Phát triển con người toàn diện theo quan điểm Kitô giáo
Bản chất Kitô giáo có thể được diễn tả ngắn gọn là đạo yêu thương. Đức Giáo hoàng Benedicto XVI đã viết ngay đoạn mở đầu thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu như sau:
"Thiên Chúa là tình yêu, và hễ ai ở trong tình yêu thì ở trong Chúa, và Chúa ở trong người ấy"(1 Ga 4:16). Những lời này trích từ thư Thứ Nhất của Thánh Gioan diễn tả rất rõ ràng trọng tâm của đức tin Kitô: hình ảnh Thiên Chúa theo Kitô Giáo, hình ảnh con người và con đường của họ rút ra từ đó. Cũng trong thư này, Thánh Gioan cũng đưa ra một dạng tổng kết về đời sống Kitô Giáo: "Chúng ta đã nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta".
Quả thật đức Tin Kitô giáo chân nhận hình ảnh rõ nét nhất của Thiên Chúa, hình ảnh rõ nét nhất của con người và hành trình của đời sống con người, tất cả đều xoay quanh ý nghĩa của tình yêu. Như thế, để hiểu Kitô giáo và để nhận ra những khía cạnh làm cho con người được phát triển toàn diện thì cũng không có cách nào tốt hơn là tìm lại những nguyên lý căn bản ở cội nguồn của tình yêu nơi Thiên Chúa và diễn giải các đường nét độc đáo của tình yêu ấy trong đời sống con người.
1. Tình yêu trong mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi
1.1 Tình yêu trong cội nguồn
Mầu nhiệm cao cả nhất trong trong Kitô giáo là “Một Thiên Chúa - Ba Ngôi Vị”. Trong mầu nhiệm ấy, có hai yếu tố căn bản : “ngôi vị” và “tương quan”, nhưng cả hai thật ra cũng chỉ là một. “Ngôi vị” là một “cái tôi cao quý”, là phẩm giá bất khả giản lược. Nhưng “Ngôi vị” lại không phải là “cái tôi đơn độc” mà thiết yếu là “tương quan” . Đức Giáo hoàng Benedicto XVI tạm diễn tả mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi như sau :
“Ngôi vị là ngôi vị trong chính hành vi trao hiến, chứ không phải đơn giản là người thực hiện việc trao hiến, nó là “sóng” chứ không phải là “hạt”.
Ta tạm hiểu tương quan không phải là yếu tố thêm vào, nhưng nằm trong chính bản chất, theo một cách thức hơi giống như người Việt đã nói : “sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”. Mối tương quan ấy lại không bao giờ làm lu mờ hay tan biến ngôi vị mà ngược lại càng làm tỏ lộ nét độc đáo của ngôi vị hơn nữa. Ở đây, ngôi vị (personne) không còn đơn thuần là “cá thể” (individu) nữa.… Cha càng tương quan với Con một cách chân chính thì lại càng rõ nét là Cha; và Con cũng vậy…
“Ngôi vị trong tương quan” hay “tương quan mang tính ngôi vị” như thế làm nên nhiều ý nghĩa : đó là mối tương quan “bình đẳng”, vì Ba Ngôi đều bằng nhau; đó là mối tương quan hiệp nhất, vì vẫn luôn là “Một Chúa”; đó là mối tương quan “tôn trọng”, vì mỗi Ngôi vị càng là chính mình hơn trong tương quan; đó là mối tương quan “phong phú”, vì luôn có yếu tố “khác biệt” của mỗi Ngôi vị…
Như thế, trong Kitô giáo, ý nghĩa đích thực của tình yêu phải được hiểu trong mối “tương quan ngôi vị” với vô vàn ý nghĩa phát xuất từ mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Mầu nhiệm Ba Ngôi thật khó hiểu, nhưng sẽ sáng tỏ hơn khi ta nhận ra ánh sáng từ mầu nhiệm ấy nơi vũ trụ, nhất là nơi con người. Mầu nhiệm ấy vừa là cội nguồn, là sinh lực, là mẫu mực, là cùng đích của toàn bộ vũ trụ và con người.
