Tính thể chất trong Phận người và trong Phụng vụ

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Trong thế giới Hy Lạp, cũng như trong những nền văn hóa khác, các tư tưởng triết học khó lòng thoát ra khỏi dung môi của tôn giáo; và những quan niệm vũ trụ luận cũng như nhân sinh quan của tôn giáo vẫn làm nên một thứ “văn hiến” hướng dẫn từ bên dưới dòng chảy của lịch sử một dân tộc.

1. Nhìn lại cội nguồn

Trong thế giới Hy Lạp, cũng như trong những nền văn hóa khác, các tư tưởng triết học khó lòng thoát ra khỏi dung môi của tôn giáo; và những quan niệm vũ trụ luận cũng như nhân sinh quan của tôn giáo vẫn làm nên một thứ “văn hiến” hướng dẫn từ bên dưới dòng chảy của lịch sử một dân tộc.

Trong Giáo hội, người ta thường nói có những vị thánh đã “rửa tội” cho triết học Hy lạp; nhưng cũng có người lại nhận xét rằng, đúng hơn, Kitô giáo đã bị Hy Lạp hóa. Nếu cách nhìn thứ hai nay đúng được phần nào, thì có lẽ nguy cơ lớn nhất của sự trệch hướng ấy nằm ở nơi những tâm thức nền tảng có tác dụng ở tầm mức “văn hiến” trong văn hóa Kitô giáo; và đây là điều cần có một tinh thần tỉnh táo để có thể phanh phui được cội nguồn…

Nền văn hóa Hy Lạp đã để lại cho thế giới Tây phương một tâm thức ít nhiều coi nhẹ hoặc coi thường vật chất và thân xác. Thứ “di sản” ấy cũng có mặt nhiều-ít trong tâm thức Kitô giáo, mặc dù, tự căn bản, truyền thống Do Thái Kitô giáo xây dựng trên một nền tảng toàn vẹn và tinh tế hơn nhiều.

Từ một nền tảng tôn giáo, theo đó, linh hồn là một mảnh của thần thánh, rồi vì một thứ tội bí ẩn nào đó mà bị tách ra và bị giam cầm trong thân xác, người Hy Lạp như bị chộp bắt do cái phổ quát và coi nhẹ cái cụ thể; luôn tìm cách nắm bắt chân lý của thực tại trong thế giới biểu tượng của những “danh từ” và muốn tìm giải pháp cho cuộc đời bằng một sự hiểu biết có khả năng giúp con người siêu thoát khỏi một thực tại biến thiên thất thường của lịch sử…

Trong khi đó, nền tảng của truyền thống tôn gíao Do Thái Kito giáo lại là chính dòng chảy lịch sử, dựa trên hành động của Thiên Chúa và của con người, được xác định do những biến cố và sự kiện có nơi chốn và thời gian, do những nhân vật có tên có tuổi, trong những câu chuyện đời đầy “mùi người”. Chân tính của đức Tin mang “tính động từ” thể hiện trong những hành động đức Tin của con người để đáp lại ý muốn và hành động của Thiên Chúa.

Có thể nói một cách khái quát rằng nền văn hóa Hy Lạp đi tìm “cái là” trong khi văn hóa Do Thái lại lưu tâm nhiều hơn đến “cái làm”. Nền văn hóa Hy Lạp đi tìm nhận thức về căn tính của hữu thể trong những khái niệm phổ quát, trong khi văn hóa Do Thái lại đi tìm sự sống và ý nghĩa của sự sống trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa; sự sống ấy liên quan mật thiết tới đất (đất hứa) như là yếu tố không thể thiếu của sự sống, liên quan mật thiết đến gia tộc (dòng dõi) là nơi hình thành và duy trì sự sống, liên quan mật thiết đến Vương Quốc, là nơi bảo vệ và đưa sự sống đến thành toàn. Nền văn hóa sự sống ấy cũng dính dáng sâu xa đến sức khoẻ, tuổi thọ, tiền bạc, cơm ăn, áo mặc, cũng như các tương quan trong sinh hoạt cộng đồng, lễ lạc phượng tự… Tạm gọi đó là nền văn hóa sự sống toàn diện, liên quan đến từng cá nhân cụ thể.

