Vài nét đẹp của đời sống gia đình
Trong thư Ephêsô, thánh Phaolô khẳng định với chúng ta một chân lý : “. . . Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” [Ep 3,14]. Khẳng định ấy có thể là mở ra một nẻo đường tìm về Thiên Chúa qua tình nghĩa “gia tộc” thân quen của con người. Nếu như những tình cảm của đời sống gia đình, tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ… là những gì rất sâu xa và sống động trong lòng con người, thì chúng ta cũng có thể thấy hầu như tất cả những đường nét của tình nghĩa gia đình ấy ăn khớp sít sao với khuôn mặt Thiên Chúa mạc khải và qua đường lối cứu độ lạ lùng của Ngài.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
Trong thư Ephêsô, thánh Phaolô khẳng định với chúng ta một chân lý : “. . . Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” [Ep 3,14]. Khẳng định ấy có thể là mở ra một nẻo đường tìm về Thiên Chúa qua tình nghĩa “gia tộc” thân quen của con người. Nếu như những tình cảm của đời sống gia đình, tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ… là những gì rất sâu xa và sống động trong lòng con người, thì chúng ta cũng có thể thấy hầu như tất cả những đường nét của tình nghĩa gia đình ấy ăn khớp sít sao với khuôn mặt Thiên Chúa mạc khải và qua đường lối cứu độ lạ lùng của Ngài.
Thực sự suy niệm về đời sống gia đình dưới ánh sáng đức Tin cũng chính là suy niệm về kỳ công của Thiên Chúa và là suy niệm về chính tình yêu nhiệm mầu của Thiên Chúa đang thể hiện sống động trong cuộc sống hằng ngày của kiếp nhân sinh.
1. CUỘC ĐỜI LÀ CHO ĐI
1.1 Đi tìm đỉnh cao đời người
Chúng ta có thể nhìn thấy trong cuộc đời con người nói chung một biểu đồ “trẻ nhỏ - trưởng thành – tuổi già”, biểu đồ bao gồm hai chiều hướng “thăng tiến - sa sút”. Cuộc đời con người bắt đầu từ một hài nhi bé bỏng, yếu ớt, bất lực, phải lệ thuộc tất cả vào người khác. Thế rồi đứa bé ăn uống, học tập và tích lũy bao nhiêu năng lực khác mỗi ngày mỗi nhiều hơn, trong niềm mong mỏi thời gian qua mau từng ngày, từng năm để được thêm tuổi, thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, có khả năng thể hiện chính mình và được tự do quyết định hành vi của mình. Nhưng rồi sau đó, chẳng mấy chốc, người thanh niên đẹp đẽ ấy, con người trẻ tuổi sung sức ấy, kẻ nhiều tài năng và nhanh nhậy ấy, vượt qua tuổi sung sức của mình để đi vào quá trình xuống dốc; sức khỏe và tài năng cứ vơi đi dần theo năm tháng. Rồi anh ta lại phải từng ngày chống chọi với nhịp điệu mau lẹ của thời gian, mong ước thời gian đi chậm lại, mong ước tuổi già lâu đến . . .
Quả thật nhìn vào biểu đồ ấy ta thấy cuộc đời con người khá bi đát : mong mau lớn để hưởng những năm tháng tươi đẹp của đỉnh cao cuộc đời, nhưng rồi lại mong lâu già để được dừng lại lâu hơn ở đỉnh cao ấy. Thế nhưng cuộc đời vẫn cứ trôi và cái đỉnh cao cuộc đời ấy nhiều khi chỉ là một bức màn mỏng, thật mỏng, thật phù du; đụng vào nó rồi, người ta sẽ thấy lộ ra ngay sau đó một con đường xuống dốc. Sự bừng tỉnh sau đỉnh cao, đó là cố gắng để “neo mình ở tuổi 20”, cố gắng để trẻ mãi, để đẹp mãi, để mãi mãi là ngôi sao… những cố gắng vô vọng !
Quả thật, nếu người ta sống để đi tìm đỉnh cao đời người như thế, thì cuộc sống con người quá kỳ cục. Thoáng một cái, người ta đã đi qua đỉnh cao cuộc đời và cảm thấy như mình đã bị lừa, bị dụ dỗ. Cái đỉnh cao ấy giống như một tấm bánh vẽ, một tấm màn mỏng giả tạo được tô vẽ. Đó là cái bi đát của một biểu đồ mà người ta vẽ nên được từ những gì dễ thấy nhất, từ những dáng vẻ bên ngoài của hành trình đời người; cái bi đát của chính thân phận con người dành cho những người đi tìm đỉnh cao nơi vóc dáng, nơi tài năng, nơi sức mạnh của bản thân…
Thế nhưng, liệu chừng ta có thể nhìn thấy một biểu đồ khác không ?
1.2 Cuộc đời làm hoa hay cuộc đời làm hạt ?
Một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng cuộc đời đi tìm đỉnh cao qua dáng vẻ bên ngoài như thế chính là “cuộc đời làm hoa”. Bông hoa bao giờ cũng tươi tắn, rực rỡ, đẹp đẽ. Bông hoa là thành quả tập trung của tất cả những cái tốt nhất của đời cây để khoe sắc một lần. Thế nhưng bông hoa thì bao giờ cũng mau héo tàn; và sống đời làm hoa cũng hàm ý nghĩa là lựa chọn thái độ : thà rực rỡ một lần rồi tàn héo; thà huy hòang một phút còn hơn lầm lũi cả đời. . .
