Niềm Hy Vọng Kitô giáo

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Dân Israen là Dân thánh, Dân được thánh hiến cho Chúa. Trên nền tảng ấy, tất cả đời sống của người dân đều mang ý nghĩa tôn giáo, lịch sử dân tộc cũng chính là lịch sử của ơn cứu độ. Do đó, các nhân đức đối thần luôn là nền tảng cho toàn bộ đời sống cũng như mọi nghi thức phụng vụ. Chẳng hạn, tất cả các điều khoản trong Mười Điều Răn đều xoay quanh điều răn thứ I, tất cả chỉ là những cách thức thể hiện thái độ thờ phượng và kính mến Chúa trong những lãnh vực khác nhau. Đáng lý ra phải nói : Mười điều răn ấy tóm về một điều mà chớ, đó là thờ phượng và kính mến Chúa trên hết mọi sự.


1. “Định vị” niềm hy vọng Kitô giáo


Dân Israen là Dân thánh, Dân được thánh hiến cho Chúa. Trên nền tảng ấy, tất cả đời sống của người dân đều mang ý nghĩa tôn giáo, lịch sử dân tộc cũng chính là lịch sử của ơn cứu độ. Do đó, các nhân đức đối thần luôn là nền tảng cho toàn bộ đời sống cũng như mọi nghi thức phụng vụ.
Chẳng hạn, tất cả các điều khoản trong Mười Điều Răn đều xoay quanh điều răn thứ I, tất cả chỉ là những cách thức thể hiện thái độ thờ phượng và kính mến Chúa trong những lãnh vực khác nhau. Đáng lý ra phải nói : Mười điều răn ấy tóm về một điều mà chớ, đó là thờ phượng và kính mến Chúa trên hết mọi sự.


Cũng vậy, đời sống người Kitô hữu, như lời thánh Phaolô nói, luôn luôn là vì Chúa và nhờ Chúa :


“Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17)


Truyền thống văn hóa Do thái Kitô giáo tóm lược thái độ ấy qua các nhân đức đối thần là Tin – Cậy – Mến :
- “Tin” là sống mối tương quan ngã vị với Chúa như một Ngã Vị khác. Tin là thái độ nền tảng, và đức Tin luôn cần được thể hiện trong hai khía cạnh, tin-mến và tin-cậy.
- “Mến” nội dung của mối tương quan ngã vị với Chúa trong khía cạnh “bản thân”. Mến là chấp nhận trọn vẹn bản thân của nhau.
- “Cậy” là nội dung của mối tương quan ngã vị ấy trong khía cạnh “cuộc đời”, nghĩa là đồng hành, liên lụy với một ngã vị khác là chính Chúa.


“Đức cậy cùng với đức tin và đức mến kết thành bộ ba “nhân đức đối thần”, diễn tả điều cốt lõi của đời sống Kitô hữu (x. 1 Cr 13,13; 1 Tx 1,3).

Trong tính năng động không thể tách rời của ba nhân đức này, có thể nói rằng hy vọng định hướng, chỉ ra phương hướng và mục tiêu cho đời sống của người tín hữu”
Tuy nhiên, cách sống ba nhân đức ấy cũng có những giai đoạn biến chuyển khác nhau, mà nói chung, trong Cựu Ước, đức Mến chưa được trọn vẹn; còn đời sống Kitô hữu hiện nay thì hình như đã làm giảm nhẹ quá nhiều đức Cậy. Ta thử diễn tả hai thái độ khác nhau bằng hình ảnh:
Tin-yêu : giống như chàng hoàng tử xem hình một mỹ nhân trong tranh, rồi yêu và lên đường tìm kiếm. Đây là thứ tình yêu lãng mạn, bay bổng nhưng thiếu nền tảng thực tại. Thứ Tin-yêu thuần túy chỉ được duy trì khi người tín hữu tiếp tục phải gia tăng luôn mãi tình cảm tâm lý trong tính lãng mạn…


