Hạnh phúc và niềm vui

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Điều người ta thống nhất được với nhau, đó là mọi người đều khao khát hạnh phúc và đều cố gắng tìm cho mình một đời sống hạnh phúc. Nhưng “hạnh phúc là gì”, đó lại là điều người ta không dễ dàng đồng ý nhất với nhau. Hạnh phúc là một điều không dễ định nghĩa. Có bao nhiêu quan niệm về con người khác nhau thì cũng có bấy nhiêu những định nghĩa khác nhau về hạnh phúc. Đó là chưa kể đến những khao khát thực tế của mỗi người, trong hoàn cảnh riêng của mỗi con người. Có lẽ một trong những nguyên nhân gây nên bất hạnh cho con người, đó là vì người ta đã có một quan niệm “sai lầm” về hạnh phúc, cách minh bạch hay mập mờ, trong lý thuyết hoặc trong thực tế. Chẳng hạn có người nghĩ hạnh phúc là sự vắng mặt của đau khổ. Điều đó có vẻ dễ hiểu; nhưng đó lại là một cách nhìn không mang lại ý nghĩa tích cực cho cuộc sống; vì mấy khi cuộc sống con người vắng mặt đau khổ ? Cũng có nhiều “phương sách” giúp tìm hạnh phúc bằng một vài kỹ thuật sống… nhưng hạnh phúc là mục đích chính yếu của đời sống con người thì có lẽ chẳng phải do một chút khôn khéo của kỹ thuật sống mà có được…

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Con đường Kitô giáo là con đường hẹp... nhưng đó không phải là con đường đi tìm khổ hạnh mà là con đường tìm hạnh phúc.

Điều quan trọng là phải hiểu thế nào là hạnh phúc.

1. Hạnh Phúc

Điều người ta thống nhất được với nhau, đó là mọi người đều khao khát hạnh phúc và đều cố gắng tìm cho mình một đời sống hạnh phúc. Nhưng “hạnh phúc là gì”, đó lại là điều người ta không dễ dàng đồng ý nhất với nhau. Hạnh phúc là một điều không dễ định nghĩa. Có bao nhiêu quan niệm về con người khác nhau thì cũng có bấy nhiêu những định nghĩa khác nhau về hạnh phúc. Đó là chưa kể đến những khao khát thực tế của mỗi người, trong hoàn cảnh riêng của mỗi con người. Có lẽ một trong những nguyên nhân gây nên bất hạnh cho con người, đó là vì người ta đã có một quan niệm “sai lầm” về hạnh phúc, cách minh bạch hay mập mờ, trong lý thuyết hoặc trong thực tế. Chẳng hạn có người nghĩ hạnh phúc là sự vắng mặt của đau khổ. Điều đó có vẻ dễ hiểu; nhưng đó lại là một cách nhìn không mang lại ý nghĩa tích cực cho cuộc sống; vì mấy khi cuộc sống con người vắng mặt đau khổ ? Cũng có nhiều “phương sách” giúp tìm hạnh phúc bằng một vài kỹ thuật sống… nhưng hạnh phúc là mục đích chính yếu của đời sống con người thì có lẽ chẳng phải do một chút khôn khéo của kỹ thuật sống mà có được…

Thật ra, hạnh phúc khó mà lại dễ, dễ nhưng mà khó. “Khó mà dễ”, thực sự cũng là một tính chất chung của vận mạng con người. Cái dễ một cách khách quan nhưng lại khó một cách chủ quan; cái khó không phải là do một tình trạng bất lực căn bản, nhưng là do một thái độ sai lầm nào đó của chính con người, mà con người lại không dễ thay đổi thái độ, thay đổi cách nhìn…

1.1 Hạnh Phúc khác với sung sướng

Ở đây, ta không tìm một định nghĩa về hạnh phúc, nhưng chọn một cách tiếp cận khác, đo là so sánh để phân biệt giữa "hạnh phúc" và "sung sướng". Người ta rất dễ lầm lạc giữa hạnh phúc và sung sướng. Chúng ta thử xác định một vài tính chất khác biệt của hai khái niệm này :

1.1.1 Sung sướng “đo đếm” được, hạnh phúc không “đo đếm” được

Ta có thể dễ dàng khẳng định người này sung sướng hơn người kia khi nhìn vào nếp sống bên ngoài của họ : người có nhà ở tiện nghi thì sướng hơn người vô gia cư, hoặc ở trong nhưng khu ổ chuột; người thường được ăn nhà hàng thì sướng hơn người phải chạy gạo từng bữa..Nhưng nhìn từ bên ngoài như thế, ta khó có thể biết được người này có hạnh phúc hay không, hạnh phúc nhiều hay ít, có hạnh phúc bằng người kia không…Sung sướng là điều ta đo đếm được; còn hạnh phúc lại là điều không thể đo đếm được.

Sung sướng giống như một bông hoa để cho người khác có thể xem thấy; hạnh phúc giống như một hạt giống âm thầm. Bông hoa thì khoe sắc cho người khác thấy; còn hạnh phúc thì ôm lấy sự sống trong bản thân. Bông hoa thì được đánh giá đẹp hay không đẹp; nhưng hạt giống lại tự nó ấp ủ sức sống trong chính nó.

Cái đo đếm được thì nó lù lù trước mặt khiến cho nhiều người bị cuốn hút vào cuộc tranh đua, còn cái không đo đếm được thì lại bàng bạc mơ hồ… Đó lại là chính cạm bẫy của cuộc đời con người. Biết bao người rơi vào cạm bẫy và đánh mất hạnh phúc chỉ vì lao vào cuộc tìm kiếm sung sướng bằng bất cứ giá nào ! Biết bao người rơi vào cạm bẫy vì không biết hái lấy hạnh phúc trong tầm tay, mà lại mải mê đi tìm ở đâu khác ! Biết bao người đánh mất trọn vẹn một cuộc đời được Chúa sáng tạo nên để sống hạnh phúc, chỉ vì không chịu chấp nhận hạnh phúc của yêu thương !

1.1.2 Sung sướng là do so sánh với người khác, hạnh phúc lại bắt nguồn từ việc khám phá ý nghĩa cuộc đời mình

Đứa học trò thường chỉ vui khi so sánh điểm của mình với bạn bè xung quanh để vui hay buồn. Người ta cũng luôn cảm thấy mình sung sướng hay khổ sở khi so sánh đời mình với những người chung quanh. Cái đo đếm được (sung sướng) thì cũng so sánh được; và chính bài toán so sánh làm cho cái được đo đếm ấy trở thành nhiều hay ít, tốt hay xấu… Đó là thế giới của khổ sở và sung sướng.

Một bàn ăn đơn sơ nhưng đầy ắp tiếng cười của trẻ thơ, bầu khí hạnh phúc ấy “thách thức”cả thế giới xa hoa xung quanh; hai anh chị cười rúc rích trên chiếc xe đạp, bất chấp những người xung quanh đang vi vút với những chiếc xe tay ga sang trọng…Đây lại là thế giới đầy ắp hạnh phúc. Cái đáp số của hạnh phúc không phải là kết quả của bài toán so sánh, nhưng là kết quả của tình yêu sâu sắc hay hời hợt.