Tuy nhiên, thật sự đời cây không phải chỉ là kiếp hoa, và suy đến cùng, hoa chỉ là một giai đoạn cần phải trải qua để thành nên hạt. Đời cây cần có hoa nhưng cũng cần vượt qua thời kỳ nở hoa để đi đến thời kỳ đậu hạt.
Cuộc đời làm hạt thì không rực đỡ, không khoe sắc tỏa hương, không tươi tắn mềm mại, không thu hút bướm ong. Những cuộc đời làm hạt vẫn có nét “huyền nhiệm”, cao quí, có nét đẹp riêng của nó. Cái đẹp của hạt không lồ lộ ra ngoài, nhưng ẩn dấu trong dáng vẻ xấu xí. Cái cao quí của hạt không phải là khoe mẽ bên ngoài nhưng là ươm mầm bên trong. Hạt cho đi chính bản thân mình, dâng tặng trọn vẹn và tuyệt đối, vì hạt bao giờ cũng phải thối đi để nẩy sinh những bông hạt khác.
Thế thì đỉnh cao đời người là cuộc đời làm hoa hay cuộc đời làm hạt ? Thế thì nét đẹp chân chính của đời người là rực rỡ để thu hút hay quảng đại, âm thầm để cho cho đi?
1.3 Phép lạ trong đời sống gia đình
Trong đời sống gia đình, người ta có thể thấy thật nhiều phép lạ, những phép lạ xẩy ra thường xuyên nên nhiều khi người ta coi thường. Dù vậy, chăm chú một chút, ta cũng sẽ nhận ra ngay những biến đổi kỳ diệu mà ta có thể gọi được là những “phép lạ giữa đời thường”. Trong số nhiều “phép lạ” ấy, có một phép lạ lớn nhất : trở nên cha mẹ.
Là con người, ai cũng mong cho mình “được”, cái được của một lối nhìn lấy mình làm trung tâm : được có, được yêu, được chấp nhận, được sung sướng, . . . Đó là qui luật chung của thái độ con người. Thế nhưng, khi một thanh niên làm cha, làm mẹ, tất cả những cái được ấy đều dần dần thay đổi. Thay vì được chiều chuộng, cha mẹ bắt đầu biết chiều chuộng đứa con bé bỏng của mình; thay vì được yêu, cha mẹ bắt đầu biết yêu, yêu vô điều kiện đối với đứa con của mình; thay vì được thêm thu nhập, thay vì được sung sướng hơn, khi làm cha làm mẹ, người ta kinh nghiệm như đời mình bị đảo lộn tất cả : sẵn sàng hao tổn thu nhập vì con, sẵn sàng chịu vất vả khổ sở vì con. . . Cuối cùng, người cha người mẹ còn nghe thấy lời thúc bách như thể dám chấp nhận “chấm dứt tương lai” của mình để mở đường cho tương lai của con cái.
Nhìn vào cuộc đời ấy, chúng ta nhận ra nét đẹp vô cùng của cuộc đời làm cha mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà tình mẫu tử là tình cảm đẹp nhất trong tâm hồn con người; không phải ngẫu nhiên mà ca dao mẹ luôn là mảng ca dao phong phú nhất trong kho tàng văn chương nhân loại. Nhìn vào phép lạ ấy, chúng ta nhận ra nét đẹp của cuộc đời cho đi, nét đẹp của cuộc đời làm hạt.
1.4 Bản chất cuộc đời con người là cho đi
Trong khi cái biểu đồ của hiện tượng bộc lộ tính bi đát và vô vọng của lịch sử đời người, thì một biểu đồ khác, căn cứ vào bản chất yêu thương của con người, căn cứ vào những nhu cầu rất thật và rất sống động của đời sống gia đình, lại cho thấy một sự “hợp lý” sâu xa bên trong : con người được đón nhận bao nhiều hồng ân để lớn lên; rồi con người lại có khả năng phát triển và sáng tạo cho gia sản ấy phong phú thêm; rồi cuối cùng con người sẽ lại mang tất cả vốn liếng và “phần lời” ấy để tiếp tục cho đi, cho đi đến tận bản thân mình. Thư mùa Chay 2003 của Đức Gioan Phaolô II nói: “Khuynh hướng trao ban đã nằm sâu trong tâm hồn con người” [số 1].
Như thế, từ quan điểm đời người là cho đi, chúng ta có thể khẳng định rằng “đỉnh cao” đời người không phải là tuổi trẻ, nhưng trong thực chất, chính là tuổi cho đi, là tuổi làm cha mẹ, hay là chính tuổi già. Quả thật nhìn theo quan điểm này, chúng ta mới thấy được nét đẹp của những nếp nhăn trên trán, nét đẹp của những sợ tóc bạc, nét đẹp của một cuộc đời cho đi trọn vẹn; trong quan điểm này, chúng ta thấy cuộc đời con người không bi đát nhưng tràn đầy ý nghĩa, bởi vì khi đó, con người thể hiện được hướng hành trình như một quy luật mà Chúa Giêsu đã nêu lên trước khi đi vào cuộc tử nạn của Ngài :
“Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” [Ga 12,23-35].
Như thế, ta có thể khẳng định rằng, đời sống gia đình, được nhìn theo ý nghĩa Kitô giáo, có khả năng giúp con người thực hiện vận mạng đời người và giúp cho con người hoàn thành khát vọng sâu xa chân thật nhất của bản chất người.
