Ý nghĩa đời người trong chiều kích Cánh chung của Phụng vụ

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Ý nghĩa đời người trong chiều kích Cánh chung của Phụng vụ

1. Hai chiều kích cánh chung

1.1 Chiều kích lịch sử trong Cánh Chung

Mặc dù người ta kể ông tổ của ngành sử học Tây phương là Herodote (khoảng 484 - 425 tcn), và ở bên Trung hoa thì, vào thời Xuân Thu (Khoảng thế kỷ VIII tcn đến thế kỷ V tcn), người ta đã thấy các triều đình đặt các quan chép sử. Tuy nhiên, ý nghĩa đích thực của lịch sử như là một chiều kích căn bản trong “quy chế hiện hữu” của con người thì lại xuất phát từ truyền thống Do thái Kitô giáo. Chính vì chiều kích lịch sử, truyền thống Do thái Kitô giáo đã trình bày một bản chất của đức Tin không phải chỉ như một tôn giáo huyền nhiệm, thoát ly cuộc đời để tìm giải thoát trong một thế giới xa lạ, mà là một tôn giáo “vật lý” , nghĩa là chính ý nghĩa của đức Tin soi sáng và làm lộ ra ý nghĩa căn bản của thực tại. Một đàng, truyền thống Do thái Kitô giáo đã “sắp xếp” mầu nhiệm sáng tạo và ơn cứu độ vào một khung lịch sử căn bản; nhưng hơn nữa, lịch sử còn nằm trong chính bản chất của thực tại. Vận mạng của con người được thể hiện trong sử tính, mang tính chất thiết yếu như một “câu chuyện” chứ không phải như một “bài toán”. “Câu chuyện” giống như một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là một sản phẩm kỹ thuật. Trong kỹ thuật, sản phẩm cao cấp thay thế và loại trừ sản phẩm thấp kém; nhưng nghệ thuật thì mỗi tác phẩm có một giá trị riêng và không có chuyện thay thế hay loại trừ. Cũng thế, một con người thể hiện vận mạng của mình trong chính hành trình cuộc đời mình, với những tình tiết, cơ duyên và những gút mắc bất ngờ mà không ai có thể tính trước được. Đó là nét độc đáo riêng biệt mà truyền thống Do Thái Kitô giáo đã cung cấp cho nhân loại. Khi bỏ quên sử tính, không nhận ra phẩm tính câu chuyện của đời người, người Kitô hữu sẽ không hiểu được nhiệm cục cứu độ, không khám phá ra Thánh Ý Chúa dành cho những người bé mọn (x. Mt 11, 25-30) và không thể hiện được Ý Chúa muốn “những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót” (Lc 13,30), rồi nghiêng ngả về phía “chủ nghĩa ưu tuyển”.

Trong chiều hướng lịch sử ấy, cánh chung như là thời điểm của một sự thành toàn của toàn bộ vũ trụ này, cũng là một yếu tố căn bản trong vận mạng chung cuộc của mỗi con người.

1.2 Chiều kích huyền nhiệm trong Cánh chung

Mặc dù chiều kích nền tảng vẫn là lịch sử, nhưng Kitô giáo không loại bỏ chiều kích huyền nhiệm. Hai chiều kích này không chống đối nhau, nhưng bù đắp lẫn nhau. Chiều kích lịch sử hướng tới sự thành toàn trong tương lai, nhưng tương lai ấy lại được công bố, được cử hành như một sự “thành toàn” một cách dứt khoát và trong chiều kích huyền nhiệm, dưới hình thức biểu tượng tái hiện. Do đó, ta cũng có thể thấy ý nghĩa cánh chung trong chiều kích huyền nhiệm, đặc biệt trong phụng vụ.

Chính chiều kích huyền nhiệm được cử hành trong phụng vụ đã/đang/sẽ cung cấp cho đức Cậy trong chiều kích lịch sử những “hạt mầm” ý nghĩa, giúp Giáo hội và mỗi người Kitô hữu sống khát vọng cánh chung một cách vững vàng trước bao nhiêu sóng gió của cuộc sống hiện tại…

Cánh chung Kitô giáo sẽ có nguy cơ trở nên một ảo tưởng nếu thiếu một trong hai chiều kích ấy. Nếu chỉ có chiều kích huyền nhiệm, cánh chung sẽ chỉ là tư tưởng thuần túy, nhằm giải thích thực tại cách cưỡng bức. Nếu chỉ có chiều kích lịch sử, cánh chung sẽ dễ bị đắm chìm trong thực tại thô, bị lèo lái do những biến cố cụ thể và bị cuốn trôi vào vòng tuần hoàn bất tận của vũ trụ.