Quả thật, con người chỉ là mình trong tương quan, nhưng đó là tương quan hiệp thông chứ không phải tương quan cạnh tranh. Tương quan cạnh tranh dễ làm cho người ta đánh mất ý nghĩa bản thân mình, vì lo khẳng định mình “theo đuổi” người khác; tương quan hiệp thông lại giúp ta khám phá khát vọng bên trong và giúp ta khẳng định mình trong hoàn cảnh riêng của chính mình.

Hạnh phúc trần gian không là gì khác hơn những giây phút loé sáng của tình yêu chân chính; đó là lúc, con người nhận ra bản thân mình thực sự là mình nhờ thành thật hiến dâng. Sung sướng được gia tăng khi sự hưởng thụ sự vật được gia tăng, hoặc khi tỷ lệ chênh lệnh sự sung sướng của mình được vượt trội so sánh với sự sung sướng của những người chung quanh. Trong khi đó, mức độ hạnh phúc lại tùy thuộc và “độ sâu” của ý nghĩa mà người ta khám phá ra được. càng khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của cuộc đời, những ý nghĩa gắn liền sâu xa hơn với vận mệnh đời người. Người nào càng “khám phá” ra ý nghĩa sâu xa hơn của đời người thì càng có cơ may khám phá niềm hạnh phúc sâu xa hơn; ý nghĩa đó được thực hiện thể hiện trọn vẹn khi mà người ta khám phá ra được ý nghĩa của trọn vẹn cuộc đời, nghĩa là ý nghĩa duy nhất của vận mạng đời người thì người ấy càng có nhiều cơ may tìm thấy hạnh phúc thật cho cuộc đời của mình. “Khám phá” ở đây dĩ nhiên không phải là một sự minh bạch của lý trí, nhưng là một lòng can đảm dám chấp nhận hy sinh vì tình yêu. Trong tình yêu, con người có khả năng khám phá ý nghĩa duy nhất của trọn vẹn cuộc đời, và trong tình yêu, người ta có thể tìm được hạnh phúc trọn vẹn của cuộc đời.

Khi người mẹ biết rằng đứa con cần tới bàn tay chăm sóc của mình, khi người cha hiểu rằng sự hiện diện của mình mang lại niềm tin tưởng cho con cái… khi đó, người cha, người mẹ mới thấy mình hạnh phúc khi được chăm sóc cho con.

1.1.3 Sung sướng mang lại cảm giác thoả mãn; hạnh phúc mang lại cảm nhận sung mãn

Sung sướng làm thỏa mãn khát vọng hưởng thụ sự vật; hạnh phúc hình thành nên một ý nghĩa sung mãn cho bản thân. Khi ta được đi ăn một bữa tiệc ngon, ta sung sướng thưởng thức các món ăn. Nhưng càng thỏa mãn nhiều thì càng để lại mệt mỏi nhiều và yếu nhược sức sống. Khi ta tổ chức một bữa tiệc mừng con ta thi đậu; ta chẳng ăn được bao nhiêu, ta bận tâm lo chuyện này chuyện khác…Nhưng bù lại, ta cảm thấy sung mãn trong tâm hồn và có thể dậy sớm sáng hôm sau, để lo bữa ăn sáng cho đứa con thân yêu của mình.

Chìều hướng của sung sướng và chiều hướng của hạnh phúc hoàn toàn khác nhau : sung sướng thì hướng tới sự “tiêu thụ” trực tiếp giữa ta và sản phẩm. Hạnh phúc thì lại giúp ta quay về với ý nghĩa chân chính của bản thân, rồi thôi thúc ta cống hiến bản thân mình cho người khác. Người làm cha/ mẹ sống niềm hạnh phúc được làm cha/ mẹ, và ý nghĩa ấy thôi thúc cha mẹ cống híến hơn nữa cho con cái. Cảm nhận thỏa mãn trong sung sướng dễ đưa đến thái độ thích hưởng thụ và dễ gắn liền với ích kỷ. Hạnh phúc thì cung cấp ý nghĩa cho bản thân và gia tăng năng lực cho cuộc sống.

Lý do sâu xa là vì sung sướng gắn liền với sự vật. Sự vật là tất cả những gì không phải là một ngôi vị, tức là không phải một ai khác, nhưng chỉ là cái gì : một căn nhà, một tư tưởng, một hào quang danh vọng, một học vị hay một tài năng. Tìm sự vật, đólà qui chế sống của con vật. Con vật tiêu thụ sản phẩm; và khi tiêu thụ hết sản phẩm trong sự sung sướng, con vật phải tiếp tục tìm sản phẩm khác để hưởng thụ. Con người sung sướng cũng tiêu thụ sản phẩm như thế và không còn lại điều gì cho bản thân như một ngôi vị có giá trị sống, chỉ còn là một cảm giác trống vắng, cô đơn. Sung sướng không làm cho bản thân con người sung mãn thêm.

Hạnh phúc gắn liền với tương quan ngôi vị (đón nhận chính “cái tôi” của nhau, chứ không phải chỉ đón nhận người khác như một tài năng, sắc đẹp ..) nó là qui chế sống của con người, là sống nhu cầu lớn nhất của con người. Hạnh phúc đi theo chiều hướng tìm lại bản thân mình, và khám phá khát vọng thâm sâu, khát vọng đích thực,chân chính của bản thân , đó không là gì hơn khát vọng yêu thương. Nói cho cùng, hạnh phúc chỉ có trong yêu thương, vì yêu thương là bản chất sâu xa nhất của con người. Hạnh phúc là cảm nhận được ý nghĩa của yêu thương và thôi thúc dâng tặng trong yêu thương. Hạnh phúc là hoa trái của yêu thương và chỉ trong yêu thương người ta mới tìm thấy hạnh phúc đich thực. Nhưng yêu thương chân chính chỉ có thể là yêu thương theo tinh thần của đức Kitô, mà lý tưởng không là gì khác hơn “hy sinh mạng sống vì bạn hữu”. Hạnh phúc làm nên cảm nhận sung mãn thôi thúc ta đi trên nẻo đường ấy.

1.1.4 Sung sướng chỉ tốt khi nó được bao bọc trong hạnh phúc

Trong qui chế sống của con người, sự vật chỉ là phương tiện để giúp con người gặp nhau và hịệp thông với nhau. Sự vật là nhịp cầu để con người đến với nhau, sự vật là phương tiện con người dùng để chính bản thân con người đến được với ai khác trong ỵêu thương. Khi người ta đi tìm sự vật để tiêu thụ sự vật như một sản phẩm, người ta sung sướng; ngược lại, khi người ta dùng sự vật để diễn tả lòng yêu thương của mình đến ai khác, người ta gặp gỡ người khác và khi đó người ta mới đạt tới được hạnh phúc.