2. TRAO TẶNG CHÍNH BẢN THÂN MÌNH
2.1 Lời mời gọi yêu thương trọn vẹn hơn
Một đứa bé đi lạc, lang thang khóc lóc giữa đường phố, bà con xung quanh mỗi người phản ứng một cách. Ta tạm kể ra một vài thái độ tiểu biểu :
1/ Kết án một đứa trẻ đã không vâng lời cha mẹ;
2/ Đuổi đứa bé đi vì nó mang lại xui xẻo;
3/ Cho vài đồng để nó làm gì thì làm;
4/ Tìm cách để giúp nó trở về gia đình;
5/ Nhận đứa trẻ làm con trong gia đình.
Trong năm cách thức này, chúng ta có thể thấy có ba loại và có hai sự khác biệt lớn : sự khác biệt thứ nhất nằm giữa thái độ ghét [thái độ 1 và 2] và thái độ thương hại [thái độ 3 và 4]; sự khác biệt thứ hai nằm giữa thái độ thương hại với thái độ thương yêu [thái độ 5]. Lằn ranh thiện ác nằm ở giữa thái độ ghét và thái độ thương hại. Nhưng có lẽ khoảng cách giữa thái độ thương hại đến thái độ thương yêu còn xa hơn nhiều so với khoảng cách từ ghét đến thương hại. Người ta có thể đi từ chỗ ghét ban đầu đến chỗ đến chỗ thương hại ngay sau đó. Lòng thương hại thực sự đã là một bước đầu của tình yêu thương và là một điều nằm sâu trong bản chất con người, khó có thể xóa bỏ hoàn toàn đi được. Tuy nhiên, từ chỗ thương hại để bố thí một vài điều, cho đến lòng yêu thương trao ban chính bản thân, chấp nhận phiền lụy cả chính bản thân của mình vì liên đới với người khác, khoảng cách này đòi hỏi một sự dấn thân mạnh dạn, tự do, phiêu lưu và sáng tạo chính cuộc đời mình; và đó chính là tính cách tuyệt đối của tình yêu.
Quả thật, lời mời gọi yêu thương là lời mời gọi không có giới hạn; không lấy mức độ hợp lý nào để dừng lại. Lời mời gọi yêu thương luôn luôn là lời mời gọi trọn vẹn hơn. Thương yêu chân chính là trao tặng chính bản thân mình chứ không phải chỉ là trao tặng những gì dư thừa, những điều bên ngoài mình, những điều mình sở hữu mà thôi.
Với hình ảnh ấy, chúng ta có thể nhận ra nét độc đáo của đời sống gia đình so với những mối tương quan khác trong cuộc sống. Tình yêu thương đích thực được diễn tả một cách khá bình thường nhưng lại rất tuyệt vời trong đời sống gia đình, đó là tình yêu thương trao tặng chính bản thân mình, để cùng đồng hành, cùng liên lụy, cùng thành công và thất bại với nhau. Đó là đời sống luôn được nuôi dưỡng bằng lời mời gọi yêu thương trọn vẹn hơn.
2.2 Nền tảng đời sống gia đình là chấp nhận nhau
Gia đình là một cộng đồng ngôi vị, nơi đó, người ta chấp nhận chính “cái tôi” của nhau, nghĩa là chấp nhận mọi sự thuộc về “cái tôi” ấy, chứ không phải chỉ là đón nhận một nét đẹp của thân thể, một đức tính, một tài năng nào đó, hoặc một điều sở hữu của nhau. Chính vì thế, trong gia đình, người ta có thể phó thác hoàn toàn cho nhau, và có thể trông cậy vào nhau trong tất cả hành trình cuộc đời con người. Trong Tông huấn Đời sống Gia đình, đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết :
“Gia đình được thiết lập do tình yêu thương và được sinh động cũng do tình yêu thương, là một cộng đồng các ngôi vị : đôi bạn là nam và nữ, cha mẹ và con cái, họ hàng. Bổn phận đầu tiên của nó là trung thành sống thực tại của sự hiệp thông trong một cố gắng bền bỉ nhằm thăng tiến một cộng đồng đích thực gồm các ngôi vị.
Nguyên lý nội tại, sức mạnh thường xuyên và mục đích cuối cùng của một sức mạnh như thế chính là tình yêu thương : cũng như không có tình yêu thương gia đình nếu không phải là một cộng đồng các ngôi vị, thì cũng thế, không có tình yêu thương, gia đình không thể sống, lớn lên và tự hoàn thiện xét như một cộng đồng các ngôi vị”. [số 15]
Một em bé mồ côi luôn mong tìm được một mái ấm gia đình, mong có ai đó nhận mình là con, và mình được là anh, là em của một ai khác. Nhưng điều đó không phải là dễ; bởi vì, trong khi chưa có tình yêu thương để chấp nhận trọn vẹn “cái tôi” của nhau, người ta đã dễ dàng bị đụng chạm vì cá tính hoặc vì những thói xấu của của nhau. Tình thương hại và thái độ bố thí hoàn toàn không thể giúp người ta có thể đón nhận những con người “nhân vô thập toàn” được. Khi ấy, chỉ cần một trục trặc nhỏ cũng có thể làm lung lay một đời sống chung không có nền tảng.