2. Cánh chung lịch sử và cánh chung huyền nhiệm trong ý nghĩa đời người

Phụng vụ là hành vi thờ phượng Thiên Chúa, nhưng phụng vụ cũng còn là kín múc nguồn ơn cứu độ cho con người. Nhiều khi người ta quá chú trọng tới khía cạnh thứ nhất, với một sự nhậy cảm có dáng vẻ Biệt phái mà lại quên mất hoặc làm mờ đi khía cạnh thứ hai. Thái độ ấy làm cho phụng vụ trở thành gánh nặng thay vì là sự trợ lực mạnh mẽ cho đời người. Tôi nhớ mãi bài giảng của cha giáo Thánh Kinh khi xưa, ngài đặt vấn đề : anh em thấy ai là người bênh vực Thiên Chúa nhất ? Người Biệt phái chứ ai ! Anh em thấy ai là người bênh vực con người nhất ? Chính Chúa Giêsu chứ ai !

Lời ngôn sứ Hô-sê 6,6 quả thật là một mạc khải quan trọng mà chỉ riêng thánh Matthêu đã hai lần nhắc lại trong Tin Mừng của ngài.

“Nghe thấy thế, Đức Giêsu nói: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mt 9, 12-13)

“Tôi bảo cho các ông biết, đây có Đấng còn trọng hơn đền thờ nữa. Vì nếu các ông biết được điều này là, 'Ta muốn lòng nhân từ, chứ không muốn hy lễ', chắc các ông không bao giờ lên án những người vô tội, vì chưng Con Người cũng là chủ ngày Sabbat”. (Mt 12, 6-8)

Dĩ nhiên, không thể giản lược vấn đề với kết luận là khi bảo vệ sự “nghiêm túc” của phụng vụ thì là bảo vệ Thiên Chúa kiểu Biệt phái và ngược lại… Đó là sự quy kết mang tính “chất thể”. Điều quan trọng hơn là nhận ra mối ưu tư nào đã đưa đến lập trường này hay lập trường kia… Nếu các tư tế Cựu Ước, với vai trò tỏ lộ chiều kích thánh thiêng của Dân Chúa (chiều dọc), đã không tỏ lộ được sự thánh thiện nhập cuộc, sự thánh thiện dấn thân của Thiên Chúa (chiều ngang), thì ta thấy quá rõ ràng chức Tư Tế của đức Giêsu biểu lộ một quyền năng của tình yêu, đầy tràn phong phú để có thể liên lụy với tội lỗi của con người.

“Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta” (Dt 4,15).

Trong thời đại có quá nhiều thách đố hiện nay, giá trị Cánh chung chỉ có thể trở nên sống động và thiết thực khi đáp ứng được khát vọng chân thực của con người.

2.1 Văn hóa Đức Tin và khát vọng đời người

Truyền thống Do Thái - Kitô giáo, ngay từ đầu, đã nhận ra đời sống tôn giáo mạc khải mang tính cách mối tương quan ngôi vị toàn vẹn, nghĩa ra là một cách sống tôn giáo bao gồm tất cả mọi sự trong đời sống con người. Tính cách toàn vẹn ấy thường tóm tắt qua ba nhân đức : Tin – Cậy – Mến. Đây là những nhân đức đối thần, nghĩa là những nhân đức hướng tới chính Chúa. Từ ba nhân đức ấy tóm lại mối tương quan của con người với Chúa như vậy, ta cũng có thể nhận ra những khía cạnh căn bản trong khát vọng của con người : khao khát mối tương quan ngã vị (tin), mối tương quan ngã vị được thể hiện trong chiều kích bản thân (mến) và cuộc đời (cậy).

