Nguyên lý mới của Tin Mừng Cứu Độ
Điều răn thứ hai trong Thập Điều nói rằng : không được kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Người ta thường hiểu đó là một lệnh truyền xuất phát từ nguyên lý danh giá, nghĩa là vì không tôn trọng sự cao cả của Thiên Chúa nên phạm tội. Thật ra, điều răn ấy không phải được hiểu theo nguyên lý danh giá, nhưng phải được hiểu theo ý nghĩa phẩm chất mới nơi ơn kêu gọi của Dân Israen so với đời sống tôn giáo dân ngoại thời bấy giờ. Ngày xưa, người ta đến với thần thánh không hề có một thái độ “tin cậy mến”, nhưng luôn luôn là tìm lợi lộc. Người ta muốn nắm được phần lợi lộc bằng cách giành lấy thế ưu tiên trong mối tương quan với thần thánh. Kêu tên thần thánh, đó là một cách buộc các thần thánh phải làm điều mình mong muốn. Kêu tên thần thánh ở đây chính là kiểu đọc một công thức bùa chú, đọc đúng công thức bùa chú thì thần thánh bị buộc phải làm theo ý mình. Có thể nói thái độ tôn giáo này nhằm mục tiêu tìm lợi lộc cho chính mình, và phương thức để đạt tới mục tiêu ấy là GIÀNH GIỰT.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
1. Ba cấp độ của đời sống tôn giáo
1.1 Thái độ của dân ngoại
Điều răn thứ hai trong Thập Điều nói rằng : không được kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Người ta thường hiểu đó là một lệnh truyền xuất phát từ nguyên lý danh giá, nghĩa là vì không tôn trọng sự cao cả của Thiên Chúa nên phạm tội. Thật ra, điều răn ấy không phải được hiểu theo nguyên lý danh giá, nhưng phải được hiểu theo ý nghĩa phẩm chất mới nơi ơn kêu gọi của Dân Israen so với đời sống tôn giáo dân ngoại thời bấy giờ.
Ngày xưa, người ta đến với thần thánh không hề có một thái độ “tin cậy mến”, nhưng luôn luôn là tìm lợi lộc. Người ta muốn nắm được phần lợi lộc bằng cách giành lấy thế ưu tiên trong mối tương quan với thần thánh. Kêu tên thần thánh, đó là một cách buộc các thần thánh phải làm điều mình mong muốn. Kêu tên thần thánh ở đây chính là kiểu đọc một công thức bùa chú, đọc đúng công thức bùa chú thì thần thánh bị buộc phải làm theo ý mình. Có thể nói thái độ tôn giáo này nhằm mục tiêu tìm lợi lộc cho chính mình, và phương thức để đạt tới mục tiêu ấy là GIÀNH GIỰT.
1.2 Thái độ của Dân riêng
Trong khi đó, Thập Điều bắt đầu băng điều răn thứ nhất: thờ phượng một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Điều răn đầu tiên ấy đặt người Dân vào một tình thế mới: từ nay họ không được đến với Chúa theo kiểu giành giựt, không được giao tiếp với Chúa theo kiểu công thức bùa chú, nhưng phải bằng tấm lòng, bằng thái độ gắn bó với chính bản thân của Đức Chúa. Sống tôn giáo, giờ đây, là trung tín với Đức Chúa, gắn bó với bản thân Chúa một cách nào đó. Mặc dù mục đích của Dân trong giao ước này vẫn chưa thoát khỏi mục đích tìm lợi lộc cho chính mình, nhưng phương thức tìm lợi lộc thì không được dựa vào một phương tiện có tính sự vật nữa. Tìm lợi lộc bằng một phương thức đề cao sức mạnh của sự vật là xúc phạm đến “phẩm giá” của “bản thân” Giavê Thiên Chúa. Dân chỉ có thể tìm lợi lộc cho mình bằng cách sống một lòng trung tín.
Tuy nhiên quy chế của Cựu Ước vốn là quy chế của của luật pháp, đó là giao ước ghi trên bia đá. Người Dân trung tín với Chúa, nhưng vẫn tìm lợi lộc cho bản thân mình. Điều nối kết hai bên vẫn chỉ là một thứ “luật pháp” trên bia đá, nghĩa là một thứ luật chung, không tính đến những đường nét riêng của mỗi cá nhân. Đó là một thái độ mang tính TRAO ĐỔI theo quy chế của luật pháp.