Ngược lại, trong đời sống gia đình, dĩ nhiên là vẫn luôn có những khác biệt, những xung đột, và luôn gặp thấy những con người “nhân vô thập toàn”. Tuy nhiên, bên dưới, nền tảng của đời sống này lại chính là thái độ chấp nhận nhau vô điều kiện, là thái độ thuộc về nhau, thái độ đón nhận tha nhân như cha của tôi, mẹ của tôi, con của tôi, anh chị em của tôi… Chính nền tảng ấy giúp con con người có thể hóa giải những khác biệt, vượt qua những xung đột.
Quả thật, một con người tệ hại nhất vẫn có thể có người thương, cụ thể là bà mẹ của anh ta, người đã dám chấp nhận con người tệ hại ấy như là người của mình. Ngược lại, một “người dưng nước lã”, dù có tốt đến đâu, trong quá trình dài và phức tạp của cuộc sống, cũng vẫn tạo nên những khác biệt, những cá tính mà ta khó có thể chấp nhận hoàn toàn được.
Căn bản của đời sống chung không thể tìm thấy nơi sự hòa hợp trên bề mặt, nhưng chính là ở nền tảng của sự chấp nhận bản thân của nhau. Trên nền tảng ấy, người ta mới có thể dàn xếp những trục trặc, hòa giải những xung đột với nhau. Thiếu nền tảng này, người ta sẽ chỉ còn biết yêu sách lẫn nhau, soi mói lẫn nhau, tranh giành quyền lợi của nhau và không bao giờ có thể thực sự xây dựng một cuộc sống chung vững bền được.
Nhân loại tìm mọi cách để xây dựng một thế giới hòa bình, và người ta những tưởng rằng hòa bình có được là nhờ ngoại giao, nhờ hội đàm, nhờ hợp đồng hai bên cùng có lợi. . . Nhưng thật ra tất cả những điều ấy chỉ là những ráp nối trên “kèo cột” mà không xây được nền tảng vững chắc. Đã có thời người ta tưởng rằng : lợi ích của mỗi người là lợi ích của mọi người và ngược lại. Nhưng cuộc đời không đơn giản như thế. Không có người hy sinh, chịu thua lỗ vì đã chấp nhận, yêu thương người thuộc về mình, thì không thể nào êm xuôi một việc gì cả. Về của cải, Dostoievsky, trong đoạn văn nổi tiếng về Viên Đại Pháp Quan Tôn giáo, tác phẩm Anh Em nhà Karamadốp, đã từng nói : “không bao giờ họ có thể phân phối với nhau cho ổn thỏa được !”.
Quả thật, không thể có sự công bằng trong đời sống gia đình, nhưng chính trong gia đình, việc sử dụng của cải theo nhu cầu của các thành viên lại được thực hiện tốt đẹp hơn mọi tổ chức khác. Cũng thế, đời sống gia đình, dù có những trục trặc, nhưng nền tảng của nó, bình thường, vẫn là những người thuộc về nhau; và một đời sống gia đình trục trặc vẫn bao hàm một khả năng hòa giải lớn lao và căn bản hơn rất nhiều.
2.3 Tấm lòng của Cha
Chúng ta tìm thấy một thí dụ rất đẹp trong dụ ngôn người Cha nhân hậu : anh con cả đã không chấp nhận đứa em của mình, và anh ta tìm thấy lý do, những lý do hoàn toàn chính đáng, hợp lý để kết án nó :
“Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!”[Lc 15,30].
Trong khi đó, người cha lại mời gọi anh ta đón nhận “thằng con của cha” như là “em của con” để có thể chấp nhận vào nhà cha, ăn mừng và hoan hỷ vì điều tốt cho em của mình :
“Nhưng người cha nói với anh ta : ‘con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy” [Lc 15, 31-32]
Trong gia đình, những đứa con vẫn chấp nhận nhau là anh chị em của mình; tuy nhiên, tầm nhìn và tấm lòng của con cái chẳng thể bằng được tấm lòng và tầm nhìn của cha mẹ được. Tuy vẫn thương nhau hơn người ngoài, nhưng con cái cũng thường nhìn nhau với cái nhìn ganh tỵ, so sánh, hơn thua. Đó là tầm nhìn la đà và đó là tấm lòng hạn hẹp.
Ngược lại, cha mẹ thường có cái nhìn bao quát và một tấm lòng bao la. Cha mẹ yêu thương hết mọi đứa con và biết dành cho những đứa con nào yếu đau, hèn kém nhất những phương thức ưu đãi để chúng có thể sống tốt hơn. Tấm lòng của cha luôn vui với mọi điều tốt lành của mỗi đứa con, và luôn buồn với từng khó khăn của mỗi đứa con; tấm lòng của cha không tìm khẳng định mình bằng cách so sáng hơn thua, nhưng bao dung và thông hiệp với mọi được thua trong gia đình.
Những đứa con nào càng “gần” tấm lòng của cha mẹ, người anh chị cả, đứa con được hủ hỉ tâm sự với cha mẹ nhiều hơn, sẽ dễ dàng có tấm lòng của cha để chấp nhận mọi anh chị em của mình. Chỉ đứa con nào hiểu được lòng cha mẹ, hiểu nỗi lòng bao dung của cha mẹ thì đứa con ấy mới thấy tầm nhìn của mình cao hơn và tấm lòng của mình quảng đại hơn.
Nơi đây chúng ta hiểu được phần nào mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa, một Thiên Chúa là Cha của mọi người; và Ngài mạc khải cho chúng ta biết chỉ có một Thiên Chúa là Cha để chúng ta cũng thoát khỏi cái nhìn hơn thua, cái nhìn phát xuất từ trung tâm là bản thân mình, là đoàn thể của mình, là quốc gia của mình; để chúng ta vượt qua được tấm lòng hạn hẹp và biết thông chia với nhau mọi niềm vui và mỗi buồn.