1.2 Phẩm tính (qualité) của tình yêu từ cội nguồn
Truyền thống Do Thái - Kitô giáo, ngay từ đầu, đã nhận ra đời sống tôn giáo mạc khải mang tính cách mối tương quan ngôi vị toàn vẹn, nghĩa ra là một cách sống tôn giáo bao gồm tất cả mọi sự trong đời sống con người. Tính cách toàn vẹn ấy thường tóm tắt qua ba nhân đức : tin – cậy – mến.
1.2.1 Tin là bước vào tương quan ngôi vị toàn vẹn
Tin là chấp nhận đi vào mối tương quan với chính Chúa. Đây là mối tương quan sống động, chứ không phải chỉ là hiểu biết bằng lý trí hay chỉ là tin có Chúa. Tin là gắn bó với chính ngôi vị chứ không phải chỉ là cần tới Chúa vì địa vị của Chúa, tài năng, một chức năng hay một phẩm tính nào của Chúa. Thực sự, Thiên Chúa luôn luôn là đơn nhất, nên tài năng hay phẩm tính hay tên gọi hoặc sự sống... thì cũng là chính Ngài. Thái độ tin như thế là khai mở tương quan ngôi vị và bước vào một cuộc phiêu lưu tình nghĩa chứ không phải một bài toán trao đổi có tính sự vật.
Niềm tin vào chính Chúa xét như tương quan ngôi vị toàn vẹn cần được thể hiện qua hai khía cạnh cụ thể, tin – cậy và tin – mến.
1.2.2 Tin-Cậy là đi trọn đường đời cùng Chúa
Đời sống con người, trong thực tế, có rất nhiều điều bất ngờ, rất nhiều hoàn cảnh khó khăn, nên con người cần có Chúa như người bạn đồng hành và đồng hành suốt cả cuộc đời, đó là sống nhân đức Tin-Cậy. Tin-cậy không phải là dựa dẫm vào Chúa như một “tài khoản ngân hàng”, nhưng là đón nhận chính Chúa đang đồng hành với mình; giống như đứa con nhận được cái bánh của mẹ thì cũng nhận thấy mình được chính mẹ yêu thương chăm sóc. Đó là đức cậy mang tính ngôi vị.
1.2.3 Tin-Mến là dâng trọn bản thân cho Chúa
Con người thường yêu thương nhau vì cái hay cái tốt của nhau. Nhưng khi người mình yêu thương có những điều xấu, hoặc nhan sắc hay tài năng bị mất đi, hoặc tính tình trở nên xấu, hoặc bị rơi vào một hoàn cảnh khó khăn… thì người ta không còn yêu thương nữa. Nhưng con người không ai hoàn hảo, nhân vô thập toàn, nên người nào cũng có một nỗi xao xuyến sâu xa và khao khát được chấp nhận trọn vẹn bản thân. Khi có nhân đức Tin-Mến, người Kitô hữu dâng trọn bản thân cho Chúa và nhận ra mình được chính Chúa chấp nhận bản thân mình, ngay trong tình trạng bất toàn của mình, giống như người cha/mẹ chấp nhận đứa con của mình dù con có sa ngã hư hỏng thế nào đi nữa, để có thể giúp con vươn lên. Đây là đức mến mang tính ngôi vị.
2. Tình yêu nơi con người
Mối tương quan với Chúa cách toàn vẹn như thế vừa là nguồn mạch sức sống vừa là mẫu mực cho mối tương quan giữa con người với nhau… với những giá trị căn bản :
2.1 Linh đạo (spiritualité) sống-với-ai
Tương quan của con người với nhau bắt nguồn từ Chúa và nhờ Chúa để cũng có được mối tương quan ngôi vị trọn vẹn. Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ và con người từ hư vô. Đặc biệt, Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh Thiên Chúa . Cũng như Thiên Chúa là tương quan, thì con người cũng chỉ có thể là mình trong tương quan. Con người, khi sinh ra thì đã “là người”, nhưng chỉ có thể “làm người” khi được sống trong tương quan với ai khác. Nói cách khác, linh đạo căn bản của Kitô giáo là “sống với ai”, chứ không phải chỉ là “sống thế nào”.