Chính vì không sắp xếp được thứ bậc giá trị giữa hạnh phúc và sung sướng, nhiều người tưởng rằng khi có thêm điều kiện để sung sướng, thì ta cũng đương nhiên cóthêm hạnh phúc. Rồi khi đạt được một lối sống sung sướng hơn, người ta lại thường đánh mất hạnh phúc.

Đúng ra sung sướng chỉ có thể làm gia tăng hạnh phúc khi con người biết hưởng dùng trong tình yêu và để diễn tả tình yêu. Chẳng hạn: người đi mua dâm thì chỉ tìm được sự sung sướng; nhưng chỉ trong tính yêu vợ chồng, chuyện chăn gối đồng thời mang lại cả khoái cảm sung sướng lẫn hạnh phúc. Bởi vì mua dâm là mua thân xác người khác như một sự vật; không phải là sự gặp gỡ người yêu bằng trọn vẹn bản thân của mình.

Tuy vậy, cũng phải luôn nhớ rằng sung sướng là một cạm bẫy rất dễ làm tha hóa con người. Người nào quá chú trọng tìm sung sướng thường là người ít có khả năng nếm cảm hạnh phúc.

1.2. Đi tìm hạnh phúc

1.2.1 Bớt so sánh để khám phá bản thân mình

Chuyện ngụ ngôn của La Fontaine có kể chuyện về một con cóc, vì muốn phồng to lên bằng con bò mà vỡ bụng chết. Thực sự con cóc không thể là con bò; không phải vì nó hoàn toàn kém hơn con bò, nhưng chỉ vì nó là con cóc; và đối với con cóc đực thì chính con cóc cái mới là “tiên nữ” chứ không phải con bò.

Trong cuộc sống, mỗi người đều có nét độc đáo riêng của chính mình. Không ai có thể là tất cả và cũng không ai có thể thay thế hoàn toàn một người khác. Cho dù đức Khổng Tử có bao nhiêu đức độ, nhưng ngài cũng chẳng thể thay thế cho tôi để sống và chu toàn trách nhiệm một người cha đối với đứa con nhỏ của tôi.

Bạn hãy bớt so sánh với người xung quanh để “hiểu ra” tôi là tôi, tôi có cuộc đời riêng của tôi. Bạn hãy quay trở về với chính mình để khám phá ý nghĩa cuộc đời “thằng tôi” này đây, nghĩa là biết được tôi là ai, nghĩa là biết được đâu là hiện hữu chính ỵếu của mình. Rồi bạn hãy nghĩ đến những người thân yêu đang cần đến mình, hãy nhận thấy khả năng cho đi của chính mình… Đi vào chiều hướng ấy, bạn mới có thể tìm thấy hạnh phúc chân thật.

1.2.2 Biết cảm nghiệm hạnh phúc thật, để bớt cám dỗ hưởng thụ

Kinh nghiệm của Adong : Adong được đặt trong vườn địa đàng để dặt tên cho muôn vật (X. St 2, 19-20). Đó là sứ mệnh thống trị thế giới mà Chúa ban cho con người. Nhưng niềm vui thống trị và chiếm hữu, tự nó, bị hụt hững. Sau khi đặt tên cho muôn vật, Adong cảm thấy buồn, vì “không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng” (St 2,20). Khát vọng thống trị, cảm giác thỏa mãn khi chiếm hữu mang lại sự sung sướng cho con người, nhưng nó không làm đáp ứng trọn vẹn khát vọng hạnh phúc của con người. Chỉ khi Adong gặp Evà, thì ông mới reo lên được tiếng reo vui của phận người “phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bời thịt tôi” (St 2,23).

Trong cuốn Tìm Được Đường Về, Henri Nouwen có kể về một thiếu niên 15 tuổi, bị bại não, sống trong cộng đoàn L’Arche, đó là Adam. Adam “không nói được, không tự mình thay quần áo, không tự mình đi được mà cũng chẳng tự mình ăn được nếu không có người giúp đỡ. Anh không khóc, không cười và họa hoằn lắm mới dám nhìn vào người đối diện”…Thế nhưng khi sống và phục vụ cho Adam, tác giả nhận ra được một món quà quí giá từ con người khuyết tật ấy, đó là sự bình an, một sự bình an bén rễ sâu trong con người, bén rễ sâu trong tâm hồn và một sự bình an có khả năng qui tụ thành nên một cộng đoàn xung quanh anh. Con người đầy những khổ đau và mất mát như Adam vẫn trọn vẹn là một món quà quí báu cho người khác.

Có người cả đời vẫn chỉ biết niềm vui khoái chí vì chiếm hữu và hưởng thụ sự vật mà không biết đến niềm vui gặp gỡ, niềm vui hiệp thông; đó là người chưa trưởng thành trong vận mạng làm người, đó là Adong đang vui vì “đặt tên cho muôn vật”. Vượt lên trên niềm vui chiếm hữu và thống trị, để khám phá niềm vui gặp gỡ, đó lả một bước nhảy cần thiết để bước vào thế giới hạnh phúc. Khi gặp gỡ trong tình yêu, con người mới biết mình thật sự, biết thật khát vọng sâu xa của mình.

1.2.3 Dừng lại để đón nhận hạnh phúc đang có của mình

Thật ra, cuộc sống con người chẳng mấy khi vắng mặt đau khổ, nhưng cuộc sống củng không khi nào thiếu vắng hạnh phúc. Điều tai hại là người ta chỉ thấy đau khổ mà không thấy hạnh phúc. Thái độ so sánh khiến cho người ta quên mất bản thân, và không nhận ra những hạt men hạnh phúc. Khi tìm lại được chính ý nghĩa của cuộc đời mình, ta có thể bắt đầu cảm nhận được những niềm hạnh phúc “nho nhỏ” đang ở chung quanh mình, trong tầm tay của mình. Hãy tận hưởng những hạnh phúc ấy như năng lực bổ dưỡng cho hành trình cuộc đời.

Có một số người đến với tôi trong tâm trạng khổ sở; khổ sở vì nghèo, khổ sở vì đang bị hiểu lầm, khổ sở vì một tình huống rắc rối trong đoàn hội… Nhưng khi hỏi về con cái, thì tôi thấy người ấy có con ngoan, học giỏi,… tôi nói: Anh/chị có muốn đổi lấy một gia đình giàu có, nhưng con bị nghiện không ? Tất cả đều trả lời rằng không. Tôi đề nghị anh/ chị hãy biết thường xuyên “hít thở” hạnh phúc mình đang có; rồi anh/chị sẽ thấy những nỗi khổ của mình nhẹ đi rất nhiều.

