời gọi con người cho đi chính bản thân và cuộc đời mình để bản thân và cuộc đời của người mình yêu thương được trọn vẹn hơn.

“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)

Điều quan trọng là, yêu thương, người ta tình nguyện ra khỏi bản thân mình, chứ không bị ép buộc vì một sức mạnh hoặc vì một giá trị luân lý sai lạc nào khác.

4. Yêu là sống, sống là yêu

Như sức mạnh của con vật được thống nhất trong bản năng bảo vệ sự sống, thì chính tình yêu nơi con người mới có khả năng thống nhất tất cả cuộc sống của con người trong một sức mạnh căn bản. Tuy nhiên, bản năng sinh tồn của con vật là sự thống nhất để bảo vệ cho chính nó; trong khi đó, tình yêu nơi con người lại là một sự thống nhất hướng tới ai khác. Đó là khác biệt lớn giữa con người với con vật; hoặc ta cũng có thể nói đó là khác biệt căn bản giữa sự sống của con người với con vật, vì đó là sự khác biệt trên bình diện ý nghĩa, thứ ý nghĩa mà chỉ con người có tự do và tình yêu mới có thể sống được.

Yêu không phải là một chút trang trí hoa lá cành cho cuộc sống, yêu không phải là món đồ chơi xa xỉ của đời sống con người; nhưng yêu là khả năng nối kết mọi thành phần của con người phức tạp để làm nên một ý nghĩa thống nhất xứng tầm của con người. Yêu không phải là điều thêm vào cho cuộc sống, nhưng yêu là chính ý nghĩa của sống; sống trọn vẹn là sống bằng tình yêu. Yêu là sự sống đích thực, sung mãn nhất của mức độ con người. Như thế, tình yêu có một giá trị như cửa ngõ mở ra trước siêu việt, như biên giới của tuyệt đối. Chính tình yêu mới là sức sống siêu việt của con người; và nhờ tình yêu, con người có thể vươn mình hướng đến tuyệt đối.

Người ta có thể thấy được một số chuyện “động trời”, nghĩa là đụng chạm đến được biên giới của tuyệt đối trong đời sống con người do sức mạnh của tình yêu : chẳng hạn những chuyện cảm động trong các vụ tai hoạ; chẳng hạn tinh thần của những người mẹ cả đời hy sinh cho con…

5. Đạt tới nẻo đường hạnh phúc

Thật ra, con đường yêu thương Kitô giáo không phải là một nẻo đường khổ hạnh, mà chính là nẻo đường hạnh phúc.

Hạnh phúc khác với sung sướng. Sung sướng thì có thể đo đếm được một cách khách quan, còn hạnh phúc thì không đo đếm được nhưng do cảm nhận bên trong của mỗi người; sung sướng là tiêu thụ những thứ “sự vật” (sự vật là những gì khác với bản thân) nhằm vun đắp bản thân mình, còn hạnh phúc là đáp ứng đúng ý nghĩa của bản thân mình khi dấn thân vì ai khác. Vị linh mục sung sướng khi được thanh thản ở nhà ăn tiệc, nhưng vị linh mục hạnh phúc khi sống đúng ý nghĩa đời linh mục, dám bỏ bữa cơm để đi xức dầu bệnh nhân, thấy bệnh nhân khoẻ mạnh hoặc ra đi bình an…

Trong tinh thần Kitô giáo, sung sướng chỉ đúng đắn khi nằm trong hạnh phúc. Tìm sung sướng bên ngoài hạnh phúc là con đường đưa tới tình trạng đánh mất sự nhậy bén cảm nhận hạnh phúc và lạc mất nẻo đường yêu thương vị tha của đời mình.

Người ta thường lầm lẫn sung sướng với hạnh phúc, vì người ta không hiểu được ý nghĩa tình yêu vị tha Kitô giáo.

Kết

Thật ra, Thiên Chúa là tình yêu, và con người tập tễnh học tập yêu thương. Tuy nhiên, ngay trong tất cả những thứ tình thương, tình yêu, cảm tình, quí mến… thường ngày của con người đều đã xuất phát từ Chúa và đều phản ảnh nguồn mạch yêu thương căn bản từ Thiên Chúa. Tất cả những thứ tình nghĩa ấy sẽ chân chính khi mở ra, khi khơi lên lòng khao khát yêu thương trọn vẹn hơn, và đưa con người hướng về Thiên Chúa là tình yêu.

Bài 7. Dấn thân

1. Thiên Chúa của Kinh Thánh

Nếu so sánh hình ảnh Thiên Chúa trong Kinh Thánh với hình ảnh Thượng Đế trong văn hoá Hy Lạp, ta sẽ thấy nét đặc biệt của Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một Thiên Chúa dấn thân.

