Trao ban tình người cho nhau
Con người cần cái ăn để sống, cần áo mặc để che thân, cần có danh vọng để ngẩng mặt lên với đời, cần tài năng để đua tranh cùng người khác, cần bao nhiêu điều để có thể hòa nhập vào cuộc sống xã hội chung quanh mình. Con người có biết bao nhiêu nhu cầu, những nhu cầu căn bản cũng như những nhu cầu do hoàn cảnh xã hội tạo nên; và để thoả mãn được những nhu cầu ấy, con người phải nỗ lực, phải “đổ mồ hôi”, đôi khi phải đổi lấy bằng cái giá là cả cuộc đời. Đó là chưa kể đến những người, dù đã phấn đấu bằng tất cả vốn liếng của mình vẫn chẳng thể thoả mãn được những nhu cầu căn bản của bản thân mình.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
1. QUI LUẬT “THUẬN MUA VỪA BÁN”
Con người cần cái ăn để sống, cần áo mặc để che thân, cần có danh vọng để ngẩng mặt lên với đời, cần tài năng để đua tranh cùng người khác, cần bao nhiêu điều để có thể hòa nhập vào cuộc sống xã hội chung quanh mình. Con người có biết bao nhiêu nhu cầu, những nhu cầu căn bản cũng như những nhu cầu do hoàn cảnh xã hội tạo nên; và để thoả mãn được những nhu cầu ấy, con người phải nỗ lực, phải “đổ mồ hôi”, đôi khi phải đổi lấy bằng cái giá là cả cuộc đời. Đó là chưa kể đến những người, dù đã phấn đấu bằng tất cả vốn liếng của mình vẫn chẳng thể thoả mãn được những nhu cầu căn bản của bản thân mình.
Cuộc đời như một phiên “chợ lớn”, thứ gì cũng có thể có được, miễn là ta có cái gì để đổi lấy nó; danh tiếng đòi phải có thực tài; chức tước đòi phải uy thế; sự kính trọng đòi phải có đạo đức; thậm chí tình thân bạn bè cũng cần phải chơi đẹp . . . và cuộc mua bán trả vay ấy có qui luật công bằng của nó : “thuận mua vừa bán”; những món hàng càng quí hiếm, càng thời thượng thì càng đòi trả giá đắt. Qui luật ấy hầu như liên quan đến tất cả mọi sự, đòi buộc tất cả mọi người, nhất là trong không khí kinh tế thị trường hiện nay; và qui luật ấy chi phối nghiêm ngặt, khắt khe trong mọi tình huống cuộc đời. Những người “kinh doanh” theo kiểu “ăn sổi ở thì”, làm ăn chụp giật, ăn gian với cuộc đời, thì rồi cũng có lúc lại phải “trả giá đắt”. Nhiều khi ngay cả phẩm giá căn bản của một con người, phẩm giá làm người như một giá trị bất khả mua bán hay đổi chác, thì cũng bị buôn bán đổ đồng cùng với những thứ hàng hoá phụ thuộc khác; hoặc tệ hơn nữa, phẩm giá con người có lúc bị hạ giá không bằng một bộ cánh sang trọng.
2. QUI LUẬT KHẮC NGHIỆT
Qui luật ấy có vẻ như là lẽ bình thường của cuộc sống và người ta đương nhiên chấp nhận nó như một thứ công bằng của cuộc đời. Thế nhưng, thật ra qui luật “công bằng” ấy không khỏi tạo nên một cuộc thanh lọc, loại trừ những người không có đủ “tiền”, không có cái gì để đổi lấy nhưng nhu cầu căn bản của đời mình. Qui luật ấy sàng lọc và xếp hạng con người, những người giầu và những người nghèo, những người giỏi và những người dốt, những người sang và những người hèn, nhưng người có duyên và những kẻ vô duyên . . . Cái “giầu có” và cái “túng thiếu” ấy chẳng những là hệ quả đương nhiên của luật nhân quả do chính “tài kinh doanh” của mình, nhưng còn là cái “giầu”và cái ”thiếu” bẩm sinh hoặc may rủi; nghĩa là có những người, dù đã nỗ lực hết mình trong cuộc chơi, đã chỉ lãnh nhận được một gia sản quá khiêm tốn để thoả mãn những nhu cầu căn bản của cuộc đời; và ngược lại, có những người do may mắn mà có dư dật số vốn căn bản cho hành trình cuộc đời.
