Phái Tính và Tính Dục dưới cái nhìn triết học
“Vị thế siêu hình” căn bản của con người là linh hồn nhập thể. Con người luôn sống và hoàn thành sứ mạng đời mình trong vị thế căn bản ấy. Nói các khác, con người chỉ là mình và trở nên chình mình một cách trọn vẹn trong hành trình làm người với sự góp phần không thể thiếu của linh hồn và thân xác, thân xác ấy gắn liền với phái tính. - Một cách chung, ta thấy con người sống trong thân xác, nên đặc biệt cần tới vũ trụ xung quanh; và con người có phái tính nên đặc biệt cần tới tha nhân. Đó là xã hội tính trong bản chất người. - Mặt khác, con người có linh hồn nên tính xã hội của con người không mang tính chất bầy đoàn. Nhưng mối tương quan xã hội của con người, một cách căn bản, luôn được thể hiện ở đẳng cấp của tự do, mang phẩm tính luân lý.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
1. Vị thế siêu hình căn bản của con người
“Vị thế siêu hình” căn bản của con người là linh hồn nhập thể. Con người luôn sống và hoàn thành sứ mạng đời mình trong vị thế căn bản ấy. Nói các khác, con người chỉ là mình và trở nên chình mình một cách trọn vẹn trong hành trình làm người với sự góp phần không thể thiếu của linh hồn và thân xác, thân xác ấy gắn liền với phái tính.
- Một cách chung, ta thấy con người sống trong thân xác, nên đặc biệt cần tới vũ trụ xung quanh; và con người có phái tính nên đặc biệt cần tới tha nhân. Đó là xã hội tính trong bản chất người.
- Mặt khác, con người có linh hồn nên tính xã hội của con người không mang tính chất bầy đoàn. Nhưng mối tương quan xã hội của con người, một cách căn bản, luôn được thể hiện ở đẳng cấp của tự do, mang phẩm tính luân lý.
2. Những thách đố căn bản của phận người
Chính vì tính xã hội của con người chỉ chân chính trong đẳng cấp của tự do và mang phẩm tính luân lý nên tính xã hội ấy luôn là một thách đố.
Con người là linh hồn sống trong thân xác và trong phái tính. Trong tình trạng ấy, thân phận con người luôn có nhiều nguy cơ : hoặc bỏ quên thân xác và phái tính để trở thành thuần thiêng một cách lệch lạc; hoặc bỏ quên linh hồn để sống như một con vật, hoặc bộc lộ phái tính như một xung lực hoàn toàn sinh lý, hoặc khinh miệt tính dục để rơi vào tình trạng dồn nén một cách bệnh hoạn...
2.1 Thái độ khinh chê thân xác và phái tính
Trong các tôn giáo và văn hóa ta thường gặp thấy thái độ khinh chê thân xác và phái tính. Ở Hy Lạp thời Thượng cổ chẳng hạn, ta có thể thấy điều đó trong truyền thống tôn giáo Orphisme, hoặc thuyết Pythagore, học thuyết Platon. Ở Ba Tư, vào thế kỷ III, có học thuyết của Manès. Vào thế kỷ XII-XIII ở Châu Âu, xuất hiện phái Cathares như một sự hồi sinh của thuyết Manès. Tất cả những ảnh hưởng đó vẫn để lại ấn dấu sâu đậm của nó trong nền văn minh Tây Phương, cho dù là một Tây Phương chìm ngập trong văn hóa Kitô giáo.
2.2 Sự phản kháng của thân xác và phái tính
Khi có một sự việc bất thường nào đó xẩy ra cho thân xác mình, thì người ta mới nhận thức rõ ràng về nó hơn; mới cảm nhận được rằng tình trạng của thân xác có thể ảnh hưởng sâu xa và bén nhạy đến chính phẩm cách làm người của mình. Chẳng hạn khi đói, khi bệnh tật, đau đớn, nhất là khi mang tật hay bị mất một phần thân thể... thì bao nhiêu ước mơ cao đẹp của lý tưởng đều có thể vỡ tan. Những khi đó, con người lại nhận ra sự cần thiết của một thân xác lành mạnh.
Cũng thế, một khi tính dục không được công nhận, bị vùi dập, bị khinh chê, thì người ta sẽ phản kháng lại bằng con đường “giải phóng tình dục”. Từ giữa thế kỷ XX, tại những nước tiên tiến, người ta cổ võ một trào lưu “giải phóng tình dục”; nhưng thật ra, đó chính là thái độ “sự vật hóa tình dục”. Tính dục không còn là sự biểu lộ của bản thân, nhưng chỉ được coi như một sự vật tách rời với phẩm giá. Người ta ăn nằm với nhau cũng không khác gì người ta mời nhau một ly cà phê...