Thượng đế của người Hy Lạp là nguyên lý cho vũ trụ và con người; nên vũ trụ và con người phải quy hướng về Ngài; nhưng chính Thượng đế thì không cần phải quan tâm đến vũ trụ hay bất cứ ai. Thượng đế giống như nam châm hút sắt mà không biết mình hút. Đó là một Thượng đế được quan niệm là Đấng có “hạnh phúc”, thanh thản (ataraxia) đầy đủ trong chính mình …

Trong khi đó, Thiên Chúa của Kinh Thánh lại là một Thiên Chúa dính dáng và càng ngày càng dính dáng sâu xa vào cuộc sống con người. Thiên Chúa đã nhiều lần hứa, hứa trong vườn Địa đàng, hứa với Noe, hứa với Abraham…; rồi hơn nữa, Thiên Chúa lại giao ước với Dân, nghĩa là tự buộc mình vào một quy chế pháp luật…

Ngược với thái độ “thanh thản”, phẩm tính cao quí nhất của Thiên Chúa trong Kinh Thánh là lòng từ bi thương xót.

2. Lý tưởng sống của người Hy lạp và lý tưởng Kitô giáo

Như thế, ta thấy lý tưởng của người Hy Lạp, đặc biệt là cái triết gia Hy lạp, lý tưởng sống hạnh phúc giống như Thượng đế, đó là tìm được thái độ “thanh thản” (ataraxia), không để cho tâm tư của mình bị xáo trộn. Các triết gia Khắc Kỷ diễn tả thái độ khôn ngoan và tìm sự “thanh thản” giống Thượng đế là : nếu anh có một người bạn đau khổ, anh hãy tỏ bày sự cảm thông, nhưng lòng đừng rúng động.

Khi thánh Phaolô rao giảng về Thập giá đức Kitô cho người Hy Lạp, thì họ cho rằng thập giá là sự điên rồ; vì chỉ có ông nào ngu si mới yêu thương bằng cách dấn thân chịu khổ như thế.

Ngược lại, lý tưởng của truyền thống Do thái-Kitô giáo lại là một thứ tình yêu vị tha (agape) mà đỉnh cao chính là dám hy sinh mạng sống vì người mình yêu mến (xc. Ga 15,13).

3. Thái độ dấn thân

Dấn thân, đối với người Kitô hữu trước tiên từ bỏ thái độ “bàn tay sạch” như kiểu Philato, từ bỏ thái độ “đi cà khêu” giữa cuộc đời như kiểu người Biệt Phái; để rồi nhận ra trách nhiệm của mình đối với người khác, đối với xã hội và thế giới chung quanh mình.

3.1 Liên luỵ và hiệp thông

Khởi đầu của lịch sử con người, Kinh Thánh đã cho chúng ta biết con người cùng liên luỵ với nhau trong tội tổ tông. Do đó, mọi người cùng dính dáng với nhau trong tội, tội của người này ảnh hưởng trên người kia, rồi tội của người kia lại tác động lên người khác nữa…theo một diễn biến lây lan và đan bện chặt chẽ vào nhau, khiến cho mọi người đều có trách nhiệm ít nhiều với nhau… Đó là vận mệnh chung của nhân loại mà không ai có thể tự mình mình tách ra để tìm con đường giải thoát đơn độc.

Hơn nữa, Thiên Chúa cũng không muốn cứu độ con người một cách riêng lẻ, nhưng cứu độ bằng cách tập họp con người lại trong con thuyền Giáo hội. Như thế, chỉ những ai dám dấn thân, chấp nhận sự liên luỵ với nhau trong tội thì mới có thể đạt đến mầu nhiệm của sự hiệp thông trong ơn cứu độ của Thiên Chúa, mầu nhiệm các thánh cùng thông công. Đức Giêsu vốn là Đấng hoàn toàn vô tội nhưng cũng đã chấp nhận thân phận tội luỵ vì con người; và đức Maria, dĩ nhiên, cũng lãnh nhận hết những khổ đau vị tội luỵ của con người…

3.2 Hồng ân và trách nhiệm

Đời sống con người vốn bao hàm một sự bất bình đẳng tự nhiên. Từ khi sinh ra, đã có người “may mắn” và có người “xui xẻo”; có nam và người nữ, người giỏi và người dở, người đẹp và người xấu,… Trong quá trình lớn lên, cũng luôn có người được nhiều điều kiện thuận lợi và người khác thì chịu thua thiệt mọi bề; người giầu và người nghèo, người có tài và người bất tài, người được giáo dục trong môi trường tốt và người bị xô đẩy và môi trường độc hại…

Mặt khác, cuộc sống con người thật ra là một biển bất công, và công bằng chỉ là một chút bọt sóng ở trên đầu ngọn. Thế giới bất công từ nơi này tới nơi khác trong không gian; từ đời này chuyển sang đời khác theo thời gian, khiến cho không một ai có thể vỗ ngực tự nhận mình không dính dáng gì tới bất công. Trong thế giới đó, những cách xử án của toà án nhân loại thực ra chỉ là một cách giải quyết hời hợp, chủ yếu nhằm ổn định tương đối cho cuộc sống mà thôi.