Tin-Cậy-Mến : giống như chàng hoàng tử vào rừng săn bắn, ngã ngựa, què chân, rồi được cô thôn nữ chăm sóc và nẩy sinh tình nghĩa. Tình yêu ấy cũng thăng trầm, nhưng luôn có nên tảng là những sự kiện có thật, những kinh nghiệm chân thật qua lịch sử. Đức Cậy như thế làm cho đức Tin và Đức Mến có “chân” để “bước đi trên đất”, có thực tại lịch sử bảo đảm tính vững bền…
Như thế, đời sống tâm linh chỉ trọn vẹn ý nghĩa khi mối tương quan giữa con người với Chúa là chân thật và sung mãn với đủ ba chiều kích Tin-Cậy-Mến. Tin-yêu mà không có lòng trông cậy chỉ là thứ tình cảm lãng mạn, tin-cậy và không có tình yêu chỉ là thói dựa dẫm, còn trông cậy và yêu mến mà không có niềm tin thì chỉ là thứ ích kỷ. Như thế, ngay các mối tương quan giữa con người với nhau cũng phải gồm những chiều kích ngã vị - bản thân – cuộc đời, tương tự như ba khía cạnh “tin cậy mến” đối với Thiên Chúa vậy. Tính ngôi vị là đẳng cấp của tương quan ngã vị khác với những thứ tương quan khác, tình yêu là ý nghĩa căn bản của sự sống con người, và niềm hy vọng là động lực chính yếu cho hành trình đời người.


2. Cấu trúc Tin-Cậy-Mến trong lịch sử ơn cứu độ


2.1 Trong Cựu Ước


Ta có thể tạm diễn tả đời sống của đức Tin trong Cựu Ước mang dáng dấp TIN-CẬY-mến; nghĩa là chủ yếu là Tin-Cậy. Đức Cậy mạnh mẽ vì Dân tộc Israel sống niềm tin vào Chúa là Chúa của Dân và chính Chúa mới thành toàn lịch sử của Dân tộc Israen, một lịch sử quá nhiều nét đau thương.
Đức Mến được viết nhỏ, vì trong Cựu Ước, ngã vị của mỗi người dân chưa được tỏ lộ trong tương quan với Chúa. Dân như một tập thể giao ước với Chúa và giữ những khoản luật của Giao ước chỉ như luật pháp bên ngoài. Dĩ nhiên các ngôn sứ cũng đã từng loan báo lòng thương xót của Chúa, và cũng nhắc nhở về thái độ của tấm lòng (X. Is 1), nhưng nói chung, Cựu Ước mới chỉ là giao ước của Chúa với Dân Israen như một tập thể, nên đời sống đức Tin thường bị giản lược vào luật lệ chung.


2.2 Giáo hội thời sơ khai


Trong 300 năm đầu của thời đại Tân Ước, nói chung, ta thấy có một đời sống đức Tin phong phú với trọn cả TIN-CẬY-MẾN. Người Kitô hữu bị ngược đãi, cấm cách và bị giết…chính khi đó, lòng khao khát mong chờ Chúa lại đến trở nên mãnh liệt trong lời kinh Maranatha.
Chính niềm tin mang hiều kích hy vọng như thế đã mang lại một ý nghĩa định hướng tương lai cho đời sống hiện tại, chiều kích ấy trở nên lời chứng có khả năng chinh phục những người Roma, vốn đã đạt được đỉnh cao quyền lực và chỉ còn biết hưởng thụ cuộc đời một cách vô nghĩa.


2.3 Từ thế kỷ IV


Từ thế kỷ thứ IV, đời sống Giáo hội có cấu trúc TIN-cậy-MẾN. Đức Cậy teo tóp và không còn mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống hiện tại, ngoại trừ hướng tới ý nghĩa về thế giới sau khi chết. Lý do là vì Giáo hội khi đó trở nên mạnh mẽ, thần quyền gắn với thế quyền, và Giáo hội như thể có đủ quyền lực để giải quyết mọi khó khăn, Mặt khác đời sống đức Tin cũng xa rời chiều kích lịch sử… và người ta không còn thấy ý nghĩa của đức Cậy nữa. Thêm nữa, trong thời gian đó, đường lối tâm linh trong Giáo hội cũng loại trừ giá trị của tất cả những gì dính dáng tới đời sống trần thế… Đường nét tiêu cực này kéo dài mãi cho đến Công đồng Vatican II.
“Chúng ta hãy thú nhận rằng chúng ta, Kitô hữu, lại khác, chúng ta có khuynh hướng chia con người ra làm đôi : một bên là những hy vọng trần thế; một bên là một Thiên Chúa đứng bên trên các hy vọng trần thế ấy, một Thiên Chúa của phía bên kia”.