Kitô giáo, một đàng tiếp nối truyền thống Do Thái, đàng khác cũng đón nhận những giá trị tri thức của nền văn minh Hy Lạp và những tổ chức luật pháp của văn minh La Mã. Đó cũng chính là nỗ lực nối kết đức Tin và lý trí như một chủ đề chính xuyên những năm đầu của Kitô giáo và suốt thời kỳ Trung Cổ. Tổng hợp ấy của Kitô giáo đã hình thành qua biết bao nhiêu thách đố đầy máu và nước mắt, đã gạn lọc để xác định những nền tảng tín lý và vẫn không ngừng phát triển qua những đối chất liên tục và đón nhận những giá trị khác trong dòng đời. Kitô giáo là đạo mạc khải, nhưng những chân lý mặc khải của Chúa lại được quặn đau để được sinh ra, từ những cuộc đối thoại và cả trong những chiến cuộc khốc liệt với lạc giáo và những nên tôn giáo, văn hóa, triết học khác… Chính vì thế, ngay đến ngay hôm nay, chúng ta cần ghi nhận ra những “chứng tích” của cuộc “rửa tội cho triết học”, cùng với những “thương tích” do bị lây nhiễm; cần tiếp tục hành trình “quặn đau” để chân lý mặc khải được tỏ lộ trọn vẹn hơn. Trong chiều hướng ấy, chúng ta thử ghi nhận vài khía cạnh về “tính thể chất” trong ý nghĩa của phận người cũng như trong phụng vụ Kitô giáo.

2. Tính thể chất trong nhiệm cục Kitô giáo

Khi so sánh với các tôn giáo và các truyền thống văn hóa khác, ta dễ dàng nhận ra, trong cội nguồn của tổng hợp Do Thái Kitô giáo, thân xác con người và những yếu tố thể chất có một vị trí đặt biệt. Cha Timothy Radcliffe OP nói rằng : “Kitô giáo là một tôn giáo mang đậm tính thể lý” .

Một đàng, nhiệm cục cứu độ khởi đầu bằng việc Thiên Chúa đã đi vào tương quan cụ thể với cá nhân, ông Abraham và các tổ phụ; Thiên Chúa đã giao ước với Dân tại một nơi và một thời điểm cụ thể trên núi Sinai; Thiên Chúa đã dẫn dắt một dân tộc cụ thể là dân Israel trong một hành trình lịch sử cụ thể, để làm nên một lịch sử ơn cứu độ. Ơn cứu độ là một lịch sử, được hình thành với tất cả những biến thiên vô cùng phong phú của thực tại, đó là đường nét rất đặc trưng của nhiệm cục cứu độ Do Thái Kitô giáo. Rồi với biến cố Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa, Kitô giáo tìm thấy một Trung Tâm cụ thể của toàn bộ dòng lịch sử nơi một con người cụ thể. Điều thực sự làm ngạc nhiên những nhà triết học là Kitô giáo cho rằng vận mạng của toàn bộ tạo thành lại khởi đầu và “cư ngụ” nơi một cá nhân, đức Giêsu. Đức Giêsu là cá nhân một cách trọn vẹn, Ngài có đủ các yếu tố của nhân tính, linh hồn và thân xác. Ngài sống một cuộc sống thật, trong một môi trường lịch sử cụ thể. Cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ngài là một biến cố duy nhất… và nhiệm cục cứu độ được quyết định trong mối tương gian cá vị với chính con người Giêsu lịch sử ấy.

Triết học Kinh viện nói rằng “chất thể” là nguyên lý cá biệt hóa. Chính chất thể làm cho một mô thể chung hình thành được nơi mỗi hữu thể cá biệt .

Đàng khác, viễn tượng Cánh chung Kitô giáo giáo công bố một sự thành toàn của toàn thể, bao gồm cả vũ trụ vật chất và con người. Nhưng đây không phải là một thứ “tổng số” hoặc một thứ “tập thể” làm mờ đi nét độc đáo của cái cá biệt, mà là một “toàn thể trọn vẹn”, trong đó mỗi cá thể được thành toàn với tất cả nét độc đáo riêng của mình. Đức J. Radzinger nói :

“Do đó, có thể nói được rằng, sứ điệp Kinh Thánh về tận thế và về ngày Chúa tái lâm không chỉ là một thứ nhân học được diễn tả bằng hình ảnh vũ trụ, nó cũng không đơn thuần diễn tả một khía cạnh thuộc vũ trụ học bên cạnh một khía cạnh thuộc nhân học. Đúng hơn, sứ điệp đó trình bày cho chúng ta thấy “thế giới” đạt tới tận điểm (tận thế) trong chính sự hiệp nhất đó. “Thế giới” ở đây hiểu là một cấu trúc duy nhất bao hàm hai khía cạnh “vũ trụ” và “con người”, do đó, nó luôn hướng tới sự hiệp nhất như là cùng đích của mình…” .