Không phải Thiên Chúa bất công, nhưng chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thể hiện theo cách liên luỵ và hiệp thông. Trong chương trình của Chúa, người nào có được sự may lành thì điều đó không bao giờ có nghĩa là người đó được toàn quyền hưởng thụ sự may lành cho chính mình. Ngược lại, được hưởng sự may lành chính là đón nhận hồng ân để có trách nhiệm với những người xui xẻ, những người kém may mắn. Tất cả hồng ân Chúa ban đều nằm trong vận hành chung, đó là hồng ân luôn gắn liền với trách nhiệm.

Đây không phải chỉ là lời kêu gọi của đức ái, nhưng trước tiên là đòi hỏi của sự công bằng; nghĩa là không phải là điều từ nguyện mà là đòi buộc. Điều này quan trọng đến độ ai giữ lấy hồng ân cho riêng mình thì sẽ bị loại khỏi chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Trong đức Tin, chúng ta hiểu mọi người Kitô hữu đều có trách nhiệm làm tông đồ, đó cũng chính là cách thể hiện tinh thần dấn thân, tinh thần đón nhận hồng ân đi kèm theo trách nhiệm.

3.3 Tự do và dấn thân

Con người khao khát yêu thương, nhưng tình yêu không luôn luôn đồng nhất với một tình cảm lãng mạn, ngẫu hứng, lâng lâng, mà thiết yếu là tình yêu vị tha, nghĩa là gồm chứa khả năng chấp nhận liên lụy với ai khác, chia vui sẻ buồn với ai khác, và cuối cùng dám hy sinh cả mạng sống vì ai khác.

Người ta chỉ có được tự do khi thoát khỏi sự ràng buộc tất yếu của lịch sử; người ta chỉ có được tình yêu khi can đảm tự trói buộc mình vào với ai khác qua một quá trình lịch sử. Hai điều đó dường như trái ngược lẫn nhau. Thế nhưng, con người chỉ có tình yêu khi có tự do; và con người chỉ có tự do chân chính khi tìm thấy động lực của tình yêu. Tự do và tình yêu đòi hỏi lẫn nhau; bởi vì quá khứ và tương lai “liên lụy” với nhau; muốn thoát khỏi sức nặng tội lỗi trong quá khứ, con người cần phải gắn bó đời mình vào niềm mơ ước tương lai tươi đẹp của thế giới yêu thương. Cái mới và cái cũ đan xen vào nhau…

Tình yêu khiến con người dám ước mơ, ước mơ thật nhiều. Tình yêu chân thật, nghĩa là gắn bó với ai khác trong một quá trình liên lụy với nhau, sẽ làm cho ước mơ của người ấy không phải chỉ là một thứ mơ mộng suông, nhưng là một sự sống của tình yêu đang âm thầm lớn lên, là một sự dấn thân để từng bước thể hiện một sự sáng tạo trong tự do chân chính.

Kết

Có người sợ dấn thân, vì dấn thân thường kéo theo vấp phạm. Thật ra, chỉ trong sự dấn thân, con người mới có thể làm “trong sạch nguồn nước” đời mình. Không dấn thân, đời người giống như một ao tù ô nhiễm. Trong dấn thân, con người tuôn đổ dòng nước của mình để được đổi mới bằng dòng nước khác trong lành hơn. Người nào dấn thân, tha thiết với việc tông đồ chẳng hạn, thì tìm được động lực chân chính để giải thoát khỏi sức ì của tội lỗi.

Trong dấn thân, có thể người ta sẽ vấp phạm nhiều sai lỗi hơn. Nhưng thật ra những căn nguyên của tội lỗi vốn đã nằm sâu trong tâm hồn con người, và khi dấn thân thì những căn nguyên ấy có cơ hội để xì ra. Những sai lỗi và vấp phạm xì ra như thế chính là cơ may để con người biết sám hối chân thật hơn. Khi dấn thân, những căn nguyên cội nguồn của tội trong tâm hồn được đổi mới, đó là sự trong sạch thực sự, sâu xa và căn bản hơn nhiều.

Bài 8. Tự do Kitô giáo

1. Tầm mức của tự do

Có rất nhiều ý nghĩa của tự do. Ở đây ta chỉ nói tới tự do theo ý nghĩa Kitô giáo. Tự do Kitô giáo chính yếu là việc giải thoát con người khỏi sự trói buộc của tội lỗi :

“Vậy, Đức Giê-su nói với những người Do-thái đã tin Người : "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông." Họ đáp : "Chúng tôi là dòng dõi ông Áp-ra-ham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao ông lại nói : các ông sẽ được tự do ?" Đức Giê-su trả lời : "Thật, tôi bảo thật các ông : hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội”. (Ga 8, 31-34)

Tự do nghĩa là được Thiên Chúa cứu độ và chỉ có sức mạnh của Thiên Chúa mới có thể cứu con người khỏi sự ràng buộc của tội lỗi :

“Chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta”.( Gl 5,1)

Được cứu khỏi sự ràng buộc của tội lỗi, con người tìm lại được sự sống thân tình với Thiên Chúa và được đón nhận sức sống của Thiên Chúa, sức sống của Thần Khí Chúa :

“Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do”.(2 Cr 3,17)