Giao Ước cũ đặt người Dân vao mối tương quan với chính Chúa, chấp nhận Chúa là Chúa của mình. Nhưng người Dân vẫn không thoát khỏi được mục tiêu tìm lợi lộc, chỉ có điều phương thức tìm lợi lộc giờ đây không còn là một phương thức giành giựt, mà là một sự trao đổi. Người Dân giữ lề luật như là một phương cách để có được một đời sống tốt lành, được Chúa phù hộ cho cuộc sống của mình.
1.3 Bầu khí Tân Ước
Bầu khí Nước Trời mà Chúa Giêsu công bố thì khác hẳn. Nơi đây, qui chế sống không còn là trao đổi mà là trao tặng. Đây là một quy chế mới, trong đó, Thiên Chúa mới là tác nhân chính để cho con người có được những phúc lộc của Nước Chúa. Con người không còn có thể tự mình tìm kiếm hoặc trao đổi điều gì, không có một công đức nào của mình có thể đổi được Nước Trời. Chính Chúa ban Nước Trời, và ban đặc biệt cho những người bé mọn, những người nhận ra được sự bất lực của mình, luôn trông chờ tất cả, hy vọng tất cả, tin tưởng trọn vẹn vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Thật ra con người không thoát khỏi được mục tiêu tìm lợi lộc. Nhưng ở đây, lợi lộc không còn kiếm chác được do trao đổi, mà là được hưởng nhờ do một sự TRAO TẶNG, là sự tặng không của Thiên Chúa; để từ đó, con người có thể thoát khỏi ám ảnh tìm lợi lộc và thênh thang bước vào mức độ sống nghĩa tình.
Ba mức độ ấy không khác lắm với ba mức độ tự nhiên của thế giới sự sống : thế giới sinh vật, xã hội loài người, và thế giới tình nghĩa của gia đình.
Trong Nước Trời của Chúa, người Kitô hữu được mời mọi lãnh nhận một sự công chính mới, phong phú dư dật hơn cả sự công chính rất kỹ lưỡng của những người biệt phái :
“Ta bảo các ngươi : nếu sự công chính của các người không dư dật hơn ký lục và Biệt phái, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời” (Mt 5,20, bản dịch cha Thuấn)
Chính trong quy chế mới, chế độ mới, người Dân mới được mời gọi để vượt xa những đòi hỏi của Cựu Ước, như chúng ta thấy trong Tin Mừng của Chúa Giêsu.
- Tám mối phúc : sự tặng không của Thiên Chúa (Mt 5,1-12)
- Làm chứng cho Chúa (Mt 5, 13-16)
- Kiện toàn luật Môsê từ trong tinh thần (Mt 5, 17-19. 21-48)
- Sự công chính của anh em phải phong phú dư dật hơn sự công chính của kinh sư và pharisêu (Mt 5,20)…..
2. Sự công chính mới
Giao Ước cũ là một bản văn luật pháp, đòi buộc mọi người dân phải tuân giữ. Đó là luật chung và là luật bắt buộc. Mọi người dân phải chu toàn lề luật chung ấy, những yếu đuối, những khó khăn, những hoằn cảnh riêng, nói chúng không được tính đến. Mặc dù trong lúc ký giao ước, người dân có quyền tự do quyết định, nhưng việc tuân giữ hằng ngày một thứ luật đòi buộc khiến cho người dân không còn một thứ tự do hiện sinh. Vì đó là luật chung, nên mọi người thi đua nhau giữ luật như đi vào một cuộc thi, có một đề bài chung; và như thế, người ta cũng có thể so sánh với nhau, nhận định về nhau theo một thang điểm chung. Cách thức đó tạo nên một thứ công bằng bên ngoài, nhưng thực sự không hoàn hảo, vì không tính đến những hoàn cảnh riêng của những người bé mọn. Cuối cùng, vì nỗ lực giữ luật như thế, người ta chỉ tìm thấy một thứ niềm vui vì tìm được sự hoàn hảo cho bản thân mình, chứ không phải một niềm vui vì ai khác, niềm vui vì tình nghĩa. Thái độ công chính trước mặt Thiên Chúa dựa vào lề luật như thế chỉ là một tình trạng bất toàn, bởi vì, một cách nào đó, một Thiên Chúa sống động và yêu thương bị giới hạn, bị qui định trong khuôn khổ của luật pháp. Mặt khác, điều ấy không đủ khả năng làm sinh động, tươi mát lòng người.