1.2.4 Tin tưởng vào Chúa để vững vàng bước đi trên con đường tìm hạnh phúc

Cuộc đời bạn sẽ chẳng mấy khi vắng mặt đau khổ; và có thể cám dỗ sung sướng như một cách giải quyết khổ cực sẽ thường xuyên sôi lên trong lòng bạn. Đôi lúc những nỗi đau châm chích mạnh vào tâm hồn bạn khiến bạn không thể nào quên nó đi được…

Niềm tin vào Chúa, một Thiên Chúa yêu thương bạn đến nổi dám hy sinh mạng sống vì bạn, một Thiên Chúa đang đồng hành và đang chờ đợi để dẫn đưa bạn vào niềm hạnh phúc trọn ven, chính niềm tin ấy sẽ trở nên như một lộ trình được mở ra cho bạn, như một bàn tay đang dẫn dắt bạn vững bước trên hành trình tìm hạnh phúc. Tin tưởng vào Chúa, bạn sẽ nếm cảm được niềm hạnh phúc được yêu thương vẫn đang ở ngay trong lòng bạn, niềm hạnh phúc vĩnh cửu ở cuối đường vẫn đang chờ đợi bạn. Chính niềm tin - cậy - mến đối với Chúa sẽ giúp bạn luôn tỉnh táo trước những hoàn cảnh phức tạp trong cuộc sống, để luôn biết tìm kiếm và trân trọng hạnh phúc yêu thương.

Một cô gái đang sống trong hạnh phúc được yêu có thể cười thầm với lòng mình khi bị ai đó chê trách; hoặc có thể rộng rãi cho đứa em mình 10.000 đ khi nó chỉ xin có 2.000đ. Cũng thế, nếu ai đó thường xuyên chìm ngập trong niềm tin vào Chúa có thể xem nhẹ những khổ đau xảy ra trên đường đời, một đường đời chẳng mấy khi vắng mặt khổ đau; và có thể an vui ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Niềm bình an mà Chúa ban cho không phải là một ngôi nhà an toàn, nhưng là có được một Đấng Đồng Hành trên hành trình sương gió.

Khám phá hạnh phúc trong tình yêu hy sinh

Hạnh phúc chỉ có được khi người ta tìm về với ý nghĩa chân chính của bản thân mình; sống trọn ý nghĩa chân chính ấy, và từ ý nghĩa ấy, con người biết cho đi chính bản thân mình. Đó không là gì khác hơn nẻo đường của tình yêu mang nét đặc trưng của Kitô giáo. Hạnh phúc là khát vọng sâu xa và bao quát nhất của con người, khát vọng ấy cũng không thể được thoả mãn ở đâu khác hơn nơi chính động lực căn bản, ý nghĩa căn bản của đời sống con người, tức là tình yêu. Tuy nhiên tình yêu Kitô giáo thì bao giờ cũng hướng tới lý tưởng :

"Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình." (Ga 15,12-13)

2. Niềm vui

Đã có nhiều người tố cáo Kitô giáo như đạo của những con người phẫn chí; những con người bế tắc trong cuộc sống, và tìm cách trốn chạy thực tại bằng một giải pháp ảo tưởng, bằng những giá trị bịa đặt. Dấu hiệu minh chứng là trong sách Tin Mừng không có hoặc có quá ít dấu hiệu của niềm vui.

Thật ra, niềm vui Kitô giáo không phải là sự "vui vẻ", nhưng nẻo đường Kitô giáo dính dáng đến thân phận con người, dính dáng đến sự sống-chết của kiếp người, nên niềm vui Kitô giáo mang phẩm tính của một sự vui-mừng.

2.1. Thế đứng Kitô giáo

Trong các Tin Mừng Nhất Lãm và trong những thư đầu của thánh Phaolô, điều được nhấn mạnh là Nước Trời; trong khi đó, Tin mừng Gioan và các thư sau thì lại tập trung vào chính bản thân Chúa Giêsu. Có Chúa Giêsu thì người tín hữu có được tất cả.... Thật sự, Đức Giêsu là trung tâm của Nước Trời. Ở đâu có Chúa Giêsu thì có Nước Trời ở đó; và ở đâu có Nước Trời đích thực thì phải có Chúa Giêsu ở Trung Tâm... Tuy nhiên, Giáo hội vẫn không ngừng chao đảo giữa hai khía cạnh ấy, khía cạnh "xã hội" và khía cạnh "thần bí", khi thì nghiêng về bên này, và khi thì nghiêng về bên kia; và lịch sử nhân loại, trong những nỗ lực muốn phục vụ con người, cũng không thoát khỏi sự chao đảo giống như vậy...

Về phương diện triết học, người ta có thể thấy một sự chao đảo gần giống như vậy, được diễn tả như sau : ở đỉnh cao minh triết thì “siêu hình” và “luân lý” hoà nhập với nhau; còn ở mức độ la đà thì siêu hình và luân lý trở thành hai con đường riêng biệt chẳng dính dáng gì tới nhau. Đây là “qui luật” của lịch sử nhân loại. Khi người ta muốn diễn tả ý hướng căn bản (siêu hình) bảng những phương thế, hoặc thái độ luân lý cụ thể, bị chi phối nhiều do tính thực dụng, nhằm đạt được những mục tiêu trước mắt, thì sẽ rớt vào nguy cơ dần dần đánh mất ý hướng cản bản. Sự huỷ hoại sâu xa nhất của một một tôn giáo, một tổ chức, một tập thể không phải là sự huỷ hoại tự bên ngoài, nhưng chính là một tình trạng mất căn tính từ bên trong, khi mà những đường nét “tinh thần” căn bản không còn là nguồn mạch của những phương sách cụ thể. Hoặc nói một cách khác nữa, cái gì là cứu cánh thì cũng phải là nguyên lý, và cái là là nguyên lý thì sẽ trở nên cứu cánh. Nếu người ta nhằm tới cứu cánh là một thế giới hòa bình thì không thể dùng phương tiện bạo lực như nguyên lý cho hành động của mình. Ý nghĩa của "cứu cánh" đã phải được thể hiện trong nguyên lý, trong vận hành từng bước để tiến tới cứu cánh ấy...

2.2 Thái độ Kitô giáo chân chính

Do thái - Kitô giáo là đạo của lịch sử, đạo gắn liền với những biến cố và sự kiện cụ thể trong dòng lịch sử. Thái độ Kitô giáo thiết yếu là hòa nhập vào dòng thời gian. Do đó, sống đức tin chân chính không là gì khác hơn sống lịch sử đời mình như một lịch sử ơn cứu độ.