2.2 “Sống với ai” cách trọn vẹn
Cấu trúc Tin Cậy Mến với Chúa cho ta hiểu ra rằng “con người toàn thể” phải gồm “ngôi vị - với cả bản thân - và trọn cuộc đời”. Như thế, tương quan lý tưởng giữa con người với nhau cũng có cấu trúc giống như tin-cậy-mến, nghĩa là được thể hiện trong thái độ : tôn trọng ngôi vị - đón nhận cả bản thân – đồng hành trọn cuộc đời.
2.2.1 Tình yêu tôn trọng (chiều kích ngôi vị)
Mỗi con người đều được Thiên Chúa sáng tạo như một ngôi vị, “giống hình ảnh Thiên Chúa”, nên đều mang một giá trị cao quý, một phẩm giá mà chính Thiên Chúa cũng tôn trọng, và mọi người buộc phải tôn trọng, cho dù đó là một tội nhân hay một người “bé mọn”.
“Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan cha Thầy, Đấng ngự trên trời” .
Không ai được phép biến một cá nhân trở nên như một phương tiện để thực hiện một điều gì khác. Chỉ khi có sự tôn trọng, nghĩa là chân nhận ai khác là một hữu thể có lý trí và tự do, thì mới có mối tương quan ngã vị và mối tương quan ấy mới thực sự đưa đến tình yêu.
2.2.2 Tình yêu chấp nhận trọn bản thân (chiều kích đức Mến)
* Con người hồn - xác
Dù trong giai đoạn Trung Cổ, quan niệm đạo đức của người Kitô hữu thường đề cao linh hồn và khinh chê thân xác, nhưng quan niệm chính thức Giáo hội vẫn là tư tưởng của Thánh Tô-ma. Giáo hội vẫn công nhận Thiên Chúa sáng tạo con người có hồn và xác, và mọi công trình của Thiên Chúa đều là tốt đẹp . Vận mạng con người dính dáng tới con người toàn vẹn, nên thân xác, gồm cả giới tính, không phải là vật cản hay là phần xấu xa làm hư hoại con người. Do đó, tình yêu đích thực cũng phải nhằm tới con người toàn vẹn. Mỗi người đều có trách nhiệm chăm sóc cho linh hồn và thân xác của mình, cũng như đi vào tương quan với tha nhân với cả linh hồn và thân xác của tha nhân, như ngạn ngữ La tinh nói : “Một tinh thần lành mạnh trong một thân thể khỏe mạnh” . Giáo hội Công giáo còn thể hiện một sự tôn trọng thân xác tuyệt bậc khi khẳng định đức Giêsu sống lại trong “thân xác”, và tin vào tín điều đức Maria được Thiên Chúa cho “hồn xác lên trời”. Trên nền tảng đức Tin ấy, người Kitô hữu cũng tin rằng sự sống hạnh phúc mai sau của con người cũng có sự tham dự của thân xác .
* Cộng đồng ngôi vị
Một đời sống trong mối tương quan trọn vẹn tạo nên một thứ “cộng đồng ngôi vị”, trong đó các bên “thuộc về nhau”. “Cộng đồng ngôi vị” là khi ta giao ước với nhau bằng “con người toàn thể”, giống như đời sống gia đình, trong đó, ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cái đều chấp nhận con người trọn vẹn của nhau để luôn thuộc về nhau.
“Gia đình, được thiết lập do tình yêu và được sinh động cũng do tình yêu, là một cộng đồng các ngôi vị : đôi bạn là nam và nữ, cha mẹ và con cái, họ hàng” …
Trong khi đó, “cộng đồng chức năng”, giống như một xí nghiệp, là nơi mỗi bên chỉ đóng góp một “sự vật” nào đó (những gì không phải là ngôi vị), và người ta chỉ dừng lại ở mối tương quan phụ thuộc vào nhau mà thôi.