Tình trạng của người Do Thái thuộc Cựu Ước giống như một người độc thân, tìm sự chính trực cho đời sống của mình bằng một nếp sống ổn định thời khoá biểu sinh hoạt, ổn định của những đồ vật chung quanh, ổn định của một nếp sống đều đặn và trật tự. Sự ổn định ấy có thể mang lại sự an ổn, nhưng không mang lại niềm vui gặp gỡ.
Trong khi đó, sự công chính mới là một lời đáp trả cá nhân, trong tự do và tình nghĩa, đối với ý muốn của Chúa như một lời đề nghị. Cá nhân mỗi người được quyền tự do nhận lời hay không; và khi nhận lời, thì đó không phải là một sự ép buộc của luật lệ, mà là do tình nghĩa. Đây không còn phải là một giao ước luật pháp, nhưng là lời mời gọi sống nghĩa tình. Đó là một sự tôn trọng của Chúa đối với mỗi con người, và nhờ sự tôn trọng ấy con người có thể đạt đến một sự dâng hiến trọn vẹn bản thân.
Trong trong ý nghĩa ấy, chúng ta thấy hai nhân vật tiêu biểu của thời đại Tân Ước, Đức Maria và thánh Giuse, quả thật có một “thần khí” mới. Trong cuộc đời của hai ngài, ta thấy chương trình cá nhân bị đảo lộn; và việc tuân giữ lề luật không còn đủ tác dụng để sống một đời sống mới. Đức Maria nói lời “Xin Vâng” với Thánh Ý Chúa để chấp nhận làm mẹ dù điều đó không có trong chương trình của Mẹ. Hơn nữa, lời “Xin Vâng” ấy không phải chỉ để đón nhận một bào thai; nhưng đức Maria sống niềm “Xin Vâng” trong suốt cả cuộc đời. Khi ấy, mọi biến cố trong cuộc đời của Mẹ không còn qui chiếu vào lề luật nhưng qui chiếu vào Thánh Ý cụ thể của Thiên Chúa, Thánh Ý mà bình thường Mẹ không thể hiểu ngay được. Cũng thế, tác giả Tin Mừng khẳng định thánh Giuse là người công chính (Mt 1,19). Những ở đây ta không hề thấy sự ưng thuận của thánh Giuse có một qui chiếu lề luật nào; ngược lại Giuse đã làm khác với điều lề luật chỉ dạy. Giuse thực sự là người công chính khi sẵn sàng chấp nhận Thánh Ý Chúa, luôn thi hành điều sứ thần truyền dậy một cách mau mắn (Xc. Mt 1,24; 2,19-21).
Những con người của Tân Ước, như thế, không còn dựa vào luật pháp như tiêu chuẩn căn bản của niềm tin, không còn biết đến sự ổn định của đời sống nhờ ăn theo sự vững vàng của lề luật; nhưng tìm thấy một sự bình an trong mối liên hệ tình nghĩa. Sự bình an ấy dựa vào một Thiên Chúa đang đồng hành, một Thiên Chúa đang cùng chia sẻ và hướng dẫn cuộc đời mình. Sự bình an do sống-với có khả năng đón nhận ý Chúa để sống trong bấp bênh và phiêu lưu.
Một tâm hồn không sẵn sàng trước cuộc phiêu lưu của mối tương quan mới trong nhiệm cục cứu độ sẽ dễ dàng tìm thấy những lý do để chống cưỡng, để bào chữa, để bảo vệ sự ổn định vẫn có của mình. Một tâm hồn nhát đảm và dễ dãi sẽ dễ dàng tìm ra những lý lo để khước từ một đề nghị không có nền tảng trong lề luật. Ngược lại, sự công chính mới giúp người tín hữu sống trong Thánh Ý Chúa như “ngôi nhà”, như tiêu chuẩn, như điểm tựa cho những quyết định của mình.