2.3 Giải pháp “xã hội” cho thách đố của phái tính
2.3.1 Tinh thần Khiết tịnh
Khiết tịnh không phải là một thái độ luân lý khinh chê tính dục, nhưng chính yếu là một thái độ tôn trọng ngôi vị con người để giữ cho tính dục con người khỏi rơi vào cấp độ sinh lý của con vật. Tôn trọng tính dục, vì tính dục của con người không phải chỉ là chuyện sinh lý, nhưng là hành động của ngôi vị con người. Giống như cám dỗ của tiền bạc dễ làm cho ngưởi ta quên tình nghĩa, sự hưng phấn và khoái lạc trong hành vi tính dục cũng dễ làm cho con người quên mất phẩm giá con người.
Tôn trọng là yếu tố căn bản để thiết lập con người như một chủ thể. Tôn trọng bản thân và tôn trọng tha nhân, đặc biệt trong hành vi tính dục, chính là cách thức để giữ vững đẳng cấp người. Sự tôn trọng ấy chính là ý nghĩa của đức khiết tịnh.
2.3.2 Giao ước hôn nhân
Mặt khác, vì tính dục chính là hành vi của ngôi vị con người, nên tính dục bao gồm hai khía cạnh “hiện sinh” của con người, đó là khía cạnh “bản thân” (thân) và khía cạnh “cuộc đời” (phận). Do đó, tính dục chỉ chân chính khi hai bên chấp nhận “trao thân và gửi phận” cho nhau. Do đó, hành vi tính dục chỉ được trọn vẹn ý nghĩa trong giao ước hôn nhân mà thôi.
3. Biện chứng dấu-mở trong tính dục con người
Trong đời sống con người, có một vấn đề xuyên suốt, đó là vấn đề cái chung và cái riêng; hoặc nói cách khác, đó là tính phổ quát và tính độc đáo... Con người vừa khao khát được là chính mình một cách riêng tư và độc đáo; lại vừa khao khát được hiệp nhất với tha nhân trong một ước mơ “tứ hải giai huynh đệ”.
Điều đó được bộc lộ trong một thứ biện chứng dấu mở, vừa dấu lại vừa mở, dấu với người này và mở với người kia, dấu trong trường hợp này và mở trong trường hợp kia. Người ta có thể thấy hiện tượng dấu mở trong rất nhiều vấn đề của cuộc sống con người, nhưng đặc biệt nhất là trong những gì liên quan đến tính dục : quần áo, cơ quan sinh dục, thái độ e thẹn, hành vi giao hợp.
Một phân tích hiện tượng luận về tính dục dấu mở nơi con người cho thấy rõ một phẩm tính cần thiết trong tương giao : sự thân mật. Tương giao thân mật vừa bảo đảm được cái riêng tư của ngôi vị, vừa bộc lộ khát vọng hiệp nhất với ai khác của ngôi vị con người.
4. Những ý nghĩa đích thực của phái tính và tính dục
Phái tính chẳng những có đó, nhưng còn ảnh hưởng trên toàn bộ cuộc sống của mỗi con người. Mỗi người đều mang phái tính (hiện tượng pê-đê chỉ là một thứ trục trặc, một căn bệnh của con người chứ không phải là một loại phái tính riêng) và sống với phái tính đó; không thể tách rời, coi thường hay loại bỏ phái tính đi được.
Phái tính nằm trong cơ cấu tâm sinh lý của con người chứ không phải chỉ như cái tay, chân hay mắt mũi. Không thể "đụng chạm" tới các cơ quan thuộc phái tính một cách nào đó mà không ảnh hưởng trên chính cơ-cấu-tâm-sinh-lý (hoạn quan, ngừa thai theo phương pháp không tự nhiên...).
Như vậy, phái tính gắn liền với dự định căn bản của mỗi người, liên hệ mật thiết tới vận mệnh của mỗi người, vì người ta sống, làm việc, ước mơ, khao khát lý tưởng... luôn là sống, làm việc, ước mơ... cùng với phái tính riêng của mình. Như thế, con người cũng chỉ có thể trưởng thành thực sự khi trưởng thành về phái tính. Những biểu hiện của bệnh hoạn về phái tính như đồng tính luyến ái, yêu súc vật quá đáng, khinh ghét người khác phái, đều là biểu hiện của một sự lệnh lạc hay thiếu trưởng thành của con người; những điều đó làm cho dự định căn bản của con người, tức tình yêu đích thực, không thể phát triển một cách quân bình và đúng đắn được. Mỗi cá nhân đều phải sống trung thành với phái tính của mình, phải phát triển và trưởng thành bản thân mình cùng với phái tính đích thực của mình. Ở tầm mức cá nhân cũng như toàn thể xã hội loài người cũng vậy.