2.4 Gia đình nhân loại mới
Thiên Chúa sáng tạo con người như một gia đình, gia đình Adong và Eva. Thế nhưng gia đình ấy đã sớm đổ vỡ vì tội lỗi xen vào. Từ đó, gia đình nhân loại trở thành nơi xâu xé nhau. Cain giết Abel, điều đó có nghĩa là chính các anh chị em trong gia đình cũng có thể trở thành những kẻ giành giật, sâu xé, kiện tụng lẫn nhau.
Vì thế, khi kể lại gia phả Đức Giêsu [Mt 1, 1-17], thánh Mattheu đã muốn nói đến một gia đình mới trong Đức Giêsu, gia đình Giáo Hội. Gia đình mới, tức là Gíao Hội, được thiết lập để thay thế cho mối giây liên hệ máu mủ đã bị phai lạt. Trong gia đình mới này, Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta biết mọi người đều có Chúa Cha, một Thiên Chúa duy nhất của mọi người và mọi người được kêu gọi để trở nên người em của Đức Giêsu, trở nên anh em của nhau trong gia đình nhân loại.
Như thế, Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta biết chỉ có một Thiên Chúa, không phải là để chúng ta loại trừ những người không cùng niềm tin, nhưng là để có một nền tảng cho gia đình mới, trong đó, mọi người là anh em với nhau. Chính trong ý nghĩa ấy, chúng ta hiểu được rõ hơn điều Đức Giao Phaolo II nói trong Thư mùa Chay 2003 : “Khả năng ban tặng chính mình cho người khác tự nó là một quà tặng đến từ ân sủng của Thiên Chúa” [số 4].
Trong viễn tượng nhân loại, khi con người nhận ra mình thuộc về gia đình của Thiên Chúa, là con của một Cha duy nhất, thì con người mới có thể thực sự tìm thấy một nền tảng để bắt đầu xây dựng một thế giới “tứ hải giai huynh đệ”; khi ấy, con người đối diện với lời mời gọi biết trao tặng chính bản thân, tức là biết chấp nhận người khác như những kẻ thuộc về mình.
3. NIỀM VUI CỦA SỰ TRAO BAN CHÍNH MÌNH
3.1 Vui buồn của chung
Hiện nay, chúng ta thấy một hiện tượng : trẻ em thông minh hơn, hiểu biết nhiều chuyện hơn so với những em cùng tuổi của vài thập niên trước. Trẻ em sống trong một thời đại văn minh hơn, nhất là phần lớn các em được gửi đi nhà trẻ từ tuổi nhỏ. Tuy nhiên, khi được gởi tới nhà trẻ sớm quá và nhiều thời gian quá, trẻ sẽ sớm học được các xác định mình, đồng thời cũng sớm học được cách nhận biết những gì thuộc về mình : cái này của tôi, không phải của bạn.. . Chúng rất giỏi, nhưng cũng rất dễ trở thành những “ông thần giữ của”.
Ngược lại, ở trong gia đình, bình thường, trẻ sẽ dần dần học được một cách nhìn khác : tài sản là của chung, sự thành công của anh chị em cũng là sự thành công của chính mình, lợi ích của gia đình cũng là lợi ích của chính mình.
Đó là bước đầu của sự mở rộng trọng tâm của cuộc đời. Trong tâm hồn non nớt của trẻ, cái tôi được khám phá trong mối tương quan thân ái, và cái tôi ấy không phải là trung tâm duy nhất của tất cả mọi sự, nhưng là cái tôi liên kết sâu xa, vững bền với những cái tôi khác trong mối liên hệ nền tảng của gia đình. Khi ấy trẻ có thể vui buồn, không phải chỉ vì những gì tốt xấu cho bản thân nhưng còn vì những gì tốt xấu cho người khác.
3.2 Vui buồn chung như nguồn sức mạnh
Hơn nữa, chính những mối liên hệ thuộc về nhau như thế sẽ là nguồn động lực lớn cho tuổi trẻ trên bước đường đời. Người ta nói rằng một đứa trẻ mồ côi rất khó để có thể học hành đến nơi đến chốn, cho dù các em có một hoàn cảnh chung quanh khá tốt đẹp : trường lớp, nhà cửa, vật dụng. Bởi vì ở tuổi thiếu nhi và thiếu niên, các em chẳng thể thấy hết được tầm quan trọng của việc học, các em khó có thể dấn thân trong một hành trình dài, gian khổ đi đi tới đích trong việc học. Để học thành tài, cần có một yếu tố quan trọng khác : học để làm vui lòng cha mẹ, anh chị em. Mối liên hệ thân tình ấy giúp cho trẻ gắn liền hành trình đời mình với mong ước của những người thân. Thật ra, không phải trẻ em mà ngay người lớn cũng có nhu cầu liên đới như vậy. Khi người ta tiến bước không phải chỉ vì niềm vui nỗi buồn của bản thân mình, nhưng còn là niềm vui nỗi buồn của những người thân, hành trình sẽ vững hơn vì liên đới với nhiều người, có sự nâng đỡ nhiều hơn để vượt qua những khó khăn.