2.2.1 Tin là bước vào tương quan ngôi vị toàn vẹn

Tin là chấp nhận đi vào mối tương quan với chính Chúa. Đây là mối tương quan sống động, chứ không phải chỉ là hiểu biết bằng lý trí hay chỉ là tin có Chúa. Tin là gắn bó với chính ngôi vị chứ không phải chỉ là cần tới Chúa vì địa vị của Chúa, tài năng, một chức năng hay một phẩm tính nào của Chúa. Thực sự, Thiên Chúa luôn luôn là đơn nhất, nên tài năng, hoặc phẩm tính, hoặc tên gọi, hoặc sự sống... thì cũng là chính Ngài. Thái độ tin như thế là khai mở tương quan ngôi vị và bước vào một cuộc phiêu lưu tình nghĩa chứ không phải một bài toán trao đổi có tính sự vật.

Niềm tin vào chính Chúa xét như tương quan ngôi vị toàn vẹn cần được thể hiện qua hai khía cạnh cụ thể, tin – cậy và tin – mến.

2.2.2 Tin-Cậy là đi trọn đường đời cùng Chúa

Đời sống con người, trong thực tế, có rất nhiều điều bất ngờ, rất nhiều hoàn cảnh khó khăn, nên con người cần có Chúa như người bạn đồng hành và đồng hành suốt cả cuộc đời, đó là sống nhân đức Tin-Cậy. Tin-cậy không phải là dựa dẫm vào Chúa như một “tài khoản ngân hàng”, nhưng là đón nhận chính Chúa đang đồng hành với mình; giống như đứa con nhận được cái bánh của mẹ thì cũng nhận thấy mình được chính mẹ yêu thương chăm sóc. Đó là đức cậy mang tính ngôi vị.

2.2.3 Tin-Mến là dâng trọn bản thân cho Chúa

Con người thường yêu thương nhau vì cái hay cái tốt của nhau. Nhưng khi người mình yêu thương có những điều xấu, hoặc nhan sắc hay tài năng bị mất đi, hoặc tính tình trở nên xấu, hoặc bị rơi vào một hoàn cảnh khó khăn… thì người ta không còn yêu thương nữa. Nhưng con người không ai hoàn hảo, nhân vô thập toàn, nên người nào cũng có một nỗi xao xuyến sâu xa và khao khát được chấp nhận trọn vẹn bản thân. Khi có nhân đức Tin-Mến, người Kitô hữu dâng trọn bản thân cho Chúa và nhận ra mình được chính Chúa chấp nhận bản thân mình, ngay trong tình trạng bất toàn của mình, giống như người cha/mẹ chấp nhận đứa con của mình dù con có sa ngã hư hỏng thế nào đi nữa, để có thể giúp con vươn lên. Đây là đức mến mang tính ngôi vị.

2.3 Thử ướm “văn hóa đức Tin” vào chiều kích nhân bản

Đức Tin không phải là giải pháp giúp con người “thoát khỏi đời này” để bước vào một thế giới khác. Đức Tin trước tiên là một giải pháp cho chính cuộc sống trần thế và hoàn thành đời sống ấy bằng chiều kích siêu việt. Mối đe dọa của trào lưu thế tục hóa không phải chỉ do ảnh hưởng của những trào lưu bên ngoài nhưng còn do chính dáng dấp của sự sống đức Tin. Đức Tin có nguy cơ trở thành một số sinh hoạt song song với cuộc sống thường ngày, hoặc chỉ là trách nhiệm với “linh hồn” trong thế giới mai sau. Lý do hiện hữu của đời sống đức Tin như thế, trong đó gồm cả phụng vụ, không còn là sự sống toàn diện của con người trong cuộc sống hiện tại và thành toàn trong cuộc sống mai sau…

Chúng ta có thể thấy cấu trúc đời sống đức tin trong truyền thống Do thái Kitô giáo như thế gắn liền với cấu trúc con người toàn vẹn : tôn trọng ngôi vị - chấp nhận trọn bản thân – đồng hành trọn cuộc đời.

* Tôn trọng ngôi vị là yếu tố căn bản để có thể có được một tương quan tình yêu chân chính. Mặc dù từ ngữ “ngôi vị” đã có trong triết học Hy lạp (prosopon) và trong xã hội Roma (persona), nhưng ý nghĩa trọn vẹn của khái niệm ngôi vị chỉ được tỏ lộ khi Kitô giáo suy tư về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi và rồi cũng áp dụng ý nghĩa ngôi vị ấy để hiểu về từng cá nhân con người. Chính Kitô giáo đã chuyển đổi ý nghĩa của “cá thể” (individu) trở thành “ngôi vị” (person) nơi con người và mặc cho ý nghĩa ngôi vị tất cả giá trị cao quí và tính ngôi vị là cội nguồn để xác định nhân phẩm và nhân quyền trong thế giới hiện đại. Tính ngôi vị là đóng góp đặc biệt của truyền thống Do thái Kitô giáo cho thế giới hiện đại.