Người ta chỉ có thể nhận ra mình tự do khi nhận ra mình được giải khỏi cái gì, giải thoát khỏi xiềng xích nào. Theo Kitô giáo, cứu cánh của đời sống con người có tính cách “tối hậu”, tính cách siêu nhiên, nhằm được “sống với Chúa”, nên mức độ của tự do cần thiết trên hành trình đó cũng mang tính cách toàn diện, khởi sự từ bên trong, đạt tới sự tự do toàn diện cả bên trong lẫn bên ngoài. Như thế, sự giải thoát theo quan niệm Kitô giáo không phải chỉ nhằm vào những chuyện bên ngoài, nhưng theo đường lối “cái tâm của giải phóng là giải phóng cái tâm”. Tự do Kitô giáo không phải là tình trạng lâng lâng bay bổng, không phải là “làm điều mình muốn”, nhưng căn bản hơn là “muốn điều mình làm”.

2. Xiềng xích của tội lỗi

2.1. Giới hạn căn bản của cuộc sống : cái chết

Từ khi nguyên tổ loài người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, con người không còn có thể thực hiện được ước mơ hạnh phúc của mình được nữa. Con người loay hoay để sống, loay hoay để thăng tiến, loay hoay để tìm hạnh phúc…nhưng thật ra, cái chết như là hậu quả chính yếu của tội lỗi đã đón đầu mọi nỗ lực vụn vặt của con người. Con người phải chết, cái chết chấm dứt tất cả, phá huỷ tất cả, nhận chìm tất cả mọi nỗ lực của con người.

2.2 Vòng xích chằng chịt trong tâm hồn con người

Từ khi được hoài thai trong lòng mẹ, con người đã bắt đầu được nối kết vào một mạng lưới chằng chịt của những mối liên hệ sâu xa, một mạng lưới mà người ta không biết đâu để lần ra được đầu mối, và dĩ nhiên cũng không thể tự mình gỡ rối được. Được hoài thai, con người đã mang lấy cả một lịch sử của lâu dài từ đời ông cố, ông tổ nào đó của mình; đã mang lấy một bản thân đầy những vết tích tinh thần, dấu vết tốt xấu của dân tộc và xã hội, của họ hàng và cha mẹ…

Ai đó trong chúng ta đều kinh nghiệm về một sự khó khăn khi phải thay đổi lối sống, thay đổi lối suy nghĩ, thay đổi tình cảm với ai đó… Tất cả mọi sự gắn liền với nhau; mọi sự ta muốn đều là “bứt giây động rừng”.

2.3 Quy luật nghiệt ngã của xã hội

Rồi khi bước vào đời, con người lại bước chân vào một mạng lưới chằng chịt những tương quan trong cuộc sống. Nếp sống, nếp nghĩ, những thứ đòi buộc vay trả, những thúc bách của tình nghĩa, của công bằng, của trách nhiệm…tất cả xô đẩy con người, trói buộc con người vào những mối tương quan nghiệt ngã. Trong sự liên lụy với thế giới, với cộng đồng nhân loại và với lịch sử, con người có nguy cơ bị chi phối, bị ràng buộc như một vòng xích nặng nề.

Nói chung, cuộc sống con người bị trói buộc do thần chết đón chờ ở cuối đường, do bị đưa đẩy của những thói quen trong chính bản thân, do bị quy định của những tương tác của cuộc sống bên ngoài. Đó là những điều rằng buộc mà con người không có khả năng tự cởi trói cho mình.

3. Sự giải thoát mang tính cứu độ

3.1 Tự do là khả năng bắt đầu một tiến trình mới

Con người không thể chối từ tất cả những mối liên hệ chằng chịt như thế. Tuy nhiên, con người có tự do, nghĩa là con người có khả năng cắt đứt sự ràng buộc tất yếu để có thể thể hiện bản thân mình một cách tự do. Sự tự do chân chính không phải là một trạng thái thênh thang đột xuất, mà là khả năng khởi phát một quá trình mới, một quá trình sáng tạo bản thân mình. Tự do chân chính là hình thành được một tiến trình có tính mới mẻ.

Giống như khi bắt đầu một ngày mới, hoặc một năm mới, con người có thể cuộn lại quá khứ, vác quá khứ trên vai chứ không bị quá khứ bao chụp, và bắt đầu một hành trình mới, hành trình tự do trong sự liên luỵ có trách nhiệm với quá khứ.

3.2 Tự do là khả năng khai mở con đường mơ ước

Mặc dù bị trói buộc, con người vẫn luôn khát vọng một cuộc sống trường tồn, khát vọng một sự thanh thoát của tâm hồn, khát vọng một thế giới “tứ hải giai huynh đệ”.

Niềm hy vọng Kitô giáo là một chân trời ước mơ. Nhưng ước mơ ở đây không phải là một biện pháp tâm lý giả tạo như kiểu những ước mơ đời thường. Ước mơ Kitô giáo gắn liền với đức Cậy, nghĩa là dựa vào một sức mạnh khác, một sức mạnh cứu độ của Chúa. Chính vì thế, lý tưởng Kitô giáo không bao giờ được dừng lại ở một thái độ “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, nhưng là mơ ước được nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành.