2.2.3 Tình yêu trong dòng lịch sử (Chiều kích đức Cậy)
* Con người hoàn thành đời mình trong lịch sử
Con người được Thiên Chúa “mời gọi” bước ra khỏi hư vô, bắt đầu hiện hữu và đi đến với Chúa trong một tiến trình có tính thời gian, tính lịch sử. Bởi vì con người được sáng tạo có thân xác, nên con người phải thực hiện vận mạng của mình trong thời gian, theo dòng chảy của lịch sử. Thiên Chúa đi vào thời gian để sáng tạo, yêu thương con người và xây dựng mối tương quan với con người theo qui chế hiện hữu của con người. Chương trình của Chúa được thực hiện như một “lịch sử ơn cứu độ”.
* Con người dẫn dắt vũ trụ tới sự thành toàn
Vì con người có thân xác, nên mối tương quan của con người với nhau cần được thể hiện qua trung gian của các sự vật trong vũ trụ. Đối với Kitô giáo, con người được Thiên Chúa trao quyền làm chủ vũ trụ và có trách nhiệm chăm sóc vũ trụ. Vũ trụ vật chất được “đi vào tương quan” khi chúng trở nên phương tiện để phục vụ cho tương quan ngã vị giữa con người với Chúa và con người với nhau. Từ đó, cũng gần giống như thân xác, vũ trụ này cũng được Thiên Chúa đưa vào chương trình cứu độ,
Vũ trụ được Thiên Chúa sáng tạo (có một khởi điểm) và hướng tới cùng đích là sự thành toàn trong ngày Chung Cuộc (có điểm thành toàn). Thời gian không phải là một vòng tròn bất tận, nhưng như một đường thẳng, khởi từ sáng tạo, hướng tới thời điểm mọi sự được viên mãn. Trong tiến trình này, con người cũng được Thiên Chúa trao sứ mạng quy hướng tất cả vũ trụ về với Chúa, trong một thế giới hoàn hảo, viễn mãn, tràn đầy tình yêu.
2.3 Tình yêu cứu độ
Tình yêu của con người luôn có giới hạn và những tình huống bất lực, nhưng con người lại luôn khao khát một tình yêu trọn vẹn, nên con người cần kín múc nguồn tình yêu nơi Thiên Chúa. Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa mang lại chiều kích siêu việt cho cuộc sống con người, giúp con người không bị “chết dí” trong những giới hạn căn bản của phận người. Đối với Kitô giáo, mọi thể hiện tình yêu chân chính của con người đều hàm chứa ý nghĩa lòng trung tín với Chúa và mở ra chân trời cứu độ như cùng đích.
2.3.1 Từ liên lụy đến hiệp thông
Tuy nhiên, vận mạng con người không phải là chuyện hoàn toàn của mỗi cá nhân riêng lẻ. Đời sống con người nói chung là cả một mớ bòng bong những mối liên hệ hỗ tương và tạo nên một sự liên lụy sâu xa với nhau. Điều xấu và điều tốt của một người luôn ảnh hưởng đến người khác. Điều tốt làm nên thế giới trong lành và điều xấu có thể xô đẩy người khác vào vòng tội lụy. Trong thực tế, mỗi người lãnh nhận hoặc bị xô đẩy vào những hoàn cảnh khác nhau, người thuận lợi, kẻ khó khăn; người giầu kẻ nghèo, người được giáo dục tốt, kẻ khác lại sinh ra giữa lòng thế giới tội phạm … Kitô giáo cho rằng mỗi người đều có sự liên đới trách nhiệm sâu xa với tha nhân, nên người giầu phải có trách nhiệm với người nghèo, người giỏi phải có trách nhiệm với người dốt và người đạo đức cũng phải có trách nhiệm với người tội lỗi…; bởi vì tất cả điều tốt lành đều là ân huệ Thiên Chúa ban, và Chúa ban ân huệ cho người này để phục vụ người kia…. Có một sự liên đới trong tội lụy và cũng có một sự hiệp thông trong ân phúc.
Cũng trong chiều hướng ấy, Kitô giáo cho rằng sự phát triển con người không phải chỉ được đánh giá về mức độ hoàn hảo dựa vào một thang điểm luân lý chung, nhưng thiết yếu là hướng tới sự “thành toàn” chung cục ở cuối cuộc đời của mỗi nguời, trong hoàn cảnh riêng biệt của người ấy (yếu tố lịch sử). Có câu chuyện đẹp của một cô công chúa hay một nhà trí thức tài năng; nhưng cũng có câu chuyện đẹp của người nông dân hoặc một người lao công nghèo khổ… Nét đẹp này nằm ở điểm “kết thúc có hậu” nhiều hơn là ở “đẳng cấp luân lý”.