Chính như thế, trẻ em bắt đầu biết vui khi làm cho người khác vui, biết buồn khi mình làm cho những người thân của mình phải buồn. Quả thật niềm vui và nỗi buồn không phải chỉ là chuyện hên xui của cái tôi, nhưng còn do mối liên đới với anh chị em; còn có một loại niềm vui nỗi buồn do phẩm chất mối tương quan thân tình với người khác.
3.3 Vui buồn trọn vẹn trong tình thương
Cuối cùng chúng ta nhìn tới trường hợp những người trưởng thành. Một người độc thân lớn tuổi thì thường có một đời sống nề nếp quen thuộc : chương trình sống ổn định, những công việc đều đặn, những vật dụng được sắp xếp đúng nơi đúng chỗ. Cuộc sống ấy quả thật an nhàn hơn cuộc sống của những người có gia đình rất nhiều; cuộc sống ấy nhiều khi cũng có vẻ “đạo đức” hơn những người sống trong những lo toan của đời sống gia đình rất nhiều, vì họ có nhiều thì giờ đọc kinh, đi lễ, không bị xáo trộn tâm hồn vì chồng, vì vợ, vì con, vì những bất đồng, vì những lo toan, những vướng bận…. Nếu như có một đứa trẻ đến sống với người độc thân ấy một vài ngày, cuộc sống của họ sẽ rối tung lên và chắc chắn họ sẽ rất khó chịu; nếp sống “bình an” không còn trọn vẹn nữa.
Ngược lại, đời sống của một người có con mọn, thì lúc nào cũng chu chu chăm chắm tới đứa con của mình, đi đâu một lúc là đã thấy sốt ruột, ngơi mắt ngơi tay để vui chơi hay làm một chuyện gì đó một chút đã thấy áy náy. Rồi đời sống của những người ở trong đời sống gia đình, đi làm thì mong đến giờ về, đi chơi cũng phải sắp xếp chuyện nhà, hằng ngày có bao nhiêu nỗi lo về con về cái, về chuyện gạo nước, chuyện áo quần, chuyện ăn học, chuyện bạn bè của con… Đời sống trong gia đình luôn có những biến động làm xáo trộn tâm hồn, luôn có những thách đố làm ta phải nỗ lực để giải quyết. . .
Trong hai cách sống ấy, chắc chắn là cuộc sống độc thân khỏe hơn nhiều ! Chắc chắn là những người bận bịu vì gia đình phải thiệt thòi hơn rất nhiều ! Thế nhưng, cuộc sống độc thân cũng rất dễ tẻ nhạt. Làm sao người độc thân có được sự ngọt ngào khi con bắt đầu biết đi, bắt đầu biết nói những lời dễ thương ? Làm sao có được niềm vui dâng trào khi con thi đậu ? Làm sao có được niềm hân hoan như bùng vỡ coi lòng khi con thoát được một nỗi hiểm nguy ?
3.4 Hai loại vui buồn
Mối thông hiệp rộng hơn cái tôi cá nhân như thế làm cho đời sống phiền phức hơn, làm cho người ta đau khổ nhiều hơn. Nhưng chính đó lại là cái đẹp của cuộc sống con người. Cha mẹ không lo cho mình bằng lo cho con cái. Sự bất lực về việc của chính mình nhiều khi không đau bằng sự bất lực đứng trước tình cảnh khó khăn của người thân. Trong tình liên đới gia đình, người ta vui cái vui của nhau, buồn cái buồn của nhau, cái buồn ấy lớn hơn và cái vui ấy cũng lớn hơn. Hơn nữa, ý nghĩa cuộc đời hiệp thông ấy cũng chân chính và huyền nhiệm hơn, đến độ người ta còn dám vì hạnh phúc của nhau mà hy sinh trọn vẹn bản thân mình trong niềm vui, niềm vui được hy sinh cho người thân.
Niềm vui khẳng định chính mình bằng cách vun quén cho bản thân mình là niềm vui lộ lộ, niềm vui của hoa, niềm vui ấy bùng lên nhưng lại chóng tàn và khơi lên những tham vọng không bao giờ cùng. Ngược lại niềm vui khi làm cho người khác vui thì thâm trầm, sâu lắng và tạo thêm sức sống.
Không có sự thông hiệp của tình yêu, người ta chỉ còn biết đau nỗi khổ của mình, vui niềm vui của mình. Nhiều khi nỗi đau nỗi buồn ấy chỉ vì mình đã đứng ở vị thế tranh giành, khẳng định chính mình, vui buồn vì chính cái tôi của mình. Chúng ta đọc trong dụ ngôn người con hoang đàng để hiểu một loại vui buồn của người con cả, buồn vì sự rộng lượng của người cha, tức vì đứa em của mình được sống lại, bực mình trong khi tất cả gia đình cùng vui. . . Đó là những vui buồn bỉ ổi.
Niềm vui nỗi buồn vì người khác là dấu hiệu chân chính của một tình yêu đích thực. Niềm vui nỗi buồn ấy thật sâu xa và huyền nhiệm chứ không phải niềm vui nỗi buồn vị lợi lộc bản thân; niềm vui nỗi buồn ấy mang vị ngọt ngào sâu lắng của tình yêu. Đức thánh Cha giao Phaolo II, trong thư mùa Chay 2003 nói rằng khi biết cho đi, con người “cảm nhận được một sự toại nguyện sâu xa trong tâm hồn” [số 3].