Thái độ của đức công chính mới giống như thái độ của những người “có đôi bạn”; họ sống trong cuộc phiêu lưu và tìm thấy từng ngày, trong từng biến cố một sự liên đới, một sự hiệp nhất để ứng phó và giải quyết những vấn đề cuộc sống hằng ngày. Không còn một nếp sống ổn định của thời khóa biểu, không còn một sự quen thuộc trong cách sắp xếp đồ dùng, các món ăn, các công việc quen thuộc, nhưng là liên tục nghe, chấp nhận ý muốn của nhau, là liên tục xây dựng sự hiệp nhất từ những quyết định tự do và bình đẳng. Chính điều đó mới tạo nên niềm vui đích thực và chân chính của các ngôi vị, của phẩm giá con người trong tương quan ngôi vị.
3. Sống với Đức Giêsu Kitô
Hình như con người có thể có hai con đường thể hiện tình yêu : hoặc là lập gia đình, chọn lấy riêng cho mình một người yêu, lập thành một tổ ấm, rồi lan tỏa tình yêu ấy dần dần đến những người chung quanh; hoặc là đi tu, không chọn cho mình một gia đình riêng, không có người chồng/vợ riêng và những đứa con của riêng mình, để có thể rộng bước chân đi đến với mọi người, yêu thương mọi người…
Thật ra, con người đứng trước một mâu thuẫn căn bản : tình yêu luôn có tính chất rộng mở; nếu tình yêu đóng kín, tình yêu sẽ có nguy cơ biến thành ích kỷ. Thế nhưng con người không thể thênh thang đi vào con đường yêu thương chân chính. Người ta yêu thương và thường xuyên rớt vào tình yêu đóng kín; hoặc khi người ta sống thái độ rộng mở, thì sự tình của thái độ rộng mở ấy lại làm cho người ta không còn sống đủ phẩm chất đích thực của tình yêu. Tình yêu vợ chồng con cái thật là tuyệt vời, nhưng không thể dễ dàng rộng mở đến người khác. Đời sống tu trì thật là đáng quí, nhưng nó cũng không thể tìm thấy động lực chân chính trong một tình yêu chân chính. Đời sống tu trì dễ trở thành công việc, là trách nhiệm, hoặc là một ích kỷ trá hình khi người ta chỉ biết vun đắp cho bản thân mình.
Nẻo đường duy nhất của con người chỉ có thể là gặp gỡ cá nhân với một Đức Giêsu Na-gia-ret. Ơn cứu độ chính là đón nhận Đức Giêsu Kitô, bởi vì Đức Giêsu là Đấng Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Trong đức Giêsu, ta tìm lại được ơn gọi sống-với như hình ảnh con người được sáng tạo.
Đức Giêsu Kitô như người Thầy, như Người Bạn, như người Anh. Chỉ mình Ngài có thể đón nhận trọn vẹn bản thân ta; và chỉ mình Ngài có thể trung tín với ta trong trọn cuộc hành trình. Rồi trong Đức Giêsu cá thể ấy, người ta lại tìm gặp được một Đấng Kitô, Đấng cứu độ muôn dân. Đức Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa làm Người. Ngài có thể giao tiếp với ta, vì Ngài là con người; nhưng Ngài lại có thể đưa ta đến với muôn người, vì Ngài là Thiên Chúa. Sống-với Thiên Chúa, giờ đây, chính là kết hiệp với Đức Giêsu Kitô trong ý muốn, trong chương trình cứu độ cụ thể Ngài.
Như thế, trong thời đại Tân Ước, Thiên Chúa can dự sâu xa hơn vào đời sống con người. Sống với Đức Giêsu không phải chỉ là giữ những luật lệ cố định, nhưng là sống tình nghĩa với Thiên Chúa.
* Tạm Kết
Nếu người ta muốn tìm một sự “chắc tâm”, người ta chơi với sự vật. Sự vật luôn là nó, trong nọa tính của nó và con người có quyền sử dụng nó hoàn toàn theo ý của mình. Nhưng “chơi với sự vật” là đánh mất chính mình, đánh mất khát vọng sống-với ai khác, đánh mất niềm vui được phiêu lưu, mới mẻ. Chơi với ai-khác thì chấp nhận phiêu lưu. Tha nhân không phải là đồ vật mà ta chiếm hữu và sử dụng; tha nhân cũng không phải là một phương tiện để ta thực hiện chương trình của đời ta. Chơi với ai-khác thì phải có khả năng dám liều, dám tin vào nhau và tìm thấy sự bình an trong bước đường phiêu lưu, chứ không phải thứ bình an mà sự vật mang lại.
Ta có dám tin vào sợi giây tình nghĩa và sống cuộc đời như một cuộc “đi giây” đầy phiêu lưu không ?