“Các môn đệ hỏi Người : ‘Thưa Thầy, ai đã phạm tôi khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?’ Đức Giêsu trả lời : ‘Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. . .’” {Ga 9, 2-3}
Khi qui luật “thuận mua vừa bán” trở thành công lý căn bản của cuộc sống, thì người ta cũng thường muốn hợp pháp hoá tình trạng may rủi của một phận người bằng nhiều lý lẽ; nghĩa coi như lẽ công bằng khi kẻ nghèo phải chấp nhận cái nghèo của mình, kẻ dốt phải công nhận cái dốt của mình, kẻ vô duyên cũng đành phải an phận với dáng vẻ không bằng ai của mình. Người ta muốn giải thích cho hợp lý tình trạng khốn khổ của một người và điều ấy thường không khỏi đụng chạm đến phẩm giá căn bản của một con người :
“Họ đối lại : ‘Mày sinh ra trong tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?’ Rồi họ trục xuất anh” {Ga 9, 34}
Quả thật, tính cách thanh lọc, xếp hạng như thế không phải là không có bất công. Chỉ có điều là thứ bất công ấy con người dường như chẳng thể nào giải quyết cho rốt ráo được : biện pháp cào bằng thật ra cũng là một sự bất công vì kẻ lười biếng và người chăm chỉ cũng đều được hưởng mọi sự như nhau; biện pháp khuyến khích nhân tài thì lại càng ngày càng đào sâu hố cách biệt giữa người giầu và kẻ nghèo. Luật pháp xác lập sự công bằng xã hội bằng một bộ luật dân sự; toà án muốn trả lại sự công bằng khi lên án một kẻ lừa đảo, kết tội một kẻ giết người. Nhưng thật ra trong hành vi tội phạm của một con người, có bao nhiêu phần do tác động của người khác ? Bao nhiêu phần do chính cơ chế bất công của xã hội ? Trong tâm tính kẻ giết người có bao nhiêu phần là do ảnh hưởng của gia đình ? Có bao phần là do những dồn nén xã hội ? Có bao nhiêu phần của người hàng xóm, thậm chí của ngay cả do những người đức độ hay của cơ chế Giáo Hội, đã xô đẩy ? Ngược lại, xã hội kính trọng những người đức độ, xã hội cần đến những người tài năng. . . nhưng có bao nhiêu đức độ hay tài năng đó đã được trao ban một cách hào phóng, lãnh nhận một cách nhưng không mà tên tội phạm không có được ?
Mặt khác, theo cái qui luật “thuận mua vừa bán”, người nào muốn giành lấy lòng ưu ái của người khác bằng tài năng, bằng vị thế xã hội, bằng dáng vẻ hấp dẫn, thậm chí bằng nhân đức của mình, thì người ấy sẽ phải mãi mãi giữ mình ở đỉnh cao; lỡ chân, trật bước, sa sẩy một chút là có thể đánh mất tất cả. Thế mà, trên hành trình cuộc đời, chẳng ai mà không có lần lầm lỡ; và cũng chẳng ai mãi mãi bảo vệ được mãi vị thế đỉnh cao trong phần “gia sản” của mình : tài năng có lúc sẽ suy giảm, đức độ cũng có khi bị sập bẫy, và tình thân, trong một số trường hợp, cũng bị phai lạt. Những mảnh đời bị vùi dập, những cuộc đời bị loại trừ, những người cô độc, những hoàn cảnh sa cơ thất thế sẽ lấy qui luật nào để có thể vươn lên, để sửa chữa hay ít là để có thể được an ủi ?
3. TRAO TẶNG “MIỄN PHÍ”
Thật ra, có một điều mà người ta vẫn luôn trao tặng cho nhau một cách miễn phí; điều mà, thật ra, người ta cũng không thể lấy điều gì để có thể mua sắm được đổi chác được theo lẽ công bằng, đó là tình người. Cũng như tình yêu nam nữ không luôn luôn diễn ra đúng qui luật “thuận mua vừa bán”, thì tình người nói chung cũng không phải là điều có thể mua sắm đổi chác được, cho dù bằng đức độ luân lý cao vời đi nữa. Một tên cướp sẽ chẳng kể gì đến đức độ của một vị thánh, và nó có thể sẵn sàng kiếm chác điều gì đó từ kẻ thánh thiện ngây ngô ấy; kẻ tài năng có thể được người khác kính phục, nhưng điều đó không có nghĩa là anh ta được mọi người quí mến . . . Tình người chỉ có nhờ được trao tặng mà thôi. Không ai có thể ép buộc hay mua chuộc được tình người. Không thể lấy bất cứ điều gì để mua bán đổi chác để có được tình người, cho dù là đức độ, nét đẹp hay tài năng. Tình người chỉ xuất hiện khi có sự tình nguyện trao tặng và được nhân lên khi có lòng tri ân của người lãnh nhận.
“Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.” {Rm 5,6-9}
Trong đời sống gia đình, người ta có thể thấy rõ được nét tình nguyện, nét tự do, trong sự trao tặng tình người. Cha mẹ yêu thương con cái của mình, chắc chắn không phải vì chúng là người tốt lành nhất, không phải vì chúng giỏi dang hay đẹp đẽ duyên dáng hơn người. Cha mẹ yêu thương con vô điều kiện, tình người ấy chỉ dựa trên một thực tế : đó là con của tôi. Thậm chí có những bậc cha mẹ hết lòng tha thứ, hết lòng bào chữa, hết lòng hy sinh cho đứa con hư hỏng của mình. Qui luật của tình thân ấy là qui luật tặng không chứ không phải lý lẽ công bằng. Chính nhờ tình thân tặng không ấy mà người con có điều kiện để sám hối lỗi lầm, có cơ hội để trở về khi vấp ngã trên đường đời :
“Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : 'Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.' Và họ bắt đầu ăn mừng.” {Lc 15,22-24}
Tình người là phần gia sản giầu có nhất mà mỗi người đều có và mỗi người đều được khẩn nài để trao ban cho người khác theo nguyên lý tặng không.