Từ đó, ta hiểu khát vọng được tôn trọng của mỗi cá nhân như là nền tảng của mọi tương quan trong đời sống con người.

* Chấp nhận trọng bản thân

Bình thường, con người được kinh nghiệm về tha nhân trong đời sống gia đình. Nơi đây, mỗi người được đón nhận trọn bản thân, nghĩa là được đón nhận một cách đơn thuần, vì là con, vì là cháu… chứ không vì vẻ đẹp hay tài năng nào cả. Đức trẻ trong gia đình kinh nghiệm được hồng ân này cách đặc biệt nơi người mẹ, và kinh nghiệm ấy là nền tảng để tạo nên một sự bình an. Trong gia đình, “bài toán” đời người là “được chấp nhận và khẳng định bản thân để đền ơn đáp nghĩa”.

Chỉ khi bước ra xã hội, con người bước vào một loại tương quan khác : “khẳng định mình để được chấp nhận”, và mối tương quan này biến cuộc sống thành một cuộc thi, một cuộc chiến, một cuộc đấu đá cạnh tranh miên man không dứt.

Với khát vọng sâu xa và căn bản trong đời sống gia đình, người ta luôn muốn tìm lại sự bình an căn bản trong đời sống xã hội và người ta muốn thành lập nên những “gia đình” mới, người ta khao khát một thế giới đại đồng, “tứ hải giai huynh đệ”.

* Đồng hành trọn cuộc đời

Không kể những tình huống éo le mà con người luôn có thể vấp phải trên hành trình cuộc đời, khi đó, người ta cần đến một sự đồng hành; nhưng ngay trong diễn tiến rất bình thường của một đời người, ta cũng thấy khát vọng được đồng hành là một nhu cầu thật. Một con người, khi sinh ra yếu ớt, cho đến khi trưởng thành và có thể trở nên một trụ cột cho đời sống gia đình hoặc một tổ chức nào đó, rồi sẽ đến và phải đến lúc con người già yếu…trên hành trình của trọn cuộc đời như thế, không ai có thể tự mình, đơn độc, để hoàn thành cuộc đời mình một cách tốt đẹp được. Con người trong cuộc đời luôn khao khát được ai đó đồng hành và đồng hành trọn cả cuộc đời. Đó là khát vọng tự nhiên và chân thật của thân phận người.

2.3 Phung vụ và khát vọng nhân bản

Phụng vụ, một cách chính thức, chính là phụng vụ bí tích, và phụng vụ bí tích luôn là một cách “áp dụng” nguồn mạch sự Chết và Phục sinh của đức Giêsu vào những tình huống quan trọng của cuộc sống con người : sự sống (Thánh tẩy), sự phát triển (Thêm sức), sự sai lỗi (Sám hối), khi bệnh tật (xức dầu), hành trình yêu thương (Hôn phối) và hành trình đức Tin (truyền chức) và sự hiệp thông (Thánh thể).

Trong những tình huống quan trọng ấy và cũng là trong toàn thể cuộc sống con người, con người cần tới đức Giêsu như là cội nguồn ân phúc. Từ đó, trong mầu nhiệm Tử nạn và Phục Sinh của đức Giêsu, một mầu nhiệm có hai khía cạnh, ta cũng có thể thấy hai khía cạnh ăn khớp với khát vọng của đời người. Đức Giêsu dám chết cho ta, ngay khi ta còn là tội nhân, đó là tình yêu chấp nhận trọn vẹn bản thân (khía cạnh yêu mến); và đức Giêsu Phục sinh để tiếp tục sống với ta trên mọi nẻo đường của hành trình đời người, đó là tình yêu đồng hành trọn cuộc đời (khía cạnh trông cậy).

Phụng vụ chính là nối kết khát vọng nhân bản với khát vọng được cứu độ. Mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Đức Giêsu tỏ lộ quyền năng cứu độ con người bằng cách đảm nhận chính con người toàn vẹn của con người, ban tặng ý nghĩa đích thực và cung cấp sinh lực cho hành trình đời người.