3. Những đường “đứt gẫy” trong cấu trúc đời sống đức Tin


3.1 Đường đứt gẫy đầu tiên


Vào khoảng thế kỷ IV, khi Giáo hội trở thành như “con đỡ đầu” của đế quốc Rôma, rồi sau đó lại trở nên như “mẹ đỡ đầu” của man dân, thì những yếu tố thuộc về đức Cậy Kitô giáo bị đồng hóa với thế quyền và bị nuốt trọn trong chiều kích tôn giáo chính trị. Giáo hội không còn nhận ra sự bất lực của mình đối với những thách đố của đời sống. Giáo hội ở một vị thể có sử dụng quyền bính của mình hoặc quyền bính trần thế để giải quyết những khó khăn xẩy ra, nên lòng rông Cậy vào Chúa cũng phai lạt dần. Đời sống đức Tin trở thành thái độ siêu thoát khỏi trần gian… Đó chính là đường đứt gẫy đầu tiên khiến cho đời sống đức Tin Kitô giáo tách rời với đời sống thật và phai lạt ý nghĩa lịch sử. Người Kitô hữu chỉ còn mơ về một thiên đàng mai sau mà thôi.


3.2 Đường đứt gẫy thứ hai


Đường nét đứt gẫy này xuất hiện vào thời Cận đại, vào khoảng thế XVII và XVIII. Descartes là người đầu tiên đã phân ly ý nghĩa đức Tin và cuộc sống thường ngày. Thêm vào đó, sự phát triển của khoa học làm lóa mắt con người. Nét đứt gẫy của thời kỳ này tỏ lộ rõ ràng khi Francis Bacon đẩy mạnh khuynh hướng thí nghiệm trong khoa học. Những ước mơ của con người giờ đây được giải quyết bằng kỹ thuật, nghĩa là tìm cách ứng dụng khoa học để đưa đến một đời sống tốt hơn. Từ đây, niềm hy vọng của con người gắn với ý nghĩa tiến bộ; rồi cùng với khao khát tiến bộ, lý trí và tự do trở thành những nhân tố căn bản để giải quyết thân phận con người. Con người giành lại quyền tự quyết về tay mình. Đức Cậy bị tan biến trước chiều kích khoa học và triết học, người ta tin tưởng và trông cậy vào quyền năng của con người chứ không còn cậy trông vào Thiên Chúa là chủ tể cuộc đời mình.


3.3 Những hệ quả tai hại


Hệ quả của những đường đứt gẫy này là đời sống đức Tin trở nên “đạo thiêng liêng”. Đức tin không liên quan đến thực tại lịch sử, nhưng lại nhằm thẳng vào “thiên đường hạnh phúc” sau cái chết. Mất lòng trông Cậy, đời sống đức Tin không còn là một lẽ sống cho cuộc sống thật, không còn là giải pháp cho dòng chảy lịch sử, không còn đáp ứng những nhu cầu thật, nhưng trở nên như là “thuốc phiện” cho đời sống xã hội trần thế. Từ đó, đời sống đức Tin và ít nhiều trở nên như một gánh nặng, một rào cản cho nỗ lực xây dựng thiên đàng trần thế. Không có đức Cậy, toàn bộ đời sống đức Tin bị đứt gẫy khỏi cuộc sống thật, xa rời những thách đố, những đau thương của cuộc đời thật.
Con người thời đại không còn đặt niềm hy vọng của mình vào thế giới thần thiêng. Trong thế giới tục hóa, niềm hy vọng của con người nằm trong cặp ba : kỹ thuật, chính trị và nền luân lý (thuần túy con người). Thật ra, nhìn nhận vấn đề một cách kỹ lưỡng, ta sẽ thấy không phải con người loại bỏ thần thiêng, mà chính là người ta đã thần thiêng hóa những sức mạnh trần thế một cách lệch lạc. Trong thách đố gay gắt này, kỹ thuật, chính trị và luân lý đã tìm được không gian lý tưởng để phát triển khi mà chính tôn giáo đã từ bỏ chiều kích thực tại của đời sống đức Tin.
Ta có thể thấy rõ tình trạng này trong đời sống đức Tin của Giáo hội Việt Nam. Khi mà những thúc bách của cuộc sống càng ngày càng gay gắt thì lời giảng và phụng vụ Kitô giáo vẫn “đi bên lề” dòng chảy của cuộc đời…


4. Tìm lại ý nghĩa đức Cậy


Con người không thể không có niềm hy vọng. Chỉ có tôn giáo không đáp ứng được niềm hy vọng đích thực của con người và người ta phải tìm đến những nguồn mạch khác, chứ không phải con người đánh mất niềm hy vọng. Đức thánh cha Phanxicô nói :
“Mọi người đều hy vọng. Niềm hy vọng nơi tâm hồn mỗi người như nỗi khao khát và chờ đợi những điểu tốt đẹp sẽ đến, dù chúng ta không biết ngày mai sẽ ra sao”.