4.1 Phái tính như dấu chỉ sự khác biệt và giới hạn
Thân xác và phái tính vừa là một cách thức để con người hiện diện trên trần gian, tương quan với người khác và với vũ trụ, vừa đồng thời là một giới hạn gắn liền với thân phận con người của mỗi người. Có thân xác, tôi không thể đồng thời hiện diện ở nhiều nơi, đồng thời làm nhiều việc khác nhau (thân này ví xẻ làm đôi). Điều đó càng rõ rệt hơn khi nhìn vào phái tính.
Mỗi người chỉ có thể thuộc về một phần của nhân loại (nam hay nữ). Qua phái tính, con người nhìn nhận tính cách khác biệt và giới hạn của mình. Mỗi phái tính không thể là toàn bộ loài người; mỗi con người, nam hay nữ, cũng phải từ bỏ ảo tưởng mình có thể là tất cả. Một cách tự nhiên, phần nhân loại này cần tới nửa phần nhân loại kia; cả hai đều được mời gọi để cộng tác vào dự án chung của nhân loại cũng như để hoàn thành vận mạng cá nhân của mình.
Đó cũng là một dấu chứng hiển nhiên để người từ bỏ thái độ tự coi mình là tất cả, hoặc phái tính của mình là ưu việt. Thái độ này có thể bộc lộ trong nhiều hình thức, chẳng hạn : xã hội trọng nam khinh nữ; chủ trương đề cao đức tính một phái tính; thái độ ảo tưởng về cái tôi độc tôn...
4.2 Tính dục, dấu chỉ của nhu cầu tương quan ngã vị
Nếu như nơi con vật, mỗi cá thể chỉ là một mẫu vật của nòi giống, và hành vi tính dục chỉ nhằm mục đích bảo vệ nòi giống, thì nơi con người, hành vi tính dục thuộc về đẳng cấp của tự do và mang tính luân lý, nên mỗi người là một ngôi vị độc đáo, và khi thực hiện hành vi tính dục, thì đó cũng là cách thức thể hiện ngôi vị của mình.
Cũng như thân xác là một thứ chất thể làm nên nguyên lý cá biệt hóa, phái tính nơi mỗi người cũng đồng thời làm cho mỗi người là mình, trở nên chính mình, thành toàn trong nét cá biệt độc đáo của chính mình. Điều đó cho thấy hành vi tính dục nơi con người không phải chỉ nhằm bảo vệ giống nòi, mà còn là hành vi của tương giao ngã vị, hành vi được gọi là tình yêu.
Phái tính và tính dục cho thấy dáng dấp khát vọng của con người, khát vọng vừa được là mình, vừa được hiệp nhất với ai khác. Đó là một sự hiệp nhất trong khác biệt, đó là một tình yêu dâng tặng bản thân và làm nên nét cao quý của ngôi vị trong tình yêu chứ không phải là thứ thí mạng cùi mỗi cá thể để bảo vệ sự trường tồn của nòi giống như nơi con vật.
4.3 Tính dục, dấu chỉ của sự phong phú trong tình yêu
Mặc dù tính dục nơi con người thiết yếu là cách diễn tả tình yêu, nhưng hành vi tính dục tự bản chất gắn liền với việc sinh sản. Bản chất khách quan của hành vi tính dục ấy cho thấy một ý nghĩa không thể thiếu trong tình yêu, đó là tính phong phú.
Tính dục bao hàm ý hướng rộng mở cho tiến trình hình thành những đứa con (dù có thành công hay không). Ý hướng ấy diễn tả, xác nhận phẩm tính tinh thần căn bản của tình yêu; đó là thứ tình yêu rộng mở, phong phú, sáng tạo... và có trách nhiệm với xã hội chứ không phải chỉ là thứ “tình yêu” khô héo, lụi tàn.
4.4 Tính dục, dấu chỉ của khát vọng thuộc về
Khái niệm “thuộc về” diễn tả tình trạng tương giao của con người toàn diện; hoặc nói cách khác, đó là tình trạng người này và người kia đón nhận và trao phó chính ngôi vị của mình cho nhau.
Tính dục, trong sự cởi mở phần thân thể riêng tư và dấu kín nhất cho nhau, xóa đi sự e lệ bằng phương cách thân mật, “dành riêng”, cộng tác để sinh sản, đó chính là “hiện tượng” diễn tả “ý nghĩa” thuộc trọn về nhau.