4. “MẮC NỢ NHAU TRONG LÒNG TƯƠNG THÂN TƯƠNG ÁI”
Con người cần tình người, đó là một nhu cầu chân thật và là một nhu cầu căn bản nhất trong mọi nhu cầu. Thế mà con người lại chẳng có thể tự mình giải quyết được nhu cầu này. Kẻ tự phụ chính là người muốn mua bán đổi chác để có được tình người. Kẻ tự phụ là người muốn dùng qui luật “thuận mua vừa bán” để chinh phục tình người của người khác. Con đường ấy thật sự là nẻo đường gian dối và chẳng thể giải quyết thật sự được nhu cầu thâm sâu của con người. Con người cần tình yêu, và tình yêu nhất thiết đòi hỏi thái độ khiếm tốn đón nhận với lòng tri ân.
Ra chợ, ta có thể mua một cái bánh bao và trả năm ngàn đồng. Ta giải quyết nhu cầu ăn uống của mình, người bán hàng cũng tìm được đồng lời để có thể sinh sống và giải quyết những vấn đề của họ. Thuận mua vừa bán, chẳng ai mắc nợ ai. Lời cám ơn mà người bán hàng giành cho ta, bình thường, cũng không phải là lòng tri ân thực sự mà chỉ là một phương cách bán hàng, nhằm có thể tiếp tục bán được hàng mà thôi. Thế nhưng khi chúng ta nhận được một lời khuyến khích, một sự trợ giúp, một lòng ưu ái . . . không phải vì trả giá điều gì cả, mà chỉ vì tấm lòng của người khác quan tâm đến ta mà thôi, khi ấy ta thật sự mắc nợ tha nhân một điều mà không có đồ vật nào có thể dùng để trả cho cân xứng. Không có chuyện thuận mua vừa bán ở đây mà chỉ là lòng tri ân đáp lại tấm thịnh tình. Món quà của tấm lòng là món quà vô giá, nó không thể sắm được bằng tiền mà cũng chẳng giành được cho tài năng của mình. Chỉ có sự tự do, tự nguyện và tấm lòng sẵn sàng, sự quảng đại cho đi của người khác là nguyên nhân đích thực của “món quà tấm lòng” mà thôi.
“Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật”. {Rm 13,8}
Mắc nợ nhau trong tình tương thân tương ái, đó là qui luật của tình người. Qui luật này đòi hỏi con người luôn phải khiêm tốn vì chân nhận rằng nhu cầu căn bản nhất của mình chỉ có thể nhờ vào lòng quảng đại của người khác; qui luật ấy nối kết con người với nhau, không bằng mối giây thống trị, nhưng bằng mối giây của tình yêu; qui luật ấy đòi hỏi con người phải vượt qua căn bệnh “sĩ”, vượt thắng cái tôi tự ái để sống thái độ quảng đại; qui luật ấy kêu mời con người vượt lên trên tất cả mọi sự vật, như tiền bạc, tài năng, danh vọng, dáng dấp. . . để thực sự bước vào thế giới nhân bản đích thực; qui luật ấy chính là ơn gọi sống lòng nhân đạo và thi hành sứ mệnh nhân hoá thế giới xung quanh mình.
KẾT
Gia sản tình người, đó là điều mọi người đều có và đều có thể phát triển đến mức độ tuyệt hảo nhất. Trao tặng tình người cho nhau, đó là cách thức sống mà mọi người đều được kêu mời và đều có thể làm được. Mắc nợ nhau trong tình tương thân tương ái, hay sống tâm tình tri ân, đó là tâm tình quá đơn giản nhưng lại quá cao quí. Tóm lại, yêu thương nhau chính là giới luật làm cho con người thực sự trở nên người. Đó là luật làm người, và cũng là luật của Chúa Kitô, luật của Tin Mừng : “Vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật”. {Rm 13,8}
Khi ta trao tặng cho nhau một chút đồ dùng, chia sẻ cho nhau một chút thức ăn, trợ giúp nhau một chút tiền bạc. . thật ra, chúng ta đang trao tặng tình người cho nhau. Một chút của cải ấy được nhân hoá để trở thành tình người cao quí. Một chút tình người như thế làm đẹp hơn bộ mặt thế giới và thực sự góp phần làm cho thế giới này chuyển hoá thành Vương Quốc của Thiên Chúa.
Nguyễn Trọng Viễn O.P.