4.1 Đức cậy và cuộc sống


Điều quan trọng đầu tiên để tìm lại ý nghĩa của đức Cậy có lẽ là việc nối kết đời sống đức Tin với cuộc sống thật, nối kết đời sống tôn giáo với những đau thương và khủng hoảng thật của đời sống trần thế. Với đức Cậy, người Kitô hữu yêu mến cuộc sống, thiết tha với cuộc sống và hiểu rằng mỗi người chỉ có một cuộc sống duy nhất, cuộc sống đã bắt đầu ở đời này và được đổi khác, được hoàn thành ở đời sống mai sau.
“Điều trầm trọng nhất là chúng ta lẫn lộn tính bất tử của linh hồn và sự phục sinh của xác. Chúng ta chỉ xem trời là nơi chốn của linh hồn bất tử. Kết quả là, thế giới này, (nơi chúng ta sống, làm việc và đau khổ trong suốt bốn mươi, sáu mươi hay tám mươi năm), bị phai mầu, mất giá trị. Giá trị của thế giới ngày nay, của những nhiệm vụ nhân loại, dù là nhiệm vụ gia đình, xã hội, nghiệp đoàn, chính trị hoặc văn hóa, đối với chúng ta, chỉ còn là một cái gì đó hoàn toàn thứ yếu đối với cái chúng ta gọi là thế giới khác, cuộc sống khác. Như thể có hai thế giới và thế giới này (nơi chúng ta sống) không có giá trị bao nhiêu so với thế giới kia ! Chúng ta lầm lẫn “thế giới khác” với “thế giới trở nên khác”, tuy nhiên hai không không phải là một ! Nói cho nghiêm túc, không có thế giới khác, không có cuộc sống khác, nhưng thế giới này trở nên khác hẳn, cuộc sống này trở nên khác hẳn…”
Đức Tin không phải là từ bỏ cuộc đời này để đi tìm một cuộc sống khác; ngược lại, đức Tin Kitô giáo chính là thái độ trân trọng cuộc sống Thiên Chúa ban, quí trọng từng giây phút, quí trọng từng kỷ niệm vui buồn, quí trọng từng mối tương quan nghĩa tình…, và trông cậy đời sống ấy đã được cứu độ ngay ở đời này, rồi sẽ được thành toàn trọn vẹn ở cuộc sống mai sau.
“Đức Giêsu hoàn toàn trái ngược với một Thiên Chúa ở nơi cao xa. Sự nhập thể trái ngược hẳn với việc đứng nơi cao xa. Một Thiên Chúa, khi nhập thể và nhập thế, “bay bổng” bên trên thế giới, đó hoàn toàn là một sự lừa đảo”.
Có lẽ chiến lược của Kitô giáo ngày nay không phải là chống lại trào lưu thế tục hóa theo kiểu loại bỏ những “chất thể trần thế” ra khỏi đời sống đức Tin, nhưng đúng hơn cần đón nhận trần thế một cách can đảm và thẳng thắng hơn, thanh lọc những thứ thánh thiêng giả tạo. Các thần minh giả hiệu khi xưa mà các ngôn sứ đấu tranh, thì ngày nay chính là kỹ thuật, chính trị và nền luân lý thuần túy con người đã được tôn vinh với quyền lực tuyệt đối trong tâm hồn con người hiện đại. Hơn lúc nào hết, đời sống đức Tin hôm nay cần tìm lại hứng khởi của các ngôn sứ khi xưa để chống lại các ngẫu tượng hiện đại.
Cha F. Varillon nói :
“Các ngôn sứ loan báo đức Kitô. Thế rồi giờ đây Đức Kitô tiếp tục và hoàn tất phê phán do các ngôn sứ khởi xướng. Đức Kitô mạc khải rằng sức mạnh đích thực là một sự hiện diện, sự hiện diện của một tình yêu mà sức mạnh được gọi là Thánh Thần, có khả năng chấp thuận yêu cầu của hy vọng bằng cách biến đổi toàn thể nhân loại, bằng cách giải thoát nhân loại hoàn toàn” .