4. Nguồn sức mạnh của tự do Kitô giáo

4.1 Sự giải thoát nhờ tương quan nhân thân chân chính

Nguồn sức mạnh có tính chất giải thoát của Kitô giáo là tình yêu. Tình yêu thương là mối liên hệ sống-với mà tình tự Kitô giáo luôn cổ võ. Sống với là bắt đầu nhận ra cuộc sống của mình không nhằm vun quén cho bản thân mình, mà luôn luôn nằm trong chiều hướng : vì ai, với ai, cho ai…

Chính thái độ tin, gắn bó với Chúa một cách trọn vẹn, làm cho tất cả cuộc đời con người được chìm ngập trong tình nghĩa sống với. Chính điều đó là nguồn sức mạnh chính yếu.

4.2 Khả năng buông bỏ những chuyện lẩm cẩm

Con người thường bị rơi vào tình trạng “bỏ mồi bắt bóng”, chỉ lo giải quyết những chuyện vụn vặt mà quên đi mục tiêu chính yếu của đời sống con người. Đó cũng là một xiềng xích trói buộc khiến con người không thể đi xa trên hành trình được cứu độ. Ý thức được cứu cánh cuối cùng, con người có khả năng buông bỏ những chuyện lẩm cẩm, tự do tâm hồn, và tỉnh thức chờ đợi ngày được cứu độ.

4.3 Dấn thân trong yêu thương

Yêu thương Kitô giáo là dấn thân vào những ràng buộc, chứ không phải trốn đời. Tự do Kitô giáo không phải là sự đào thoát, mà là đảm nhận trách nhiệm, theo kiểu “vào hàng hùm để bắt được cọp”. Yêu thương cụ thể, tìm thấy những đòi hỏi cụ thể của tình yêu nhiều hơn, và nhờ tình yêu lớn lao của Chúa để thoát khỏi quy luật nghiệt ngã của thế gian.

Kết

Cái chết vẫn còn đó. Những đối với người Kitô giáo, hành trình đi đến cái chết không phải là hành trình vô vọng mà là hành trình hoàn tất. Với niềm tin Kitô giáo, không phải cái chết phá huỷ mọi sự của con người nữa, mà chính con người tự nguyện yêu thương, vét trọn vẹn đời sống của mình để dâng tặng, nghĩa là chấp nhận cái chết trong tình yêu. Đó chính là ngõ thoát khỏi bóng ma sự chết rình rập con người.

Bài 9. Sáng tạo cuộc đời như một nghệ thuật

1. Cái tôi

1.1 “Cái tôi đáng ghét”

Cái tôi thường là nguyên nhân của bao nhiêu trục trặc, đổ vỡ, hoặc thảm kịch trong cuộc sống hằng ngày. Người nào có cái tôi càng lớn, thì con người ấy càng dễ dàng vướng víu vào nhiều chuyện; rồi khi càng muốn bảo vệ bản thân mình trong những chuyện vướng víu ấy, thì người ấy luôn có nguy cơ phạm nhiều sai lầm.

1.2 Ước mong xoá bỏ cái tôi

Như thế, một cách bình thường, người nào muốn sống tốt thì phải làm nhỏ đi cái tôi của mình. Ngoài ra, chúng ta còn thấy có những học thuyết muốn hoàn toàn xoá bỏ cái tôi, đó là học thuyết vô ngã của đức Phật.

Thế nhưng, cái tôi là trung tâm của con người, trung tâm của tất cả mọi ước muốn, cũng như mọi hành động của con người. Liệu chừng người ta có thể hoàn toàn xoá bỏ cái tôi được không ? Không có cái tôi, người ta còn có thể làm gì ? Người ta tìm thấy được sức mạnh ở đâu để có thể sống và sống tốt hơn ? Không có cái tôi, thì ngay cả ước muốn sống tốt cũng không có được nền tảng để có thể thực hiện được; và người muốn tìm giải thoát bằng con đường vô ngã thật ra có phải vẫn là một cách tìm hạnh phúc cho chính cái tôi của mình ?

2. Trả lại giá trị cái tôi

2.1 Cái tôi tội lỗi

Đối với Kitô giáo, con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, một Thiên Chúa có ngã vị. Giống như Thiên Chúa, con người cũng có một ngã vị rõ rệt, con tên, và có một lịch sử riêng biệt. Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ và con người, mà theo sách Sáng Thế, tất cả được được khẳng định là tốt đẹp. Thế giới chỉ bị hư hoại do tội lỗi của con người.

Trong truyền thống Công giáo, không có điều gì do Thiên Chúa sáng tạo lại bị loại bỏ, dù là thân xác, dù là dục vọng, dù là quyền bính, dù là khoái lại… nhưng tất cả cần được thanh lọc khỏi ảnh hưởng của tội lỗi.