Một ngôi vị, trong tính hiện sinh, bao gồm bản thân và cuộc đời. Do đó, trong tính tự nhiên, chỉ có gia đình mới thực sự rõ ràng là một “cộng đồng ngôi vị”; nơi đó, mỗi người đón nhận và trao phó trọn vẹn của cái tôi của mình cho nhau. Đó là thứ tình yêu “đỡ từ chân”, một tình yêu tặng không chứ không phải thái độ so đo đổi chác; lọc lựa và đặt điều kiện.
4.5 Dấu chỉ của khát vọng trường tồn và khả năng ra khỏi chính mình
Hành vi sinh sản của con vật là một cách thức để bảo vệ sự trường tồn nòi giống. Nơi nhiều con vật, sự sống chỉ có một mục tiêu là sinh sản rồi chết. Khi đó, “khát vọng” trường tồn của cái chung, của nòi giống, mâu thuẫn một cách bi đát với sự sống của cá thể.
Nơi con người, ta cũng thấy một tiến trình giông giống như vậy. Tuy nhiên, trong chiều sâu, hành vi tính dục người là một hành vi luân lý, đó là thái độ tự do chọn lựa phương cách để bộc lộ và hoàn thành cái tôi của mình. Do đó, hành vi tính dục diễn tả một tình yêu tự nguyện, có khả năng thành toàn vận mệnh của mình trên bình diện luân lý, bằng phương thức lựa chọn hy sinh cả bản thân và cuộc đời mình cho con cái. Trong ý nghĩa ấy, ta mới hiểu được hình ảnh phụ tử và mẫu tử thực sự trở nên hình tượng hết sức cao quý. Làm cha và làm mẹ, nghĩa là bắt đầu một tiến trình chuyển đổi cao đẹp từ “khát vọng làm hoa” trở nên “sứ mạng làm hạt”.
5. Tính dục và ơn gọi “độc thân tự nguyện”
5.1 Những con người kém may mắn
Thân xác, phái tính và tính dục là những gì gắn liền với thân phận con người, nhưng ta cũng thấy biết bao nhiêu người xung quanh ta và trong mọi xã hội, trong mọi thời kỳ của lịch sử, vẫn có những người ra như không thể hoàn thành cuộc đời mình chỉ vì thân xác khiếm khuyết, chỉ vì không có khả năng hoặc điều kiện để thực hiện nhu cầu tính dục, hoặc chỉ vì một sự lệch lạc phái tính (đồng tính). Phải chăng những người “bị yêm hoạn” bắt buộc như thế không có cách nào để hoàn thành vận mạng làm người ?
5.2 Tình yêu như hướng mở cho mọi người
Phái tính và tính dục nơi con người, theo quan điểm triết học, không thể trọn vẹn ý nghĩa trong bình diện sinh lý, nhưng là dấu chỉ diễn tả những ý nghĩa khác với chính dấu chỉ, đó là tình yêu.
Tình yêu không phải chỉ có nơi những câu chuyện lãng mạn, không phải chỉ những con người nhân cách cao quý mới có thể thực hiện được. Tình yêu cũng không phải chỉ là chuyện bên lề vận mạng làm người.
Tình yêu đích thực đặt móng nền vững chắc trên “vị thế siêu hình” căn bản. “Vị thế siêu hình” tức là yếu tố chung của mọi người, yếu tố mở ra cho tất cả mọi người khả năng thực hiện phẩm giá, nhân quyền của mình. Chí có tình yêu mới thật sự hoàn thành được vận mạng cao quý của con người trên nền tảng ấy.
5.3 “Độc thân tự nguyện”
“Tính dục” là hành vi của “phái tính”, và phái tính là một khía cạnh của “thân xác” con người. Như đã nói, ý nghĩa đầu tiên của thân xác - phái tính chính là sự khác biệt và giới hạn. Sự khác biệt và giới hạn ấy, bình thường được bộc lộ và được giải quyết trong “tính dục hôn nhân” nhưng không phải chỉ có thể được thực hiện trong tính dục mà thôi.
Có thân xác và phái tính, con người sống trong sự khác biệt và giới hạn. Đó là thân phận “nghèo”. Chính ý nghĩa “nghèo” mới thực sự là căn bản để con người đi đến tình yêu, một thứ tình yêu có dáng dấp của phái tính, nhưng không phải chỉ là tình yêu tính dục. Tình yêu là “khẩn cầu”, là trao tặng, là tri ân.
Những người độc thân tự nguyện (độc thân trong đời sống thánh hiến hoặc độc thân vì một lý tưởng phục vụ) không phải vì khinh chê tính dục, nhưng làm chứng về một nẻo đường cho mọi người, không phải nẻo đường của những người ưu tuyển, nẻo đường chân nhận thân phận nghèo để khẩn cầu tình yêu.
Nguyễn Trọng Viễn O.P.