2.4 Cánh chung và khát vọng nhân bản

Theo lẽ tự nhiên, ta thấy con người bước vào đời như một kẻ bị quăng vào giữa đại dương bao la. Phần lớn con người có kinh nghiệm được bao bọc trong tình thương của đời sống gia đình, nhưng tình thương ấy vừa không phải là mọi người đều có được. Mặt khác, kinh nghiệm gia đình cũng không đủ để đi theo trọn hành trình của đời người, và nhất là không thể mở ra được bến bờ của nhân loại.

Chính vì thế, từ muôn thuở, con người cần tới tôn giáo để định vị ý nghĩa đời người. Tầm nhìn của tôn giáo mặc dù không có được một cách minh chứng mang tính khoa học, nhưng một khi bỏ mất tầm nhìn ấy, con người khó lòng tìm thấy được ý nghĩa toàn vẹn, ý nghĩa mang lại sự thỏa lòng cho phận người.

Trong sự giằng co ấy, yếu tố căn bản để khẳng định phẩm giá người cũng như lý do hiện hữu của con người chính là chiều kích cánh chung. Có lẽ trong nền văn hóa nào cũng có những chuyện cổ tích mang ý nghĩa “ở hiền gặp lành”. Trong thực tế cuộc đời, nguyên tắc ấy không luôn luôn ứng nghiệm và có lẽ tỷ lệ ứng nghiệm cũng không nhiều lắm. Nếu nhìn vào thực tế một cách chân thực, ta thấy biết bao người “ở hiền” nhưng lại gặp quá nhiều đau khổ và ngược lại ta cũng thấy không ít người làm điều gian ác nhưng vẫn phây phây an hưởng những thành quả được gầy dựng cách bất công. Sách Gióp là một cách giải thích sự mâu thuẫn ấy, nhưng không thể đi đến cùng, nên cuối cùng cũng phải đưa đến kết luận có hậu theo kiểu “ở hiền gặp lành”…

Thế nhưng, dù thực tế có phũ phàng đến đâu, con người vẫn không ngừng “viết tiếp” những câu chuyện cổ tích, nghĩa là vẫn không ngừng tin vào một lẽ công bằng nào đó của cuộc đời. Chính những chuyện cổ tích khi xưa và “niềm tin cổ tích” ngày hôm nay trở nên chất dinh dưỡng cho khát vọng thiện hảo và không ngừng thôi thúc con người chống lại thứ quy luật sinh vật, qui luật bất công luôn muốn chụp xuống thân phận người.

Trong sự mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tại ấy, ta có thể thấy “chuyện cổ tích” chính là dấu hiệu của khát vọng cánh chung ẩn tàng thâm sâu trong tâm thức của con người.

3. Phụng vụ và Cánh chung

Có nhiều khía cạnh trong mối tương quan giữa Phụng vụ và Cánh chung, nhưng ở đây xin được nối kết hai thực tại ấy trên mối giây ý nghĩa đời người. Phụng vụ cử hành chiều kích Cánh chung - như một thứ “văn hóa gõ nhịp” trong biện chứng “thời gian và vĩnh cửu”; - và như thứ “văn hóa ướm” để khẳng sự chiến thắng của tính ngôi vị trong thực tại Cánh chung.

3.1 Phụng vụ cử hành một “thời gian - vĩnh cửu”

Yếu tố thời gian nằm trong “qui chế hiện hữu” tự nhiên và căn bản của con người. Tuy nhiên, đức Tin Kitô giáo luôn khẳng định không thể tách biệt tự nhiên và siêu nhiên. Khát vọng đời người không bị gian hãm trong yếu tố sinh học, hoặc trong một lịch sử tự nhiên. Con người luôn khát vọng thành toàn trọn vẹn, khát vọng siêu việt, khát vọng Thiên Chúa… Nếu không có chiều kích siêu nhiên, sự sống con người luôn hụt hẫng, lịch sử đời người không thể vượt quá được tính dở dang; và những lý tưởng con người đặt ra chỉ giống như những “mồi giả”, dẫn dụ con người vươn lên mãi, hết thế hệ này đến thế hệ kia, mà vẫn chỉ là một sự tiếp nối miên man bất tận…và không bao giờ đạt được một chung cục thành toàn trọn vẹn…