2.3.2 Hạnh phúc cho con người
Cứu cánh của đời người là hạnh phúc. Con người ai cũng khao khát được hạnh phúc, nhưng quan niệm về hạnh phúc của mỗi người lại quá khác nhau. Với Kitô giáo, niềm khao khát hạnh phúc của mỗi người chỉ được thỏa lòng trong tình yêu và cần phải được hòa vào một thế giới hạnh phúc của cả nhân loại. Thế giới ấy sẽ được thực hiện trọn vẹn trong Vương Quốc của Chúa Cha vào ngày Chung Cuộc (Cánh Chung).
Dù cuộc sống hiện tại còn quá nhiều bất toàn, giới hạn, đau khổ, nhưng người Kitô hữu vẫn xác tín vào sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa, vẫn tràn đầy niềm hy vọng, vẫn góp phần gầy dựng tình yêu để chiến thắng thù hận...; và trong cuộc sống trần thế này, con người vẫn có thể nếm cảm được hạnh phúc khi biết ướm kinh nghiệm yêu thương vào ngày thành toàn trong Vương Quốc của Chúa Cha.
2.3.3 Hướng tới Vương Quốc của Chúa Cha
Đối với Kitô giáo, hạnh phúc không phải là một tình trạng thỏa mãn vì hưởng thụ, vì thành đạt…vì bất cứ điều gì, nhưng hạnh phúc thật phải luôn phải quy chiếu vào Vương Quốc của Chúa Cha, nghĩa là được nếm cảm, dù chưa trọn vẹn, sự ngọt ngào của một tình yêu chân thật; và tình yêu chân thật ấy đang góp phần đưa nhân loại đi tới Vương Quốc của Chúa Cha.
Tình yêu hướng tới sự thành toàn viên mãn của toàn bộ vũ trụ. Thế giới chung cuộc này là một sự hoàn hảo mang tính “toàn thể” chứ không phải là “tổng số” hay “tập thể”; nghĩa là trong cái toàn thể, mỗi cá nhân như một ngôi vị phải được thành toàn. Mỗi cá nhân đều có một phẩm giá vô cùng cao quý, nên không ai được khinh dể một con người, và không bao giờ được quyền hy sinh một cá nhân như một “con dê tế thần” để nhằm bất cứ một mục tiêu nào khác …
3. Phát triển con người toàn diện
Từ những nền tảng như trên, ta có thể nhận ra những chiều kích căn bản trong việc phát triển con người toàn diện.
3.1 Tôn trọng phẩm giá
Con người có ngôi vị nên khát vọng sâu xa của con người là khát vọng được tôn trọng. Tôn trọng là thiết lập tha nhân như một chủ thể, có tự do và có “chủ quyền” trên chính bản thân của mình. Chỉ khi có một “không gian” tự do thì mới có thể có được mối tương quan đích thực giữa các ngôi vị và mới có thể nẩy sinh được tình yêu đích thực; bởi vì yêu thương ai mà không tôn trọng phẩm giá căn bản của người ấy thì cũng không khác gì người ta yêu một con thú cưng.
Trong thế giới hiện đại, khi mà mọi sự bị giản lược vào vật chất, vào lợi nhuận, vào hiệu năng,…và mọi thứ đều gần như có thể mua bán được bằng tiền, “cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng rất nhiều tiền”… thì phẩm giá con người dễ bị coi nhẹ hoặc bị giản lược thành sự vật hoặc bị đồng hóa với chức năng. Đánh mất lòng tôn trọng phẩm giá một con người là căn nguyên sâu xa của mọi tội ác kinh sợ nhất.