4.2 Đức Cậy và Nước Trời


Trọng tâm của Tin Mừng Nhất lãm và những thư đầu của thánh Phaolô là Nước Trời. Trọng tâm của Tin Mừng IV và các thư sau của thánh Phaolô là chính bản thân đức Giêsu. Hai khía cạnh đó gắn liền với nhau. Đức Giêsu là Trung Tâm, Nước Trời là Chu vi. Thiếu trung tâm thì đời sống bị thế tục hóa; thiếu chu vi, đời sống đức Tin bị thiêng liêng hóa.
Sứ điệp Kitô giáo đang bị loại ra khỏi dòng chảy của thế giới hiện đại, bằng chứng là khi thiên đàng Cộng Sản sụp đổ 1989, người ta đã không trở về với niềm hy vọng Cánh Chung Kitô giáo, nhưng rớt vào thuyết tương đối. Điều đáng lo là thứ “đạo thiêng liêng” vẫn còn vương vấn, ám ảnh trên “gương mặt” đời sống đức Tin ngày hôm nay.
Chúng ta có một kinh nghiệm quí giá trong mùa dịch Covid 19, khi đời sống đức Tin tạm “rời xa” những sinh hoạt thiêng liêng thuần túy, để gắn liền với mối nguy thực sự đang đe dọa sự sống, thì khi đó, biết bao nhiêu năng lực của đức Tin đã được khơi dậy, biết bao nhiêu ý nghĩa của đời sống đức Tin trở nên sáng chói hơn lúc nào hết, nhất là nơi việc cứu trợ, và nơi những tình nguyện viên phục vụ quên mình…


4.3 Đức Cậy và Cánh chung


Với cách nhìn của Vatican II, Cánh Chung là một giai đoạn tử việc Ngôi Lời Thiên Chúa đến trần gian lần thứ nhất cho đến khi Ngài lại đến lần thứ hai và thời sau hết. Giai đoạn Cánh Chúng đã bắt đầu rồi, và tất cả đời sống Giáo hội cũng mọi sinh hoạt trong Giáo hội đều hướng tới ngày Cánh chung…đến độ có thể nói mọi nền thần học của Giáo hội đều là Cánh Chung.
Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Đức Cậy trở nên rõ nét và trọn vẹn khi gắn liền với đức Giêsu Kitô, Đấng là điểm qui tụ của toàn thể tạo thành. Vì thế, đức Cậy cũng gắn liền với Cánh Chung, tức là gắn liền với việc “Chúa Đến”. Chúa đến lần I để liên lụy với con người và Chúa đến lần II để hoàn thành vận mạng của con người…Đức Cậy và Cánh Chung gắn liền với nhau. Đức Cậy chỉ trở nên trọn vẹn trong Cánh Chung, và Cánh Chung chỉ có nền tảng trên đức Cậy.
Con người luôn khao khát hạnh phúc, và niềm hạnh phúc thật chính là sự tỏ lộ ý nghĩa Cánh Chung trong hành trình cuộc đời. Một sự lệch lạc hay quên lãng Cánh chung chính là nguyên do của sự lệch lạc về hạnh phúc.


5. Vài thái độ sống niềm Trông Cậy


Đức Tin và ngay cả Đức Mến, nếu không gắn liền với cuộc sống thật trong chiều kích đức Cậy, sẽ chỉ là những giấc mơ và tình cảm viển vông; và trong thế giới hiện nay, chúng thật sự còn mờ ảo hơn cả thế giới ảo. Có lẽ điều có khả năng mang lại sinh lực cho đời sống Kitô giáo hôm nay chính là việc tìm lại cấu trúc toàn vẹn của thái độ Tin-Cậy-Mến.


5.1 Xác tín vào Quyền năng của Thiên Chúa


Niềm trông cậy của chúng ta luôn dựa trên chính Chúa, trong niềm xác tín chỉ có Thiên Chúa mới có thể hoàn thành chương trình cứu độ cho toàn thể nhân loại. Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ qua đức Giêsu, Ngôi lời Nhập Thể, sống kiếp phàm nhân… để dẫn đưa nhân loại đến thời điểm hoàn thành.
Niềm xác tín này phải mạnh mẽ để có thể đương đầu với những cám dỗ cậy dựa và kỹ thuật, chính trị và năng lực luân lý của con người. Chúng ta được mời gọi để sống như những người “làm chứng” về quyền năng của Chúa, chứ không phải chỉ là “làm gưong” bằng đời sống của chính mình. Làm chứng là thái độ làm tỏ lộ sự hiện diện của Chúa, quyền năng và tình yêu của Ngài qua sự bất lực của con người.