Quả thật, ngay trong đời sống đức Tin, ta cũng thấy tình trạng người tín hữu mỏi mệt trông chờ. Thánh Phêrô đã tưng nói : trong khi “theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị” thì đừng tưởng Chúa chậm trễ : “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chận trễ…” (2 Pr 3,9)

Nhờ chiều kích huyền nhiệm được cử hành, con người có thể vững bước hướng về một chung cuộc toàn vẹn. Trong Phụng vụ Kitô giáo, khát vọng cánh chung lịch sử được nuôi dưỡng trong chiều kích huyền nhiệm. Như thế, chính phụng vụ được cử hành như “văn hóa gõ nhịp” sẽ thức tỉnh và không ngừng nhắc con người cần phải có một thái độ kiên nhẫn:

“Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20)

Sâu xa hơn, phụng vụ Kitô giáo không chỉ là nhắc nhớ mà còn là tái hiện. Ở đây, Kitô giáo không chỉ là ơn cứu độ như con người ước mong mà còn hàm chứa một giải pháp cứu độ siêu việt và siêu nhiên, nghĩa là đưa con người vào “thế giới” của Chúa. Nói chung, người ta thường coi vĩnh cửu và thời gian như là hai ý niệm đối lập nhau. Nhưng theo đức Benedictô XVI, đó là cách nhìn đó “chưa biết tới ý niệm về một Thiên Chúa tạo dựng và nhập thể” . Trong nhiệm cục cứu độ Do Thái Kitô giáo, khi Thiên Chúa “nhập cuộc” vào dòng thời gian, qua việc sáng tạo và quan phòng, qua mầu nhiệm nhập thể và cuộc sống dương thế của Ngôi Lời Vĩnh Cửu, thì vĩnh cửu chính là “Hôm Nay” giữa dòng thời gian. Vĩnh cửu không bị phá hủy hoặc bị giam hãm trong ý niệm trước-sau của thời gian, nhưng là sức mạnh sáng tạo và gìn giữ dòng chảy thời gian trong “Hiện tại Vĩnh hằng”, làm cho dòng thời gian đang khi hướng tới cánh chung trong dòng lịch sử, lại vẫn “trở nên cánh chung” trong chính thời khắc hiện tại.

Trong chiều kích huyền nhiệm này, ta hiểu ra việc công bố ngày “Quang Lâm gần kề” của đức Giêsu và của thánh Phaolo không phải là một sự hiểu lầm về thời gian, nhưng chính là công bố tính cách thành toàn của thời gian đã bắt đầu trong chiều kích siêu việt của Chúa. Phụng vụ Kitô giáo cũng là lời công bố “tính hiện tại” của các biến cố Nhập thể, Tử nạn và Phục Sinh của đức Giêsu Kitô trong cuộc sống của nhân loại qua mọi thời đại.

3.2 Phụng vụ cử hành sự chiến thắng của tình yêu ngã vị

Một điều khác ảnh hưởng không nhỏ trong hành trình làm người, đó là sự lấn lướt của sức mạnh vô ngã trên hữu ngã. Con người nhận ra sức mạnh của vũ trụ vô ngã như thể loại trừ ý thức, vùi dập tự do và thống trị trên con người. Không ít các tôn giáo và triết lý chỉ thấy con người chẳng những lạc nẻo trong đại dương bao la, nhưng còn quá nhỏ bé, mong manh, thua cuộc trước những quy luật tất yếu của vũ trụ. Kinh nghiệm “lực bất tòng tâm” dễ làm cho người ta tin vào những quy luật của sự vật và lựa chọn cách sống “sự vật hóa” vận mạng đời người, nghĩa là tin vào tính quyết định của những quy luật vô ngã. Khi ấy, con người không còn là kẻ thống trị thế giới, đặt tên cho muôn vật, nhưng là kẻ cam chịu trước sức mạnh của thế giới. Luân lý Kitô giáo gọi đó là thái độ “mê tín dị đoan”.

Đức Tin cho chúng ta thấy vận mạng của con người chỉ có thể tỏ lộ khi được gắn bó với đức Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Đấng sống trọn thân phận tự nhiên, nhưng luôn khai mở chiều kích siêu nhiên cho phận người. Trong trình thuật tử nạn, ta thấy có quá nhiều thế lực muốn tỏ bày sức mạnh thống trị trên bản thân đức Giêsu. Đó là sức mạnh của Tử Thần và những đứa con của Thần Chết…

Chúa Giêsu đã chết như một sự thua cuộc, nhưng rồi Ngài Phục sinh như một sự chiến thắng. Đó không phải chỉ là sự chiến thắng của đức Giêsu, nhưng còn là khai mở con đường giải thoát, trong đó tự do của ngã vị, tình yêu của ngã vị mới là câu trả lời cuối cùng.