Phát triển con người toàn diện, trước tiên hết, phải là xây dựng một thế giới mà mọi người được tôn trọng, dù là những người “bé mọn”, tầm thường hay tội lỗi nhất…
3.2 Giáo dục giá trị nhân bản đích thực
Con người được mời gọi để sống yêu thương giống như Tình Yêu của Thiên Chúa và con người được trao quyền dẫn dắt vũ trụ đi vào tình yêu, nhưng trong sứ mạng cao cả ấy, con người vẫn được Thiên Chúa tôn trọng, nghĩa là con người vẫn được và phải thực hiện trong tự do. Kitô giáo không phải là “đạo tại tâm” thuần túy, nhưng chính tâm con người là yếu tố quan trọng để kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa được thực hiện.
Người Kitô hữu tin rằng vũ trụ này được Thiên Chúa sáng tạo và chính Thiên Chúa làm chủ tuyệt đối tất cả thế giới con người và vũ trụ. Tất cả mọi sự trong vũ trụ này đều được Thiên Chúa đặt để một căn tính, trao ban một vận mạng, đó là mọi sự đều hướng tới thế giới yêu thương đại đồng. Con người lãnh lấy sứ mạng thực hiện lý tưởng ấy tựa như người quản gia, và con người chỉ có thể hoàn thành được sứ mạng đó khi biết học hỏi, lắng nghe, nhận biết những giá trị đích thực từ nơi Chúa. Nếu không như thế, chính con người sẽ lại là căn nguyên sâu xa của mọi sự đổ vỡ, mọi tội ác trong xã hội cũng như biết bao tai ương trong vũ trụ.
Một cách nào đó, mọi chương trình phát triển con người toàn diện đều cần phải dính dáng tới “giáo dục” theo nghĩa rộng rãi nhất, nghĩa là trang bị cho tâm hồn của con người những giá trị chân thật. Cần có một nền giáo dục đúng đắn từ trong gia đình, giáo dục đúng đắn trong học đường, và giáo dục trong mọi sinh hoạt văn hóa của toàn xã hội…
3.3 Tương quan mở
Con người chỉ là chính mình trong tương quan chân thật. Tương quan chân thật, trước tiên và một cách cụ thể, là “trách nhiệm xã hội”, hiểu theo nghĩa mỗi người có trách nhiệm trước tiên với chính những người có liên đới cụ thể với mình. Đó là trách nhiệm với gia đình, với làng xóm, với đoàn thể, với đất nước. “Ăn cây nào rào cây ấy”. Đó là điều hợp lý và mang tính “cận nhân tình”.
Tuy nhiên, khi “trách nhiệm xã hội” trở nên hạn hẹp và đóng kín, người ta sẽ rớt vào tình trạng gian dối và bất công. Người ta buôn gian bán lận để lo cho gia đình mình, người ta loại trừ các tập thể khác để vun quen với đoàn thể của mình, và người ta bất công, thậm chí tàn bạo với quốc gia khác chỉ vì lợi ích cho đất nước của mình…
Do đó, tương quan cụ thể ấy cần phải mở ra chiều kích “trách nhiệm với con người”. Tôi lo cho gia đình tôi để hướng tới một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn, tôi chăm chút cho đoàn thể, tôn giáo của tôi để xã hội có được một nền văn hóa hợp tác lành mạnh, tôi lo cho đất nước tôi để hướng tới một thế giới hòa bình và phát triển cho tất cả mọi người….
Con người có thân xác, nên phải bắt đầu từ những tương quan cụ thể chung quanh mình, và không dễ gì có thể lấy một lý tưởng cao xa để thay thế cho mối tương quan cụ thể. Nhưng con người còn được mời gọi để tìm kiếm và sống những giá trị chân thiện mỹ phổ quát, mang lấy ý thức về “trách nhiệm với con người”, trong niềm hy vọng về một thế giới đại đồng sẽ tỏ hiện trong dòng lịch sử… Những chân lý phổ quát đã được Thiên Chúa in sâu trong tâm khảm con người, nhưng chúng có thể bị lu mờ do tội lỗi. Các tôn giáo, nói chung, là lời khẳng định và là lời mời gọi mỗi người bước vào mối tương quan mở.