3.5 “Vui buồn” của Thiên Chúa
Người Hy Lạp khẳng định rằng Thượng Đế chân thật là Thượng Đế không cần biết đến vũ trụ, nhưng chỉ biết đến chính mình và an vui với sự trọn hảo của mình mà thôi. Thượng Đế là khuôn mẫu cho thế giới theo kiểu như nam châm hút sắt, hút mà không biết mình hút.
Ngược lại, Thiên Chúa trong mạc khải Do Thái Kitô giáo đã chọn vui buồn theo kiểu liên đới. Thiên Chúa đã cứu độ con người bằng cách liên đới với con người và càng ngày càng liên lụy vào đời sống con người nhiều hơn. Cuối cùng, Thiên Chúa đã trao ban chính Con Một của Ngài cho con người, để những ai tin vào Người thì được cứu độ. Đó là con đường từ trời đi xuống thập giá, con đường tự hủy ra không, nên giống phàm nhân, sống như người trần thế... [Xc. Pl 2, 6-11].
Sự khôn ngoan và tình yêu mà Thiên Chúa tỏ ra cho chúng ta không theo cách cô độc, tự mãn, hoàn hảo cho riêng mình, nhưng bằng cách trao ban. Cách thức này người Hy Lạp cho là điên rồ :
“Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” [1 Cr 1, 22-23].
KẾT
“Cho thì có phúc hơn là nhận” [Cv 20,35], lời đó không phải chỉ có nghĩa là cho đi một điều tương đối và giới hạn, cho đi những điều mình sở hữu; và dĩ nhiên “Cho thì có phúc hơn là nhận” càng không có nghĩa là một cách làm phúc bố thí để lập công đời sau. Trao tặng ở đây phải đạt đến mức độ của những người biết cho đi chính bản thân mình, tức là biết đón nhận người khác là anh chị em, và sống trong sự hiệp thông của gia đình Thiên Chúa. Khi chúng ta hiểu được mình thuộc về nhau, thì chúng ta mới có thể trao tặng bản thân cho nhau và tìm thấy niềm vui vì sự trao tặng, ngay cả khi đánh liều chính bản thân của mình.
Điều đó giúp chúng ta biết trân trọng những giá trị hết sức cao đẹp của đời sống gia đình; nơi đây, một cách tự nhiên và khá phổ biến trong cuộc đời con người, mỗi người đều được mời gọi thực hiện vận mạng đời mình và có nhiều khả năng được phú bẩm sẵn để hoàn thành vận mạng ấy; nơi đây, những con người “nhỏ bé” và “tầm thường” nhất theo cách đánh gía của xã hội vẫn có khả năng sống trọn vẹn vận mạng của mình; nơi đây, những công việc nhỏ bé nhất của đời sống thường ngày, lo bữa ăn hằng ngày, may vá, giặt giũ, quét nhà, chăm sóc cho con… vẫn có thể là những điều tuyệt diệu của một tình yêu dâng tặng chính bản thân mình cho người mình thương yêu; nơi đây, mỗi con người, với tất cả tính tương đối của thân phận con người, lại có thể bộc lộ “khát vọng tuyệt đối”, thể hiện được giá trị tuyệt đối của phẩm giá con người :
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” [Ga 15,13]
Bởi vì việc cho đi này không phải được đo đếm dựa trên vật được cho, những thể hiện, diễn tả tính trọn vẹn của chính người trao tặng :
“Người liền nói : ‘Thầy bảo thật anh em : bà góa nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” [Lc 21,3-4]
Hơn nữa, nẻo đường gia đình, nẻo đường nhận biết “. . . Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” có thể giúp chúng ta khám phá lại khuôn mặt của Thiên Chúa chân thật hơn.
Trước đây, trong nền văn hóa quân chủ, người ta đi tìm những phẩm tính của Thiên Chúa bằng những bài toán “loại suy” [analogie] từ những vị vua, từ những đấng bậc uy quyền. Con đường ấy dẫn tới hình ảnh một vị Thiên Chúa cao cả, siêu vời, Ngài công bằng vô cùng, khôn ngoan vô cùng, quyền năng vô cùng . . . Những phẩm tính ấy nhiều khi, hoặc đúng hơn là thường khi, dẫn tới một kiểu tương quan thống trị, một cung cách xin-cho, thể hiện nguyên lý danh giá với đầy dẫy những tội theo kiểu “khi quân”… Những phẩm tính của Thiên Chúa theo kiểu như thế chưa diễn tả được khôn mặt đích thực của một Thiên Chúa yêu thương, chưa mang lại được niềm an vui của kẻ “có Chúa”, không khai mở cho những thái độ tự do, hiên ngang của người con cái Chúa, chưa thể hiện tính chất Tin Mừng của ơn cứu độ Kitô giáo. Những phẩm tính ấy không còn đụng được đến tấm lòng của con người hôm nay.
“. . . Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất”. Liệu chừng chúng ta có thể tìm đến một con đường khác, con đường thích hợp đặc biệt với tâm thức Á châu, con đường “loại suy” từ tình nghĩa gia tộc trong đời sống thường ngày của con người ?
Phải chăng tình thương vô điều kiện [chấp nhận đứa con trước hết vì nó là con của mình chứ không phải vì nó thỏa mãn được một điều kiện nào đó của mình] của cha mẹ đối với con cái là quá đáng ? Hay chúng ta đã không dám tin rằng tình thương của Thiên Chúa là nguồn gốc và còn lớn hơn, còn “vô điều kiện” hơn cả tình thương cha mẹ ?