Điều người ta đổi tội cho cái tôi, thật ra chỉ là những hư hoại của cái tôi. Điều người ta muốn loại bỏ, thật ra chính là khát vọng sâu xa, khát vọng chính đáng nhất của con người : con người khát vọng được nhìn nhận, khát vọng được khẳng định bản thân mình…

2.2 Cái tôi được hoá giải nhờ tình yêu

Tội lỗi sâu xa chính là thái độ chống lại tình yêu. Tội lỗi là ích kỷ, là tham lam, là phóng đãng, là hưởng thụ….và tất cả những điều đó luôn luôn là loại bỏ tình yêu đích thực đối với tha nhân.

Do đó, một khi tìm lại được tình yêu, thì đời sống con người, cũng như cái tôi của con người, có thể được hoá giải khỏi những điều tệ hại của “cái tôi ích kỷ”.

Chính tình yêu thương có thể xoay hướng cái tôi, thay vì hướng về mình, thì hướng về tha nhân với một sự quảng đại lạ lùng hơn hết.

2.3 Tình yêu đền đáp nghĩa tình

Nhưng con người làm sao có thể tìm thấy được tình yêu thương ? Làm sao mỗi người có thể gia tăng tình yêu thương, chống lại được khuynh hướng ích kỷ mạnh mẽ của tội lỗi trong bản thân mình ?

Kitô giáo cho thấy con người cần được cứu, con người cần được đón nhận tình yêu một cách tặng không của ai đó, và cần có được một thứ tình yêu mạnh hơn sự chết, mạnh hơn mọi bóng ma của của sự chết là sự ích kỷ… Điều quan trong nhất trong cuộc đời là con người được ban tặng “miễn phí” một tình yêu lớn lao.

Do đó, trong đời sống gia đình, bình thường con người được lãnh nhận một thứ tình yêu hy sinh bản thân và cuộc đời của cha mẹ. Tuy nhiên, điều quan trọng cuối cùng, cả với những người có được người cha người mẹ yêu thương, cũng như những người không có được hành trang quí báu ấy, đó là chính tình yêu tặng không của Thiên Chúa. Điều quan trọng cuối cùng hết là chính Thiên Chúa tặng không một tình yêu lớn lao hơn mọi tình yêu (Xc Ga, 15, 12-13)…

2.4 Dâng tặng để tìm lại chính mình

Trong Kitô giáo, không phải là không có thái độ bỏ đi cái tôi của mình. Chính đức Giêsu Kitô, vốn là Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng cũng đã “hoá ra không” (kenosis), để sống kiếp phàm nhân, sống như người trần thế. Hành trình từ bỏ ấy đi đến việc hy sinh mạng sống, chết trên thập giá…nhưng cuối cùng là để được tôn vinh (Xc. Pl 2, 6-11).

Cuộc đời mỗi con người cũng vậy. Con người được chân nhận là thụ tạo được Thiên Chúa sáng tạo nên vì chính mình. Do đó, không bao giờ được coi bất cứ một ai như một phương tiện, như một con dê tế thần nhằm để hoàn thành một mục đích nào khác, ngay cả khi đó là vinh quang của Chúa.

Tuy nhiên, quyền tự chủ cũng như sự thành toàn của con người lại chỉ có thể đạt được khi người ta biết thành thật hiến dâng; tự nguyện và yêu thương hiến dâng chính bản thân mình cho tha nhân. (Xc. MV. s.24)

3. Cuộc đời như một nghệ thuật

3.1 Từ bỏ thái độ so sánh

Mỗi người được Chúa sáng tạo và hình thành cuộc đời mình qua dòng lịch sử đều trở nên một sự “độc đáo”. Do đó, mỗi người được mời gọi sống cuộc đời mình một cách có trách nhiệm về chính bản thân mình, không so sánh hơn thua với ai khác. Thái độ so sánh chính là nguyên nhân gây nên ghen tỵ ngấm ngầm và rơi vào tâm tình xấu: vui khi người khác kém hơn mình, và buồn khi người khác hơn mình. Đó cũng là nguyên nhân củng cố thêm cái tôi ích kỷ và đánh mất nét độc đáo của mình.

Xác tín về sự độc đáo của mình không phải là thái độ lập dị. Lập dị thật ra cũng là thái độ so sánh ngấm ngầm. Sống độc đáo là thoát được lối sống đoàn lũ.

3.2 Loại bỏ bầu khí áp lực

Để mỗi người có thể sáng tạo cuộc đời mình, cần có được một bầu không khí hiệp thông chứ không phải bầu khí áp lực. Áp lực luôn làm cho người ta gia tăng “bản lĩnh đối phó” và đánh mất “bản lãnh sáng tạo”. Khi rơi vào tình huống phải đối phó với áp lực, người ta trở nên khôn vặt, tính toán nhiều chuyện cách khôn khéo, nhưng không phải là một sự khôn ngoan đích thực, mà chỉ để giải quyết những tình huống vụn vặt do bầu khí áp lực tạo ra.