Trên hành trình lịch sử đời-đạo ấy, cần có một thái độ căn bản : "nhớ và mơ". Người Dân Israel vừa luôn phải nhớ lại "những kỳ công dấu lạ Chúa đã làm cho cha ông", vừa thiết tha mơ ước về một "đất hứa" mà trong thực tế không bao giờ họ có thể đạt tới. Cũng thế, người Kitô hữu, luôn phải đọc Kinh Thánh để có thể nhận ra những gì Chúa đã làm trong lịch sử đời mình; và đồng thời luôn phải "mơ" về ngày Chúa thực hiện trọn vẹn nhiệm cục cứu độ trong ngày Quang Lâm của đức Giêsu. Chỉ trong hai đầu "nhớ" và "mơ" ấy, giây phút hiện tại của người tín hữu mới được "định hình" trong vận hành đức Tin, thứ đức Tin "sống lịch sử đời mình như một lịch sử ơn cứu độ". Chúng ta có thể nhận ra hai "tác động" cụ thể không thể thiếu trong đời sống đức Tin của người Kitô hữu :

+ Ướm : ướm là một phần trong tác động "đọc dấu chỉ" của người tín hữu. Việc đọc ý nghĩa siêu nhiên của dấu chỉ được thực hiện bằng cách ướm một sự kiện, một hoàn cảnh, một tình huống cụ thể của lịch sử vào cuộc Vượt Qua của đức Giêsu Kitô, Đấng là Trung Tâm của lịch sử.

+ Cử hành : cử hành tức là thực hiện một hành vi của thể chất, được gồm gói thật đầy ý nghĩa của tinh thần. Việc cử hành tức là thực hiện long trọng một biểu tượng có tính văn hóa để toát lược ý nghĩa và để truyền sức sống của ý nghĩa ấy cho thực tại. Cử hành đúng đắn một hành vi phượng tự chẳng hạn, như cúi mình trước Thánh Thể, diễn tả tâm tình tôn kính, thờ phượng thẳm sâu của tâm hồn trước Thiên Chúa...Cử hành chính là đóng con dấu của vĩnh cửu vào dòng thời gian...

Chính như thế, người tín hữu có thể sống giây phút hiện tại một cách sung mãn; sống phẩm tính "siêu hình" trong thái cử "luân lý"; sống thực tại mang phẩm tính cứu cánh như là chính nguyên lý của hành động hiện tại...

Trên nền tảng của những giá trị và phương thức đặc trưng Kitô giáo ấy, chúng ta có thể khám phá ra thứ hạnh phúc và niềm vui mang phẩm tính Kitô giáo.

2.3 Tình yêu, đơn giản và toàn vẹn

2.3.1. Tình yêu và tội lỗi, đơn giản và phức tạp

Mặc khải Thánh Kinh cho chúng ta biết tất cả vạn mạng của cuộc sống con người đều nằm trong câu chuyện về tình yêu, tình yêu giữa Thiên Chúa với con người và tình yêu giữa con người với nhau. Tất cả nguồn ơn phúc của con người là được sáng tạo giống hình ảnh Thiên Chúa, để sống trong mối tương quan yêu thương với Thiên Chúa và nhờ đó mà có thể yêu thương nhau. Đó là điều thật “đơn giản” trong bản chất con người. Mặt khác, tất cả mọi tai họa của cuộc sống con người, giết chóc, chia rẽ, hận thù, bất công,… cũng đều xuất phát từ lựa chọn đi ra ngoài nẻo đường của tình yêu. Đi ra ngoài con đường “đơn giản” ấy, con người bước vào một thế giới quá “phức tạp”. Quả thật, cuộc đời con người đơn giản quá nhưng cũng phức tạp quá. Cái đơn giản của bản chất và cái phức tạp của hiện tượng. Theo Kinh Thánh, cái đơn giản đó chính là tình yêu thương và cái phức tạp đó chính là hậu quả của tội lỗi. Trong thế giới của tội lỗi, cái phức tạp che mờ cái đơn giản.

Trong cuộc sống trần gian hiện nay, chúng ta đối diện với một thế giới hết sức phức tạp. Cái phức tạp của cuộc sống biểu lộ trong biết bao nhiêu học thuyết triết học và tôn giáo mong ước tìm con đường giải thoát khác nhau cho con người : siêu thoát, giác ngộ, khôn ngoan, đức độ… Cũng thế, chắc chắn là mỗi con người, trong cuộc vật lộn sống còn với cuộc đời, cũng đã tự hình thành cho mình một phương trình giải quyết, một cách minh nhiên hay mặc nhiên, theo nhiều đường hướng khác nhau : tôi phải có tiền, tôi phải khôn ngoan, tôi phải có uy tín trong dịa vị hoặc trong đức độ… Quả thật tội tổ tông, làm nên một thế giới phức tạp che mờ cái đơn giản, chưa bao giờ vắng mặt trong cuộc sống con người và trong hành trình của mỗi người.

Những con đường của sự “phức tạp” thường tỏ ra có những hiệu quả rõ ràng, mong chóng và hợp lý, chúng giống như những cánh cửa mở ra ngay đến bờ bến của thiên đường. Trong khi đó, nẻo đường “đơn giản” thì lại mờ mờ ảo ảo, chất chứa đầy những nguy cơ trước mắt, và có vẻ như đằng sau cánh cửa nó còn cả một con đường dài, vòng vèo, đầy chướng ngại.

Con đường của sự “phức tạp” lại có vẻ như rất đơn giản. Con đường của sự “đơn giản” lại xuất hiện trong bộ mặt quá phức tạp. Cái nào là thật ? Cái nào là quảng cáo ? Có phải “văn minh quảng cáo” là một thứ văn minh có nguồn gốc từ bản chất người và có dính dáng đến vận mạng sống còn của con người ? Điều mà Satan nói với bà Evà chẳng phải là một thứ quảng cáo sao !

“Con rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3, 4)

2.3.2. Tình yêu, đơn giản và toàn vẹn

Kitô giáo chọn con đường của tình yêu, con đường đơn giản, mặc dù nó dẫn đưa qua những nẻo đường phức tạp. Con đường yêu thương là liên lụy, là hy sinh, là phải chết, “chết trong lòng một tý” hoặc nhiều khi là chết cả một cuộc đời. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói : “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”, đó là một điều quá đơn giản. Nhưng cái hay nhất của tấm lòng đơn giản ấy lại là “để làm gì em biết không, để gió cuốn đi, để gió cuốn đi”. Để gió cuốn đi thì phức tạp lắm, vì đó là một cuộc phiêu lưu mà ta không nắm được đàng chuôi bao giờ. À thì ra cái đơn giản của tình yêu là sự đơn giản của đôi cánh, đôi cánh bay vào bầu trời bao la kỳ diệu và đầy phức tạp, chứ không phải đơn giản của cục sắt hay cục vàng được cất kỹ trong ngăn tủ. Cái đơn giản của sự phong phú khác xa với cái đơn giản của sự nghèo nàn.

Tiêu chuẩn của cái đơn giản đích thực phải là tính cách bao dung và phong phú. Cái đơn giản đích thực phải gồm gói được tất cả mọi thực trạng của đời sống con người và làm tăng triển mọi năng lực tích cực của bản chất người. Đơn giản nhưng phải toàn vẹn, chứ không phải cái đơn giản do lấy một thành phần nào đó, đề cao nó lên, loại trừ những điều khác một cách khiên cưỡng.