Quả thật tính thể chất ấy tràn ngập trong nhiệm cục cứu độ Kitô giáo. Nhìn trong chiều hướng này, chúng ta có thể thấy những cuộc cọ sát đầy máu và nước mắt để hình thành những nền tảng đức Tin Kitô giáo về đức Giêsu như một tiến trình chống lại khuynh hướng úy kỵ thân xác, chống lại khuynh hướng hạ giá nhân tính : từ việc chống lại lạc thuyết ảo thân, cho đến những lạc thuyết từ chối đức Giêsu có một linh hồn, có một ý chí và lý trí riêng của tính người… Việc công bố đức Giêsu Phục sinh trong thân xác là chướng tai những người dân ở đồi Aréopage (x. Cv 17, 22-34), cũng như việc công bố tín điều đức Maria hồn xác lên trời thực sự cũng là một điều đầy tính “cách mạng” đối với tâm thức con người nói chung.

Rõ ràng Kitô giáo không phải là “đạo tại tâm”, mặc dù thế giới bên trong là thành phần không thể thiếu trong tổng hợp Kitô giáo. Kitô giáo là tôn giáo nhập thể, là sự hiển lộ của siêu việt của Thiên Chúa và tự do của con người trong chính những thực tại “thể chất”.

Vào thế kỷ thứ II, Tertuliano viết : “caro cardo salutis” (thân xác là bản lề của ơn cứu độ), là phương tiên hữu hiệu để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa” .

Thánh Tôma Aquino đưa ra một tuyên bố rất “sốc” trong bầu không khí của thế kỷ XIII, và chắc chắn cũng gây ngạc nhiên không ít cho chúng ta ngày hôm nay : “từ tình yêu đức ái mà ta yêu mến Thiên Chúa, chúng ta phải yêu quý thân xác của chúng ta” .

Quả thật, vì vị thế siêu hình căn bản của phận người là linh hồn nhập thể, nên chúng ta thường có được kinh nghiệm sống động về mạch nguồn sự sống ở nơi giao điểm giữa tinh thần và thể chất. Chúng ta có thể nghiệm thấy một cách rõ ràng dòng chảy của sự sống trở nên chân thật và mãnh liệt một khi những thực tại siêu nhiên và những giá trị nhân bản được tỏ lộ trong những cử chỉ, những nghi thức của thân xác. Chúng ta cảm nhận được một sự thiếu hụt nào đó khi mà không thể diễn tả những ý nghĩa, những giá trị qua thân xác và trong tương quan với cộng đồng nhân loại. Thiên Chúa đã chọn chiều hướng nhập thể mỗi ngày mỗi sâu xa và trọn vẹn hơn trong lịch sử là vì Thiên Chúa muốn chơi với con người theo cách thế hiện hữu của con người.

Nơi đây, chúng ta nhận ra vai trò không thể thiếu của Chúa Thánh Thần trong nhiệm cục cứu độ và nhận ra chiều hướng tác động đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Thánh Thần là Đấng làm cho con người được sống, và “chuyển đổi” những thực tại tự nhiên trở nên siêu nhiên. Thánh Thần giúp con người nhân hóa những thực tại vật chất và chỉ có Ngài mới chuyển những thực tại nhân bản ấy đến bình diện sự sống siêu nhiên. Điều này khác xa với lựa chọn phủ định đơn thuần những gì thuộc vật chất để khẳng định giá trị tinh thần; và cũng khác xa với kiểu niềm tin tôn giáo phủ định con người để làm vinh danh Thiên Chúa.