Thật ra, trong cuộc tử nạn của đức Giêsu, khổ đau và cái chết không phải là yếu tố có nói tiếng nói cuối cùng, nhưng âm vang xuyên suốt cuộc tử nạn và Phục sinh chính là tình yêu, và tình yêu ấy không phải là một “ái lực” vô ngã của vũ trụ, nhưng nằm trong bản chất của ngôi vị. Cái chết của đức Giêsu, trong ý nghĩa sâu xa nhất, không phải là dâng lễ vật đền bù, cho bằng là thể hiện chân lý : “Ai Đó” dám đi đến cùng của sức sống tình yêu, đi đến đáy cùng của thân phận con người (chiều kích đức Mến), để rồi tình yêu ấy vượt qua cái chết để trở nên một tình yêu đồng hành với người tín hữu ở mọi nơi mọi thời (chiều kích đức Cậy). Chính tình yêu ngôi vị ấy được cử hành trong phụng vụ; chính tình yêu ấy được “áp dụng” vào trong từng bí tích và trong tình tình huống cụ thể của mỗi lần cử hành bí tích, và chính tình yêu như thế cho thấy yếu tố “ngôi vị” mới mang lại tiếng nói cuối cùng cho thân phận con người.

Cuộc Tử nạn và Phục sinh của đức Giêsu chính là thiết lập một trật tự mới, trật tự ngã vị chiến thắng quy luật vô ngã. Tính “luân lý” bộc lộ trong của đời người mới làm nên ơn cứu độ chứ không phải một thế lực nào khác . Cái Chết của đức Giêsu chính là tình yêu liên đới đến cùng với phận người bị thống trị do vũ trụ, sự Phục Sinh của Ngài là việc công bố tình yêu chiến thắng hư vô và làm lộ ra sự sáng ngời của ngã vị.

Từ đó, ta cũng nhận ra tương quan giữa “đời này” và “đời sau” không chỉ nằm trong chiều kích “vật lý”, không thuần túy là chuyện về thời hạn, nơi chốn hay các kiểu mô tả thiên đàng hỏa ngục cách “vật lý”, nhưng còn mang ý nghĩa “nhân bản”, nghĩa là sự thành toàn của đời người gắn liền với đức Giêsu Kitô, Đấng là nguyên ủy nối kết con người với Thiên Chúa, Ngài là hiện thân của “cánh chung mang tính ngã vị”.

Chính vì thế, điều chính yếu trong Kitô giáo không phải là lễ vật dâng lên, dù là đau khổ, hay cái chết, mà là sức mạnh của một Tình Yêu vượt qua mọi đau khổ và cái chết (tử nạn), vượt qua cả không gian và thời gian (phục sinh) để đến với mọi người, đó là tình yêu, đó là “lòng nhân” và là chính đức Giêsu Kitô.

Bằng cách ấy, phụng vụ Kitô giáo cử hành “văn hóa ướm” để cuộc sống con người được đi vào quy luật của tình yêu.

Tạm kết

Sự thành toàn của toàn bộ thực tại sẽ hoàn tất vào “thời điểm” Cánh chung, nhưng chính trong phụng vụ, sự thành toàn ấy vẫn được cử hành như một thực tại đã có mặt, sự thành toàn ấy đang gieo mầm trong từng hoàn cảnh cụ thể của cuộc đời, được trình bày cách biểu tượng trong phụng vụ.

Trong phụng vụ, mối tương quan biện chứng giữa đời này và đời sau, giữa nhu cầu tự nhiên và khát vọng siêu nhiên vẫn không ngừng được cử hành để nuôi dưỡng hành trình đời người cũng như nuôi dưỡng một sự sống đức Tin chân chính.

Có thể không mấy khi chúng ta cảm nhận được rõ ràng ý nghĩa Cánh chung trong phụng vụ. Tuy nhiên, nếu thử tưởng tượng một Giáo hội không có phụng vụ, có lẽ ta sẽ thấy rõ một sự thiếu hụt và lệch lạc của đức Tin.

Nguyễn Trọng Viễn OP.