5.2 Sống đức Kiên nhẫn


Chữ nhẫn xác định “qui chế hiện hữu” đích thực của con người, theo đó, con người mang thân xác và thực hiện tất cả vận mạng của mình qua thân xác, trong dòng lịch sử.
“Trong một thế giới lúc nào cũng hối hả, chúng ta đã quen với việc muốn có mọi thứ ngay lập tức. Chúng ta không còn thời gian để gặp nhau và thường thì việc gặp gỡ và bình tâm nói chuyện với nhau, ngay cả trong gia đình, cũng trở nên khó khăn. Tính nóng vội làm mất kiên nhẫn, gây nguy hại nghiêm trọng cho con người. Thật vậy, điều đó gây ra bất khoan dung, căng thẳng, đôi khi cả với bạo lực vô cớ, dẫn đến bất mãn và khép kín”.
Nếp sống của phận người như thế mời gọi người Kitô hữu sống thái độ kiên nhẫn, thể hiện niềm tin tưởng và lòng yêu mến Chúa qua sự kiên nhẫn.


5.3 Đi vào nẻo đường tình yêu


Tình yêu là điều cốt lõi trong đức Tin Kitô giáo. Người Kitô hữu không tin vào “quyền lực” thống trị, nhưng tin vào quyền năng của tình yêu. Đức Bênedicto XVI nói :
”Không phải khoa học cứu chuộc con người. Con người được cứu chuộc bởi tình yêu. Điều này vẫn đúng ngay trong lĩnh vực thuần túy nhân loại. Khi một người cảm nghiệm được trong cuộc sống một tình yêu cao cả, đó là thời điểm “cứu độ”, là thời điểm mang lại một ý nghĩa mới cho cuộc đời”.
Con người cần có tình yêu để có thể sống có ý nghĩa, nhưng chỉ có thứ tình yêu mang lại sự sống tròn đầy cho con người mới là mục tiêu của niềm hy vọng.
“Sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17,3)
Niềm hy vọng Kitô giáo nhằm tới sự sống đời đời và sự sống ấy chỉ có nơi Đấng đã thể hiện một tình yêu lớn lao hơn mọi tình yêu dành cho con người, đồng thời cũng là Đấng mang lại nguồn mạch sự sống đích thực.


5.4 Khám phá những dấu chỉ của hy vọng


Sắc chỉ nhắc nhở một nét lớn của Vatican II, đó là thái độ mở mắt để khám phá những dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa vẫn đang sống và đang hoạt động trong thế giới này :
“Lúc nào Giáo hội cũng có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích dưới ánh sáng Phúc Âm; như vậy mới có thể giải đáp một cách thích ứng với từng thế hệ những thắc mắc muôn thuở của con người về ý nghĩa cuộc sống hiện tại và mai hậu cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy”
Quả thật, giữa lòng bóng tối của chiến tranh và nghèo đói ngày hôm nay, Giáo hội xác tín vẫn có sự hiện diện cứu độ của Chúa, và người Kitô hữu cần tìm được những dấu chỉ của niềm hy vọng ngay trong những thời khắc khốn khổ nhất. Xin Chúa Thánh Thần ban cho mỗi người chúng ta có được một sự tinh tường của Thần Khí để khám phá và cộng tác vào những mầm sống của Niềm Hy Vọng Kitô giáo trong thế giới hiện đại.


Tạm kết


Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể để đi lại hành trình làm người. Thiên Chúa đảm nhận hết mọi thách đố của phận người và Ngài đã thực hiện trọn vẹn sứ mạng cứu độ trong cái chết và Phục sinh. Đó là nền tảng của niềm Hy vọng Kitô giáo.
Cùng với đức thánh cha Phan-xi-cô, chúng ta sống niềm hy vọng tràn trề để bước vào Năm Thánh 2025 :
“Dựa trên truyền thống lâu đời này và xác tín rằng Năm Thánh này sẽ là một trải nghiệm sâu xắc về ân sủng và hy vọng cho toàn thể Giáo hội, tôi quyết định khai mạc Năm Thánh thường lệ bằng việc mở Cửa Thánh của Vương cung thánh đường thánh Phêrô ở Vatican vào ngày 24-12-2024 năm nay…”

Nguyễn Trọng Viễn O.P.