3. Tính thể chất trong phụng vụ Kitô giáo

Trong đời sống đức Tin, chính phụng vụ là nơi mà tính thể chất được thể hiện một cách rõ ràng và phong phú hơn cả. Phụng vụ, căn bản là phụng vụ bí tích, tự bản chất đã là những “dấu hiệu hữu hình” để diễn tả “thực tại vô hình”. Ngoài ra, những hình thức phụng vụ theo nghĩa rộng cũng luôn bao hàm yếu tố thể chất như là dáng dấp và cấu trúc căn bản…

Trong phụng vụ bí tích, chính Thánh Thần, như nguyên lý chuyển đổi, mới có thể làm cho những cử hành bí tích, qua những dấu chỉ hữu hình, sinh hiệu quả “do sự” (Ex opere operato), nghĩa là hiệu quả được phát sinh do chính hành động bí tích, được cử hành đúng như đã được Thiên Chúa xác định qua quyền bính của Giáo hội. Tuy nhiên, điều đó không loại trừ, ngược lại, càng củng cố niềm Tin và lòng tín thác của con người trước tình yêu quảng đại của Thiên Chúa, nghĩa là bao hàm, khai mở, tác động đến sự cộng tác do lòng sốt sắng của thừa tác viên và người lãnh nhận bí tích (ex opere operantis). Yếu tố thể chất và mô thể của bí tích được xác định do Huấn quyền tạo nên một nền tảng “khách quan” và vững chắc, nhưng không phải là bí tích vận hành như một nguồn mạch thuần túy khách quan, vì như thế là rơi vào một thứ chủ nghĩa máy móc. Bí tích luôn đòi hỏi ý thức đức Tin và thái độ muốn làm theo ý của Giáo hội; đồng thời cũng khuyến khích những tâm tình và những thái độ “chủ quan” để hiệu quả được triển nở một cách phong phú hơn…

Mối tương quan giữa sự “xác định căn bản” và sự “triển nở phong phú” khá tế nhị; và mối tương quan này thể hiện ngay trong những yếu tố thể chất của phụng vụ. Những chuyên viên phụng vụ thường lo lắng về một sự thống nhất đến độ phủ định mọi sáng tạo phong phú. Ngược lại, những người mục tử lại quan tâm hơn đến hệ quả mục vụ, nên thường có khuynh hướng sáng tạo quá đà. Một cách nào đó, các chuyên viên phụng vụ muốn đóng khung những cử chỉ phụng vụ trong một khuôn khổ siêu hình, trong khi những người thiết tha với hệ quả mục vụ lại cảm nhận sắc nét hơn về chiều kích lịch sử…; và dĩ nhiên, tiếng nói của những chuyên viên phụng vụ bao giờ cũng nặng ký hơn trong những tranh luận liên quan đến phụng vụ,…

Thật ra, những quy định của Huấn quyền về nghi thức phụng vụ, dĩ nhiên, gắn liền với những ý nghĩa biểu tượng chân thật và có cội nguồn trong cấu trúc đức Tin vào một thời điểm lịch sử nào đó; tuy vậy, trong thực tế, ai cũng thấy những ý nghĩa biểu tượng ấy không phải luôn luôn là một thứ chân lý không thể khác và nhất là những ý nghĩa biểu tượng ấy không phải luôn luôn đáp ứng được khát vọng của con người thuộc mọi thời đại. Phụng vụ đã luôn có những thay đổi trong dòng lịch sử và căn nguyên của những thay đổi chính là sự đổi khác của tâm thức đức tin trong từng thời đại. Dĩ nhiên, chân lý khách quan của đức Tin vẫn luôn thống nhất, nhưng chân lý khách quan ấy lại cần được đón nhận và triển nở phong phú trong “kinh nghiệm đức tin” qua thái độ chủ quan (chủ thể) của mỗi người tín hữu. Chính độ sai lệch giữa biểu tượng khách quan và ý nghĩa chủ quan nơi chủ thể lãnh nhận đã đưa đến những hệ quả mà ta có thể thấy rõ trong hiện tình của đời sống đức Tin : mối tương tác giữa hành vi của thân xác và ý nghĩa nhân bản của tinh thần trở nên rời rạc; tính tự do làm nên chủ thể tính nơi mỗi người Kitô hữu bị giảm thiểu, hồng ân căn bản của ơn Cứu độ thời Tân Ước bị phai lạt : “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5,1). Có phải chính vì thế mà mạch sống của bí tích không triển nở được phong phú nơi người lãnh nhận ?