Kinh nghiệm căn bản của con người bắt đầu từ đời sống gia đình, với mối tương quan ngã vị và trong một cộng đồng ngôi vị. Rồi con người bước ra xã hội với những tương quan tùy phụ, thiết lập những “cộng đồng chức năng”, nhưng nếu diễn tiến ấy là những tương quan mở, thì dần dần người ta sẽ có thể biến thế giới này thành một gia đình lớn trong mối tương quan ngôi vị và hình thành nên cộng đồng ngôi vị rộng lớn hơn và hơn nữa…
Tương quan mở được khởi đi từ những gặp gỡ đời thường, nhưng không dừng lại ở đó mà luôn sẵn sàng để dấn thân sâu hơn, trọn vẹn hơn nữa. Tương quan mở không dừng lại ở tình trạng “đụng trần”, nhưng luôn hướng tới “chân trời”. Đó là sống trong chân trời lý tưởng của Chúa để cuộc sống ngày càng tiến đến Vương Quốc của Chúa Cha.
3.4 “Chỉ số” hạnh phúc
Nhân bản toàn diện bao gồm các yếu tố tôn trọng phẩm giá, giá trị nhân bản chân chính và tương quan mở. Tuy nhiên, với cá nhân mỗi người, điều cuối cùng lại là : chính mình có được hạnh phúc hay không.
Kitô giáo không khinh chê và cũng không đối nghịch với những nỗ lực thăng tiến đời sống vật chất hoặc những giá trị văn hóa thế tục đúng đắn. Sự phát triển kinh tế và đời sống văn hóa chân thật góp phần thăng tiến con người toàn diện nên là điều hợp ý Chúa và cũng là trách nhiệm của người Kitô hữu. Những điều ấy giúp cho đời sống con người bớt khổ đau và được sống tốt hơn (tạm gọi là sung sướng), nhưng chưa hẳn làm cho con người được hạnh phúc. Mọi người đều có kinh nghiệm về một niềm khao khát được hạnh phúc trọn vẹn vượt trên sự sung túc của cuộc sống vật chất hoặc niềm vui đóng khung trong cuộc sống trần thế.
Kitô giáo cần góp phần cho con người được “sung sướng” hơn, nhưng vẫn xác tín rằng hạnh phúc đích thực xuất phát từ việc thỏa lòng trong khát vọng yêu thương, và tình yêu thỏa lòng ấy chỉ tròn đầy trong Vương Quốc của Chúa Cha, trong “thế giới đại đồng”. Khát vọng được sống tròn đầy trong tình yêu giúp cho mỗi người vẫn nếm cảm hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại, ngay trong hoàn cảnh còn đầy cực nhọc, khi ta kinh nghiệm được sự ngọt ngào của tình yêu đích thực.
Như thế, chỉ số hạnh phúc của một xã hội, trong “lượng tính”(quantité) là sự nâng cao điều kiện sống hằng ngày; và trong “phẩm tính” (qualité), chính là ý nghĩa tình yêu đích thực trong tương quan hằng ngày. Chỉ số hạnh phúc của cá nhân cũng vậy, vừa bao gồm lượng tính, nhưng quan trọng hơn vẫn là chỉ số của kinh nghiệm tình yêu đích thực.
Thứ hạnh phúc của tình yêu đích thực trong hiện tại, hạnh phúc trong tương quan mở, sẽ được Thiên Chúa làm cho trọn vẹn trong thế giới mai sau, trong Vương Quốc của Chúa Cha.
Tạm kết
Theo một cách nói cách khác của Kitô giáo, sự phát triển con người toàn diện chính là sống gắn bó với Chúa Giêsu Kitô, bởi vì chính Đức Giêsu Kitô luôn gắn bó với Chúa Cha trong mọi sự (tương quan ngôi vị) và Ngài đã tôn trọng mọi người nhất là những người bé mọn, bởi vì Tin Mừng của đức Giêsu Kitô đã dạy những giá trị nhân bản và siêu nhiên chân thực nhất, bởi vì chính đức Giêsu Kitô đã sống mối tương quan tình yêu trọn vẹn nhất bằng cái chết vì yêu trên thập giá (tình yêu trọn bản thân), và bởi vì chính đức Giêsu Kitô đã Phục sinh để dẫn đưa con người đến với Chúa Cha (tình yêu hết cuộc đời).
Linh mục Nguyễn Trọng Viễn OP.