Phải chăng sự “biết”, sự thân quen, sự đón nhận trọn vẹn một con người với những tính chất đặc thù cá biệt của mỗi thành viên trong đời sống gia đình chỉ là một thứ tình cảm lãng mạn ? Hay chúng ta đã biến Thiên Chúa thành một “ông thầy chấm bài thi đã rọc phách” [để không biết tác giả bài thi là ai] ?
Phải chăng sự liên đới trách nhiệm với nhau trong gia đình, của cha mẹ với con cái, là một thứ “bao che” ? Hay chúng ta đã bóp méo khuôn mặt Thiên Chúa trở nên giống như một ông giám đốc ?
Phải chăng gia đình như một “cộng đồng các ngôi vị” chỉ là một tính cách cá biệt của một kiểu đoàn thể không giống ai ? Hay chúng ta đã biến giao ước ký bằng máu của Thiên Chúa thành một thứ giao kèo chỉ liên hệ đến một khuôn mẫu luân lý lạnh lùng cố định ?
Phải chăng Thiên Chúa công bằng vô cùng là một Thiên Chúa lúc nào cũng muốn đặt con người lên bàn cân tội phúc ? Hay đó là một Thiên Chúa sống hết nghĩa làm cha [công chính] để trông chờ đứa con quay trở về ?
Ở đâu cũng vậy và thời nào cũng thế, tình cảm gia đình vốn là tình cảm thâm sâu và chân thật nhất trong đời sống con người. Đã bao lần trong lịch sử, những tư tưởng “to lớn” tìm cách loại bỏ thứ tình cảm này [Platon, Campanella, . . .] đều đã thất bại. Liệu chừng những khuôn mẫu quản trị trong Giáo Hội, những cộng đoàn tu trì trong Giáo Hội . . ., với bầu khí “thống nhất như một đoàn binh”, với những đòi hỏi luân lý tuyệt đối như một khuôn khổ siêu hình, có đi vào vết xe của những “tư tưởng to lớn” ấy không ?
“. . . Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất”, chân lý này thực sự là một cánh cửa khai mở cho tâm hồn con người thời đại, những tâm hồn đã quá mệt mỏi trên bước đường đời và cả trong hành trình đức Tin như một khuôn mẫu sống xa lạ với tâm hồn.
Nguyễn Trọng Viễn O.P.
Gợi ý trao đổi
1. Bạn đã biết nhìn thấy nét đẹp của những cuộc đời cho đi bao giờ chưa ?
2. Bạn có thấy tâm hồn mình lớn lên khi thuộc về nhau không ?
3. Bạn có bao giờ cảm nếm được niềm vui khi cho đi chính bản thân mình chưa ?
MỤC LỤC
1. CUỘC ĐỜI LÀ CHO ĐI 01
1.1 Đi tìm đỉnh cao đời người 01
1.2 Cuộc đời làm hoa hay cuộc đời làm hạt ? 03
1.3 Phép lạ trong đời sống gia đình 03
1.4 Bản chất cuộc đời con người là cho đi 04
2. TRAO TẶNG CHÍNH BẢN THÂN MÌNH 05
2.1 Lời mời gọi yêu thương trọn vẹn hơn 05
2.2 Nền tảng đời sống gia đình là chấp nhận nhau 06
2.3 Tấm lòng của Cha 09
2.4 Gia đình nhân loại mới 10
3. NIỀM VUI CỦA SỰ TRAO BAN CHÍNH MÌNH 11
3.1 Vui buồn của chung 11
3.2 Vui buồn chung như nguồn sức mạnh 12
3.3 Vui buồn trọn vẹn trong tình thương 12
3.4 Hai loại vui buồn 14
3.5 “Vui buồn” của Thiên Chúa 15
KẾT 16
Chú thích:
[1] Suy niệm về đời sống gia đình dựa theo theo Sứ điệp Mùa Chay 2003 của ĐTC Gioan Phaolô II : “Cho thì có phúc hơn là nhận” [Cv20,35].
[2] Đúng hơn, người độc thân cũng phải tìm thấy ý nghĩa nghĩa đời mình trong mối liên đới hiệp thông thực sự với người khác. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong tông thư Phẩm Gía Phụ Nữ, 15-8-1988, nói rằng : “Theo ý nghĩa của Tin Mừng, đời sống trinh khiết bao hàm sự khước từ hôn nhân, và cũng là khước từ việc làm mẹ theo xác thịt. Mặc dù sự từ khước này đòi hỏi tâm hồn người phụ nữ phải chấp nhận một hy sinh lớn lao, nhưng lại khai mở một kinh nghiệm về chức năng làm mẹ theo một ý nghĩa khác, đó là thiên chức làm mẹ “theo Thần Khí” [Xc. Rm 8,4]. Thực vậy, đời sống trinh khiết không làm người phụ nữ mất đi những nét đặc trưng của mình. Vai trò làm mẹ thiêng liêng có rất nhiều hình thức. Chẳng hạn trong đời sống của những người nữ tận hiến, tùy theo đặc sủng và qui luật của những hiệp hội tông đồ khác nhau, vai trò đó được thể hiện qua việc chăm sóc người khác, đặc biệt là những người cần được giúp đỡ nhất, như : bệnh nhân, người tàn tật, người bị bỏ rơi, kẻ mồ côi, người già cả, các trẻ em, các thanh niên, những người bị cầm tù, và nói chung, nhưng người sống ngoài lề xã hội”. [s. 21.]