3.3 Sáng tạo nét duyên

Một khi có được tình yêu như một động lực chính yếu của toàn thể cuộc đời, thì con người toàn diện ấy được cấu trúc lại quanh tình yêu thương và nhân cách của con người ấy trở nên đẹp, một nét đẹp riêng; đúng hơn, đó là nét duyên của cả cuộc đời. Nét “duyên” không phá bỏ những đặc điểm của tính tình, không cần gạt bỏ điều gì và cũng không đúc khuôn theo một mẫu mực nào đó, nhưng có khả năng biến mọi loại tính tình trở nên tốt đẹp trong nét độc đáo riêng.

Kết

Đức Giêsu đã sống và thể hiện một phong thái tự do đặc biệt. Cuộc đời của Ngài được chìm ngập trong Thần Khí, và mọi lời nói, hành động của Ngài đều biểu lộ Thần Khí một cách sung mãn. Phong cách như thế chính là điều mà ngày nay người ta gọi là “tự do”. Người Kitô hữu được thông chia Thần Khí của đức Giêsu Kitô, cũng được ban Thánh Thần; và nếu ai đó biết buông mình theo sự dẫn dắt của Thánh Thần thì cũng có khả năng sống một sự tự do bát ngát như vậy.

Bài 10. Ước mơ trọn vẹn

1. Những ước mơ ảo vọng

Con người vốn có thật nhiều ước mơ, con người muốn mình vươn thật tốt, muốn ngươi thân của mình hạnh phúc trọn vẹn, muốn thế giới được hoà bình, an vui… Nhưng trong thế giới con người, những mơ ước, thật ra, chỉ là một thứ “mồi nhử” giả tạo, không có không được, nhưng có đó mà không bao giờ có thể đạt được.

* Trong mức độ bản thân mỗi người

Con người đi vào tuổi trưởng thành, đụng vào những gai góc đau thương trong cuộc đời, hiểu rằng ngay cả những thần tượng lý tưởng nhất của mình cũng không phải là những người hoàn toàn tốt như mình nghĩ… Thế nhưng, con người không thể cầu toàn, luôn buồn phiền về những khuyết điểm của bản thân mình cũng như người khác; mà cũng không thể vì thế mà buông xuôi, hoặc tử tử, hoặc sống theo kiểu ai sao ta vậy; … Con người trưởng thành là con người vừa hiểu, chấp nhận cuộc đời tương đối, lại vừa phải khát vọng vươn lên hơn, sống tốt hơn và góp phần cho cuộc sống tốt hơn.

* Trong mức độ tương quan với tha nhân

Con người muốn sống liêm chính, đạo đức, quảng đại… nhưng “bài học” của thực tế cuộc sống lại xô đẩy, thúc bách phải giải quyết những vẫn đề cuộc sống, nếu không gian dối thì cũng phải sòng phẳng, vay trả đúng mực…

Mặt khác, giá trị của những đòi hỏi luân lý như : tôn trọng sự sống, luân lý tính dục, công bằng, …phải là những giá trị tuyệt đối, không thể là những giá trị tuỳ thời, tuỳ hoàn cảnh. Điều này dễ bị giảm nhẹ khi ta là kẻ gây tai hoạ cho người khác, nhưng sẽ trở nên thật rõ rệt khi ta là nạn nhân.

* Trong mức độ liên quan đến cả xã hội nhân loại

Đời sống cá nhân cũng như những tương quan bạn bè, anh chị em không phải và không thể là những ốc đảo tách rời khỏi môi trường chung là xã hội, và tương quan rộng lớn của cả nhân loại. Khát vọng “tứ hải giai huynh đệ” chính là một chân trời cho tình nghĩa con người, nhưng trong thực tế khát vọng ấy lại không thể thực hiện được.

Ước mơ thế giới hoà bình, mọi người là anh em, không thể thực hiện được khi người ta chủ trương vô thần, nghĩa là phải chọn thái độ bạn ra bạn, thù ra thù; không thể thực hiện được với chủ trương đa thần; và chỉ có thể thực hiện được khi người ta chấp nhận một Chúa là Cha chung của tất cả mọi người.

Thật ra, hầu như tất cả những giá trị nhân bản như khiêm tốn, mơ ước, hy vọng, đạo đức, tự do, yêu thương…., thật ra, chỉ có thể hoàn tất và hợp lý trong chân trời tâm linh. Đi tới cùng, chan trời tâm linh chỉ có thể trọn vẹn khi mọi người chấp nhận có một Chúa là Cha chung của mọi người.

Cần phải nhắc nhở người tín hữu rằng niềm tin vào một Chúa không phải chỉ là một lập trường của lý trí khiến ta phải loại trừ những ai không chấp nhận; nhưng ngược lại là chân trời của khát vọng yêu thương, và khát vọng yêu thương ấy phải được thể hiện trong thực tế cuộc sống hằng ngày.

2. Những ước mơ được trả lời

Đức tin Kitô giáo nhắc nhở người Kitô hữu ý thức mình sống trong giai đoạn cánh chung, luôn khát vọng ngày Quang Lâm như là cứu cánh của tất cả vũ trụ và nhân loại. Cứu cánh đó được diễn tả như núi thánh của Chúa, như Giêrusalem trên trời, đó là ngày Đức Giêsu Kitô lại đến… Chính niềm mơ ước cách chung ấy là chân trời cuối cùng cho tất cả cuộc sống nhân loại.