Mặc dù trọng tâm của Kitô giáo chỉ hết sức đơn giản là yêu thương, nhưng tất cả lịch sử Giáo Hội vẫn không ngừng tìm cách thông hiểu mỗi ngày mỗi trọn vẹn hơn mà chẳng bao giờ có thể thấu được trọn vẹn. Giới luật yêu thương đơn giản như thế, nhưng lại bao hàm tất cả mọi chi tiết phức tạp của cuộc sống con người. Thánh Phaolô cho chúng ta một bài ca Đức Mến tuyệt diệu, diễn tả được sự đơn giản của tình yêu :

“Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.

Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi (…).

Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cr 12,31-13,1-3.13)

Thế nhưng, dù bản chất của đức Mến thì đơn giản, những vận hành của nó lại không đơn giản chút nào. Đức Mến tuy dễ mà khó, và tuy khó mà dễ. “Dễ” vì tự đáy lòng con người, ai cũng khao khát yêu thương, nhưng “khó” vì con người chẳng đủ sức đi trọn hành trình yêu thương, vì con người vẫn bị cám dỗ do một thứ “dễ dãi” giả tạo, do những thứ “có vẻ đơn giản” bày ra cho mình. Thánh Phaolô cho thấy đức Mến những hoa trái của đức Mến được diễn tả trong nhiều khía cạnh của cuộc sống :

“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”. (1 Cr 13, 4-8).

Giáo Hội vẫn hiểu trọng tâm của đời sống đức Tin là đức Mến, nhưng trong lịch sử, đời sống của Giáo Hội vẫn không ngừng giao động giữa “trọng tâm” và “ngoại biên”, nghĩa là lúc thì giữ đức Mến, nhưng lại không diễn tả được trọn vẹn trong đời sống; và có lúc thì tìm ra nhiều cách diễn tả đức Mến nhưng lại không còn bóng dáng thực sự của đức Mến.

2.4. Tình yêu : “Ở trong nhau”

2.4.1. “Ở trong” và “ở ngoài”

Hình như vật gì ở trần gian này cũng có cái ở trong và cái ở ngoài, có mặt trái và mặt phải, có hình thức và nội dung… Và hình như ở trần gian “giả trá” này, vẫn thường có một sự đối nghịch giữa cái bên trong và cái bên ngoài. Cũng có đôi khi ta thấy cuộc đời diễn ra theo một qui luật thuận “con lợn có béo thì lòng mới con”; nhưng thường hơn ta sự thật cuộc đời là một qui luật nghịch : “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “chiếc áo không làm nên thầy tu”, “ngọt mật chểt ruồi”…

* ”Cái bên ngoài”

Cái bên ngoài là cái ta có thể nhìn thấy, đụng chạm đến cách trực tiếp. Cái bên ngoài thường là cái rõ ràng, sáng sủa; nó lù lù ra đấy như một sự vật chiếm hết cái nhìn của ta, nó lồ lộ ra đấy như một cuộc biểu diễn thu hút hết sự chú ý của ta. Cái bên ngoài có vẻ như muốn áp đặt giá trị của nó trên nhận định của ta. Cái bên ngoài cũng là cái dễ thay đổi, có thể đổi trắng thay đen, trôi nổi theo dòng đời. Nó là sự thật không có chân, không có rễ, không gắn vào sự sống đích thực. Nó thường là lớp áo che đậy nhiều hơn là tỏ lộ thật sự. Do đó, cái bên ngoài thường là một thứ vinh quang được nhìn nhận từ những người khác. Cái bên ngoài thường làm nên danh giá, địa vị, …

Cuộc sống xã hội thường là những tương giao dựa trên cái bên ngoài. Có rất nhiều cuộc gặp gỡ, một công trình hợp tác, nhiều đoàn hội… ra vẻ như một sự gắn bó bền chặt, nhưng thật ra chỉ là những tương giao “bên ngoài” với nhau.

* “Cái ở trong”

“Cái ở trong” là điều ta thường không thấy rõ, không thấy ngay, không thấy lồ lộ ra đấy. Cái bên trong gắn liền với giá trị thật của chính mình nên nó thường vững bền, là căn cốt cho cái bên ngoài. Cái bên trong thường được dùng để diễn tả thực chất của một con người hay một sự vật nào đó. Muốn hiểu được cái bên trong, người ta phải có một độ “sâu sắc” nào đó, vì thế cái bên trong thường chỉ được một số ít người thấu triệt.

Đối với các sự vật khác, với một chút chú tâm, người ta có thể xác định được đâu là cái bên ngoài, đâu là cái bên trong. Đối với con người, ta đứng trước một sự biến ảo kỳ lạ, khó có thể biết chắc được đâu là cái bên ngoài, đâu là cái bên trong. Việc thiết lập mối tương giao giữa con người với nhau một cách trọn vẹn phải đến được tới “cái bên trong” của con người, nhưng đó là điều không phải dễ dàng.

2.4.2. Tình yêu đi vào “cái bên trong”

Thật ra, để đến với người khác một cách trọn vẹn, con người phải ra khỏi bản thân mình, nghĩa là không còn lấy mình làm trọng tâm, không còn sống theo kiểu kinh doanh lợi lộc cho bản thân mình bằng những mối tương giao với người khác, không còn cho sự thành đạt của mình là trên hết. Người cha/mẹ, khi nào nhận ra đời mình chẳng ra sao cũng được, miễn là con mình được nên người, thì khi ấy mới sống hết phẩm chất yêu thương của một người cha/mẹ thực sự. Như thế, “ngõ ra” khỏi bản thân không ở đâu khác mà chính là con tim. Cần phải đi từ trái tim để đi vào “cái ở trong” của ai khác.

* Đến với cái bên trong nhờ “có cảm tình”

Người ta kể tiểu sử một con người, người ta thường ghi dấu những chặng đường bằng những xác định không gian và thời gian : sinh ra ngày nào, ở đâu, thi đậu ngày nào, và lên chức gì… Đó là những ghi nhận “khách quan” về một con người. Nhưng ghi nhận ấy có vẻ như cho người ta biết rõ về một con người. Nhưng thật ra, bình thường, những ghi nhận ấy chỉ là những lớp vỏ bên ngoài, không cho thấy được mạch sống của một con người. Chỉ người nào đã được đón nhận lời chia sẻ thân tình, chỉ người nào cùng trăn trở với anh ta trong công việc, chỉ người nào cảm được nỗi lòng của anh ta,… thì mới có thể thực sự “hiểu” được hành trình anh ta đã đi. Đây là lối hiểu tận bên trong.

* Ở trong nhau là đón nhận những những biến chuyển nhỏ của nhau

Một người mẹ, khoe với hàng xóm rằng đứa con của mình mọc hai cái răng. Người hàng xóm dửng dưng, với sự kiện đó, vì mọc hai cái răng có gì quan trọng đâu. Người hàng xóm không cùng sống, cùng chia sẻ từng bước phát triển của một đứa bé, đứa bé đó không phải là con của mình. Chỉ người mẹ, nâng niu bú mớm cho con từng ngày, mới có thể vui được vì con mọc răng. … Ta có thể nói được rằng sự hiệp thông được thể hiện rõ nhất khi người ta hiệp thông được trong những điều nhỏ nhất của người khác.