Một khi nỗi bận tâm về trật tự và tính đồng nhất trong phụng vụ cắt đứt mối liên hệ với kinh nghiệm đức Tin làm nên sự sống chân thật, cắt đứt mối liên hệ giữa cử chỉ của thân xác và ý nghĩa của tinh thần nơi cá nhân của người tham dự phụng vụ, thì nguồn sức sống đích thực chắc chắn sẽ càng ngày càng yếu nhược.

Độ sai lệch nói trên cần được giải quyết, một đàng, bằng việc đào tạo về phụng vụ, không phải chỉ để làm sao cho đúng chữ đỏ, nhưng thiết yếu là giúp người Kitô hữu nhận ra những ý nghĩa đích thực của biểu tượng phụng vụ. Nhưng việc lắng nghe nhu cầu đích thực, trân trọng tâm thức của con người thời đại cũng là điều không thể thiếu.

Trong thời đại mà mọi sự đều thay đổi và thay đổi một cách quá mau chóng, chắc chắn sẽ xuất hiện những đường đứt gẫy trong các nền văn hóa. Hình như vấn đề kỷ luật phụng vụ của Giáo hội ngày nay hàm chứa một thách đố khá giống với những cuộc tranh luận về chữ “lễ” trong Nho giáo. Thực sự thì chữ Lễ, ngay ở Trung Quốc, đã có cả một lịch sử dài, đã chuyển biến qua từng thời kỳ và qua các trường phái khác nhau, nên những việc đề cao chữ lễ trong chiều hướng nhìn lại ý nghĩa ban đầu từ thời Khổng Tử, theo đó chữ lễ là cách thức biểu lộ chữ “nhân”, cũng có lý; mà việc phê bình chữ lễ như là một sự trói buộc năng lực sáng tạo của con người, xét vì chữ lễ đã bị đồng hóa với pháp luật trong thời Pháp gia, cũng không phải là không có lý. Từ bài học ấy, chúng ta cũng cần cảnh giác để phụng vụ Kitô giáo không rơi vào tình trạng “cử hành phụng vụ thiên quốc với tinh thần của khoa học tự nhiên (khoa học về vật chất)”.

Tạm kết

Hơn lúc nào hết, ngày nay người ta cảm nhận một cách sống động về tính huyền nhiệm của con người, một huyền nhiệm mà biết bao nỗ lực của con người qua bao thời đại vẫn không thể nào tát cạn được. Bản chất con người ngày nay cũng vẫn là bản chất của con người của hàng ngàn năm trước, nhưng những giá trị nhân bản và siêu nhiên trong đời người thì lại vô cùng phong phú và vẫn không ngừng được khám phá thêm mãi và thêm mãi. Chính qua những biến thiên phong phú mà bản chất người lại càng rõ nét và đồng thời cũng huyền nhiệm hơn. Diễn tiến ấy sẽ làm lộ ra sự thiết sót của những qui định bị trói buộc vào những thứ “nền tảng” chưa phải là “cội nguồn”. Diễn tiến ấy đòi hỏi người Kitô hữu nhận ra được những nguyên lý căn bản hơn và khám phá những nền tảng sâu xa hơn trong đức Giêsu Kitô.

Thế giới con người càng ngày càng có nhiều tiến bộ và tiến bộ theo chiều hướng chuyên môn hóa. Điều đó khiến cho tâm thức con người càng ngày càng xa rời các nguyên lý căn bản. Đời sống đức Tin Kitô giáo cũng diễn tiến song song với thời đại như vậy. Việc trở lại với những nguyên lý đức Tin được cử hành trong phụng vụ là điều cần thiết, bởi vì nguyên tắc lex orandi lex credendi (luật cầu nguyện là luật đức tin). Nhưng chính tầm quan trọng của phụng vụ như vậy cũng lại là lời cảnh giác về sự nguy hiểm của phụng vụ, khi mà phụng vụ không diễn tả được chính xác nguyên lý cội nguồn nơi đức Giêsu Kitô.

Xin tạm dùng câu nói của cha Timothy Radcliffe để diễn tả tính phong phú của huyền nhiện cứu độ trong tinh thể chất của con người :

“Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, không phải vì Thiên Chúa có mắt, có miệng và có tai, nhưng bởi Thiên Chúa là tình yêu, và thân xác chúng ta, trong chính cấu trúc của nó, là lối mở cho tình yêu” .

Nguyễn Trọng Viễn OP.