* Ướm mọi sự vào viễn cảnh Quang Lâm

Giống như người ta chỉ có thể hiểu được những đường nẻo “ngoằn ngoèo” của cuộc sống khi nhìn tới mục tiêu phải đạt đến; giống như người ta chỉ có thể hiểu được những nét nguệch ngoạc của bức tranh đang thành hình khi ướm vào hình mẫu; thì cũng thế, người ta chỉ có thể hiểu được những khó nhọc, khổ cực, hoặc đổ vỡ… của cuộc sống khi mọi sự được ướm vào cứu cánh cuối cùng của đời người, của cả nhân loại. Khi đó, mặc dù người ta vẫn luôn còn phải đối diện với những gì còn dở dang, còn khiếm khuyết của cuộc sống, nhưng đồng thời cũng sẽ nhận ra được những “dấu chỉ Nước Trời”.

Nhận ra những dấu chỉ hy vọng, điều đó khiến cho niềm hy vọng Kitô giáo không phải là “mồi nhử” hão huyền, nhưng chính là đức Cậy Kitô giáo; đó là một niềm hy vọng có chân rễ trong dòng sự sống, nhờ ánh sáng của đức Tin soi chiếu.

Nhân bản Kitô giáo không phải là thái độ bi quan, trốn đời, những trước tiên là một cách nhìn lạc quan, có khả năng khám phá những điểm tích cực, nhận ra những đóm lửa nhỏ hơn là nguyền rủa bóng tối…

* Dấn thân vì Nước Trời

Khi nhận ra được những dấu chỉ biểu hiện một tương lai đáng ước mơ, con người cần chọn thái độ dấn thân, phục vụ, gắn với với những nỗ lực làm cho cuộc sống con người được tốt đẹp hơn . Với đức Tin ấy, người Kitô hữu hiểu ra cái nghèo của Tin Mừng, nhận ra thúc bách phải dấn thân, có khả năng khai mở một hành trình mới trong tự do trong yêu thương…. Đức Tin không phải là gìn giữ một báu vật, nhưng chính yếu là động thái quảng đại trao ban bản thân cho chương trình của Chúa và cho cuộc sống thật của thế giới này.

Mơ ước khác với mơ mộng. Mơ mộng là mơ mà không bắt đầu; mơ ước là mơ và bắt đầu bằng một chút “vốn liếng” nhỏ nhoi của mình. Nhân bản Kitô giáo thiết yếu gắn liền với thái độ có trách nhiệm với cuộc đời, có trách nhiệm với anh chị em của mình.

* Buông mình vào dòng sự sống phong phú

Những nỗ lực tốt lành của con người thật sự là nhỏ bé, như chút muối bỏ vào trong đại dương của khổ đau và bất công. Tuy nhiên, con người vẫn cứ ước mơ, ước mơ trọn vẹn, và ước mơ ấy chỉ có ý nghĩa khi người tín hữu hiểu rằng mình được góp phần vào dòng sự sống phong phú vô tận của Chúa.

Mơ ước của con người chỉ có thể “hữu lý” khi đặt mình trong một chương trình rộng lớn hơn, trong một nhiệm cục cứu độ đang được thực hiện từng bước từng bước một.

Do đó, đức tin mời gọi ta buông mình theo sự phong phú của Chúa, đặt mình vào dòng sự sống phong phú vô tận, tuôn đổ hết để có thể lãnh nhận tất cả.

Người Kitô hữu luôn xác tín Nước Trời đang đến trong những hạt cải Tin Mừng nhỏ bé.

3. Cử hành đức Tin

* Con người là sinh vật có văn hoá, nghĩa là con người có khả năng làm cho cuộc đời của mình được đẹp hơn nhờ những ý nghĩa nhân bản và tâm linh. Đối với con người, ăn không chỉ để sống mà còn là hiệp thông, mặc không chỉ để ấm mà còn là tôn trọng người khác… Ý nghĩa văn hoá được thực hiện bằng những biểu tượng, tức những cử chỉ, những lời nói, những hình ảnh, những đồ vật… Khi một biểu tượng diễn tả đúng nội dung thật, con người được sống phong phú hơn; còn khi biểu tưởng chỉ là sáo rỗng, đó là những nghi lễ đòi buộc một cách giả tạo.

* Người Kitô hữu có thể thực hiện được những biểu tượng diễn tả đức Tin trong cuộc sống hằng ngày : làm dấu, cúi chào, bái lạy… Những biểu tượng nghi lễ ấy có tác dụng làm cho những việc đời thường được ướm vào dòng sức sống cứu độ của Chúa. Khi đó, cuộc sống thường ngày được “đóng dấu đức Tin”, cuộc sống được gia tăng sức mạnh siêu nhiên, và đó là một thứ “thiền” của Kitô giáo.

Nguyễn Trọng Viễn O.P

Tháng 11-2012

Xem tiếp phần 3

Xem lại phần 1