* Ở trong nhau nhờ quá trình lịch sử

“Ở trong nhau”, bình thường điều đó được thành hình nhờ một quá trình. Khi người ta cùng chia sẻ với nhau một ưu tư, cùng liên lụy với nhau trong một hành trình gian khó, cùng đón nhận những thành công hay thất bại như một kết quả chung,… khi đó, dần dần, như hai sợi giây bện vào nhau, tâm tình của hai người có thể trở thành một. Yêu thương là đón nhận được những điều bé nhỏ của nhau. Điều đó chỉ có được khi người ta “ở trong” nhau, nghĩa là liên lụy với nhau trong một quá trình lịch sử. Cùng đồng hành trong một quá trình lịch sử người ta mới có thể đón nhận được những thành quả của nhau và chia sẻ những khó khăn của nhau.

* Ở lại trong nhau là đón nhận huyền nhiệm cuộc đời của nhau

Khi ta đứng ngoài ta thường rơi vào cám dỗ giải thích cuộc đời của người khác một cách minh bạch, hợp lý; nhưng đó là cách nhìn không chính đáng, vì cuộc đời của một con người là một huyền nhiệm. Huyền nhiệm không phải là điều có thể giải thích rõ ràng, nhất là không bao giờ có thể được giải quyết như một vấn đề. Chỉ có sự tôn trọng tha nhân như một huyền nhiệm ta mới có thể nhận ra được những điều kì diệu trong một con người và trong một cuộc đời. Khi chiêm ngắm tha nhân như một huyền nhiệm, ta có thể khám phá ra muôn vàn điều kỳ diệu hơn ta tưởng. Như thế, cuộc đời con người mới thực sự được đối xử xứng đáng với phẩm giá một con người thực sự.

Như thế, khi ở trong nhau, người ta đón nhận tha nhân như một ngôi vị chứ không phải như một sự vật hay như một bài toán. Thấm nhập vào huyền nhiệm, đó là một sự trân trọng huyền nhiệm một cuộc đời. Chỉ có tình yêu trân trọng như thế mới xứng đáng để đến với tha nhân..

2..4.3. Ở lại trong tình thương của Thầy…

Chúa Giêsu, trong Tin Mừng Gioan, nhiều lần nói đến việc “ở trong”, hay “ở lại trong”. Chúa Giêsu cho thấy nguồn mạch của sự hiệp nhất là sự kiện chính Ngài ở lại trong tình thương của Chúa Cha; để rồi Ngài cũng mời gọi các tông đồ ở lại trong tình thương của Ngài :

“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”. (Ga 15,9; Xc. Ga 6,56; 8,31; 15, 4-7.10…)

Từ ngữ của thánh Gioan có phần của một kinh nghiệm riêng, kinh nghiệm thần bí khó có thể thấu triệt; nhưng dù sao, Tin Mừng vẫn luôn là một lời loan báo Tin Mừng, nghĩa là một lời mời gọi chúng ta, bằng sự dấn thân vào mối tương quan thân tình với Chúa Giêsu, để dần dần khám phá ra huyền nhiệm sâu xa của tình yêu, huyền nhiệm ở trong Chúa. Thánh Phaolô cũng sống kinh nghiệm ấy khi nói :

"Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.(Gl 2,20)

Có nhiều người Kitô hữu sống với Chúa nơi “cái ở ngoài”. Đó là thứ “đạo sinh hoạt”, đạo chỉ là tham dự những sinh hoạt đạo được tổ chức. Đức Giêsu mời gọi chúng ta “ra khỏi bản thân”, sống bí tích Rửa tội, nghĩa là chết cho con người cũ; để sống một cuộc sống mới, trong đó, chính đức Kitô sống trong tôi. Con đường ấy phải khởi đi vào lộ trình của tình yêu, của Đức Mến.

2.5. Tình yêu tự hủy

2.5.1. “Sức nặng” của tình yêu

* Cái “nặng” và cái “nhẹ”

Cái nặng là cục sắt; cục sắt nặng nên nằm yên một chỗ và không dễ gì di chuyển nó được. Cái nặng là cục vàng; cục vàng thì cũng nằm yên một chỗ; cục vàng còn được người ta cất kín trong két sắt và chẳng mấy khi được chu du giữa trời đất mênh mông. Cái nặng lúc nào cũng có tình trạng “an vị”, tự tại với chính mình và đòi cái gì khác phải đến với nó chứ nó không tự đến với cái khác được. Người “nặng ký” thì cũng vậy, người nặng ký thì được bảo vệ kỹ lưỡng, trong vòng an ninh chặt chẽ, vòng trong vòng ngoài… Người “nặng ký” chẳng dễ gì có thể đến được những nơi vùng sâu vùng xa, chẳng dễ gì gặp được những người “đầu đường xó chợ”, chẳng dễ gì thông cảm hay chia sẻ được với những phận người đau khổ. Lâu lâu người nặng ký làm một cuộc xuất du thì cuộc xuất du ấy cũng được dàn dựng với tất cả sự cồng kềnh của một bộ máy an ninh và “điếu đóm”. Cái nặng thì đầy oai phong và luôn giương oai với cái khác, nhưng cái oai phong ấy lại làm cho nó khó gắn với cái khác. Cái nặng luôn có khuynh hướng đơn độc một mình, oai phong một mình, mình với mình mà thôi. . .

Cái nhẹ là cục bông gòn, bay theo làn gió nhẹ, bồng bềnh lên xuống theo cơn gió. Cái nhẹ là hạt bụi, hạt bụi bị xua đuổi khỏi những nơi sang trọng, bị tống khứ ra những nơi tồi tệ và bẩn thỉu nhất. Cái nhẹ thì không có gì để an vị, tự tại với chính mình cả. Cái nhẹ suốt đời là kẻ viếng thăm cái khác mà lại chẳng mấy khi được cái khác viếng thăm. Cái nhẹ luôn khao khát đáp xuống một cái gì đó, luôn cần gắn với một cái khác, nhưng lại chẳng được những nơi sang trọng đón nhận. Người nhẹ “tép riu” cũng giống như cục bông gòn, giống như hạt bụi, họ có thể phiêu lưu như kẻ không nhà. Họ không có hành lý cồng kềnh, họ không có sự an toàn bao bọc, họ không có những vật quí giá cần phải bảo vệ, họ không sợ bị xầy xước khi giao tiếp, …Họ nhẹ bồng trên đường phiêu lưu và có thể đến được với ai khác, nhất là những nơi cùng khổ.

Tình yêu thương thường không phải là “cái nặng” nhưng chính là “cái nhẹ”; người biết yêu thương cũng thường là những con người “nhẹ ký”, không quá quan tâm bảo vệ cái tôi sang trọng của mình và như thế nên có thể đến được với người khác. Người ta thường thích nổi tiếng, thường thích trở nên quí giá, thường thích là nhân vật quan trọng, thường thích được người khác chú ý đến mình… những cái thích như thế không mở đường đi vào tình yêu được, nhưng chúng là những tảng đá ngăn chận nẻo đường tình yêu. Thứ yêu thương của những người như thế là những bước đi khệnh khạng, những “đám rước” rầm rộ, những biểu ngữ huyênh hoang, những thứ trình diễn tình yêu mà rất khó đi vào sự thân mật.

* Cái “thấm nhập” và cái “cưỡng bức”

Cái nặng thì “cưỡng bức”, nó đè bẹp, trấn áp, xô đẩy từ bên ngoài; cái cưỡng bức thì có sức mạnh để có thể bắt cái khác phải ở đúng vị trí mình muốn, vận hành theo đúng cách thức mình muốn. Cái cưỡng bức làm chủ được thân thể của cái khác, những lại không tạo được một sự hòa hợp sâu xa. Cái cưỡng bức thường làm nên một trật tự bên ngoài, nó có khả năng uốn nắn cái khác theo ý mình, sắp xếp để mọi sự ăn khớp với nhau theo một quy hoạch tổng thể … Nhưng cái cưỡng bức không thể làm nên được cái “duyên” nội tại, cái “hòa” một cách kỳ lạ và cái kỳ diệu một cách sáng tạo. Cái cưỡng bức thường làm nổi bật cái tổng thể, nhưng lại làm chìm mất cái cá biệt độc đáo. Con người có khả năng cưỡng bức là một kẻ độc tài, là người thống trị người khác bằng sức mạnh của cơ bắp, hoặc quyền bính, tạo nên nơi người khác một nỗi sợ; là người chinh phục người khác bằng tại năng làm cho người khác phải lép vế và rơi vào tình trạng khúm núm, e dè; là người “loé sáng” bằng đức độ khiến người khác phải chói mắt, lùi xa như một thứ “kính nhi viễn chi”, và mất tự tin để có thể tự mình sống cuộc đời của mình.

Cái “thấm nhập” thì thường là cái nhẹ nhàng, nó “chinh phục” không phải bằng một sự cưỡng bức bên ngoài, nhưng là một sự hòa hợp từ bên trong. Cái thâm nhập không phải là một dị vật trong cơ cấu hữu cơ của điều nó thâm nhập, nhưng tan biến và trở nên một với cái nó thâm nhập. Cái thâm nhập thì không còn giữ nguyên hình dáng của mình, nhưng biến hóa để thấm nhập và cấu tạo nên một cơ cấu hữu cơ với cái khác. Người có khả năng “thấm nhập” là người được người khác đón nhận một cách tự nguyện, được yêu bằng chính ý muốn tự do của người khác. Người thấm nhập là người để lại một chút vấn vương, một chút thi vị, một chút thăng hoa trong tâm tình của người khác.

Cái cưỡng bức không thể mang lại tình yêu được. Cái cưỡng bức chỉ có thể làm nên tình trạng “đồng nhi bất hòa”. Ngược lại, tình yêu thì phải được thấm nhập, một cách nhẹ nhàng, một cách thi vị, một cách an hòa. Tình yêu làm nên một nét duyên riêng của cấu trúc “hòa nhi bất đồng”.

* Cái “hiệp lực” và cái “đối lực”

Cái cưỡng bức thì phải mạnh để có thể đàn áp. Cái cưỡng bức thì coi sức mạnh của cái khác như một đối lực. Cái khác mạnh thì có nguy cơ làm cái cưỡng bức bị suy yếu, nên cần phải tiêu diệt sức mạnh của cái khác bằng tất cả mọi biện pháp cưỡng bức. Cái khác ấy là một “đối lực” làm trì trệ vận hành của cái cưỡng bức. Cái cưỡng bức luôn có khuynh hướng nghi ngờ, luôn tăng gia biện pháp đề phòng, luôn đặt ra thật nhiều đòi hỏi, đòi hỏi của luật lệ chi ly, đòi hỏi của phép tắc khó khăn, đòi hỏi cứ càng ngày càng gia tăng thêm nhiều quy định.

Cái “hiệp lực” thì lại đón nhận được sức mạnh của cái khác, sức mạnh được gia tăng trong sự hiệp thông, tình nghĩa được bền chặt trong mối giây tình nghĩa. Cái hiệp lực cần nhờ đến nhau như sức hút của nam châm khác cực, nghĩa là có khả năng đón nhận, có khả năng thấm nhập, có khả năng hiệp nhất sức mạnh của hai bên.

Người sống với người khác như một đối lực là người có khuynh hướng trở thành bạo chúa, luôn có những người để mình loại trừ, luôn bắt người khác làm theo ý mình, luôn đề cao trật tự bên ngoài, luôn coi sự phát triển của người khác là mối đe dọa cho chính mình. Ngược lại, người sống trong tinh thần “hiệp lực” thì lại có thể nhờ đến người khác; coi sự phát triển của người khác là điều tốt đẹp cho chính mình.

2.6 Huyền nhiệm tình yêu nơi Chúa Giêsu

Nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài giống như ”cái nhẹ”. Giống như hạt bụi để cho ngọn gió của quyền lực thổi tung :

“Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ…". (Lc 2,1-7; x. Mt 4, 12-16).

Nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài từ chối sức mạnh cưỡng bức để chinh phục người khác. Chúa Giêsu từ chối mọi cám dỗ của Satan để thi hành được lối cứu độ bằng bánh mì, bằng sự lạ và bằng quyền bính (x. Trình thuật Cám dỗ).

“Đức Giêsu bảo người ấy : "Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52)

Ngài chọn con đường của Chúa Cha, con đường hy sinh mạng sống cho bạn hữu. Chúa Cha luôn xác nhận “nẻo được thấm nhập” nơi hành trình của Đức Giêsu; mỗi khi Chúa Giêsu đi theo lộ trình thấm nhập như thế, thì lại có tiếng của Chúa Cha “Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng”. Ngài trở nên tấm bánh và ly rượu để thấm nhập trọn vẹn vào người môn đệ…

Nhìn vào Chúa Giêsu, ta thấy Ngài chữa lành bệnh tật, Ngài tha thứ tội lỗi, Ngài đón nhận được những người bị loại trừ, Ngài sống trọn vẹn như một người “mang Tin Mừng cho những người nghèo khó”. Tin Mừng của Ngài không làm cho cuộc sống con người sợ hãi và dúm dó, nhưng mở đường cho các môn đệ được lớn lên, được vững mạnh. Lời Thánh Irênê diễn tả thật tuyệt nét “hợp lực” của tình yêu ấy “vinh quang Thiên Chúa là con người được sống”.

“Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. (Ga 10,10)

Thiên Chúa là Tình yêu, và tình yêu Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu được thể hiện trong tất cả những đường nét huyền nhiệm mà ta không thể thấy được nơi đâu khác. Tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu “hóa ra không” :

“Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang…” (Pl 2,6-7)