Thánh Thể như “Linh đạo Hiện diện” trong Thế giới Hôm nay

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Chiều kích “hiện diện” luôn có mặt trong đạo lý và những suy tư về Thánh Thể. Đối diện với những khủng hoảng trong thế giới hôm nay, chúng ta có thể nhận ra tầm quan trọng của “linh đạo hiện diện” trong Thánh Thể và nhận ra việc cổ võ “linh đạo hiện diện” đang trở nên một lời mời gọi khẩn thiết để tái cấu trúc sự sống của con người.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Chiều kích “hiện diện” luôn có mặt trong đạo lý và những suy tư về Thánh Thể. Đối diện với những khủng hoảng trong thế giới hôm nay, chúng ta có thể nhận ra tầm quan trọng của “linh đạo hiện diện” trong Thánh Thể và nhận ra việc cổ võ “linh đạo hiện diện” đang trở nên một lời mời gọi khẩn thiết để tái cấu trúc sự sống của con người.

“Đời sống của chúng ta phải mang lấy “chiều kích Thánh Thể” một cách toàn diện, nghĩa là phải dấn thân biến đổi thế giới cùng với lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20)”

Tuy nhiên, để nhận ra tầm quan trọng của sứ mệnh ấy, chúng ta cần phải trở lại với cấu trúc Kitô giáo và khám phá lại tầm quan trọng của khả năng “đọc dấu chỉ” của sự sống đức Tin.

1. Nhìn lại cấu trúc Kitô giáo

1.1 Cấu trúc toàn diện : bên trên, bên trong và bên ngoài

* Bên ngoài : Thế giới bên ngoài là sự vật, là biến cố và sự kiện, là lịch sử diễn tiến, là thế giới khách quan. Ta gọi chung những điều đó là thực tại. Trong thế giới Tây phương, người Hy Lạp chưa biết đến thế giới bên trong. Nếu như Socrate nói “hãy biết mình”, thì “cái tôi” của Socrate thật ra cũng chỉ là một cái tôi “ở ngôi thứ ba”, cái tôi được đặt thành một đối tượng khách quan để quan sát và phân tích như thể từ bên ngoài.

* Bên trong : Trong khi đó, chính truyền thống Do Thái Kitô giáo mới đóng góp cho thế giới Tây phương một thế giới bên trong đích thực. Các Ngôn sứ Cựu ước, chẳng hạn Isaia kêu gọi vua và tư tế cần phải sống đức Tin bằng chính tấm lòng của mình, bằng một sự hoán cải từ bên trong... Đức Giêsu nối tiếp truyền thống các ngôn sứ để rao giảng về sự sám hối từ bên trong; và thánh Phaolô đã nhiều lần nêu lên và mô tả một cách phong phú những đề tài về lương tâm...

Đặc biệt nhất, thánh Âu Tinh đã đưa đường nét nội tâm ấy vào lịch sử triết học Tây Phương, trong tác phẩm Tự Thuật (Bên Á Châu, người ta đã thấy đường nét bên trong đã rất mạnh, chẳng hạn có trường phái Phật Giáo chủ trương vạn sự do tâm). Rồi với Descartes, thế giới bên trong được xác định một cách rõ ràng và trở thành một yếu tố không bao giờ được bỏ quên trong suy tư triết học ở Tây phương.

Thế giới bên trong ở đây không phải chỉ là “cái tôi ở ngôi thứ ba” được đặt đàng trước một lý trí như một sự kiện thuần tuý khách quan, như trong triết học Hy Lạp, nhưng là một sự sống phong phú của tự do, của khả năng “sáng tạo” giá trị vô tận, của cảm nhận ý nghĩa cách “riêng tư”...

* Bên trên : trong mạc khải Sách Thánh con người được quyền “đặt tên” cho muôn vật và khai mở thế giới phong phú có “vô cùng ý nghĩa”, nhưng lại không bao giờ được bẻ quặt thực tại ngược với ý định của Chúa đã đặt để, đã hàm chứa trong thực tại. Một sự kiện có thể có vô cùng ý nghĩa, nhưng không phải là bất cứ ý nghĩa ngược ngạo nào cũng chân thật. Con người được quyền “đặt tên” cho muôn vật theo sự tự do của mình, nhưng không phải con người muốn sao thì ra vậy, vì chính Chúa mới là cội nguồn của chân lý.

1.2 Tương quan và giá trị giữa ba thế giới

Theo truyền thống Do Thái Kitô giáo, người tín hữu luôn phải nhớ còn có thế giới “bên trên” tức là quyền của Chúa. Chính Chúa đã ngầm đặt những giá trị khách quan nơi thực tại và Thiên Chúa trao cho con người quyền cũng như trách nhiệm để làm lộ ra những ý nghĩa chân thực của thực tại.

Do Thái Kitô giáo không lạc vào chủ nghĩa duy tâm theo đó con người hoàn toàn có quyền gán nghĩa chủ quan của mình cho thực tại; và cũng không rớt vào thứ chủ nghĩa duy vật, chỉ thấy và chỉ chấp nhận những “thực tại thô”, hoàn toàn theo quy luật tương tác thực nghiệm của sự vật.

Khi thế giới bên trong không được phát triển đúng đắn và phong phú, người ta có thể rơi vào tình trạng đánh giá sự vật theo qui luật “thực dụng” của sự vật; người ta chỉ có “lý trí khoa học”, chỉ thấy giá trị của sự vật theo khía cạnh “sung sướng”. Đó là khuynh hướng duy nhiên hoặc duy vật, vì mặc dù nhận thức luận Mác xít vẫn cho rằng tinh thần phản ảnh thế giới khách quan và khám phá ra bản chất… nhưng quy chuẩn cuối cùng của bản chất vẫn chỉ là vật chất. Khuynh hướng này khó lòng tìm thấy được chân lý nhân văn vững bền...

Ngược lại, có khi thế giới bên trong uốn nắn cách khiên cưỡng chân lý của thực tại, tạo ra những ý nghĩa giả tạo (giống thái độ AQ trong AQ Chính Truyện của nhà văn Lỗ Tấn) hoặc ý nghĩa ngược ngạo khi đưa ra những ý nghĩa trái ngược với nền tảng nhân văn hoặc siêu nhiên mà Thiên Chúa đã đặt để trong thực tại (Chẳng hạn chủ trương giết bớt người “hèn kém” nhằm để làm trong sạch xã hội con người như Hitler)

Có thể gọi điều hàm chứa trong thực tại khách quan là “chân lý”; còn ý nghĩa, giá trị được cảm nhận của thế giới tinh thần bên trong con người là “chân thực”. “Cái lý” là cấu trúc khách quan bên ngoài, còn “cái lẽ” là ý nghĩa bên trong mang tính cá nhân chủ quan. Chân lý thì có một nhưng chân thực thì lại vô cùng phong phú. Hai khía cạnh ấy không mâu thuẫn hoặc loại trừ nhau, nhưng tương tác và bổ túc cho nhau.

Một thái độ đúng đắn chính là biết lắng nghe, trân trọng những cảm nhận chân thực khác nhau để làm phong phú nhiệm cục sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa cũng như làm phong phú bản thân mình; miễn là những điều đó không không ngược với chân lý. Con đường tìm chân lý không nhất thiết đưa đến thứ cãi vã của những kẻ giáo điều.

Chúng ta thấy một ví dụ rõ ràng là: sự kiện đức Giêsu chỉ có một, nhưng lại được cảm nhận khác nhau qua kinh nghiệm đức Tin chân thật của ít là bốn thánh ký trong bốn Tin Mừng khác nhau. Tuy nhiên, cả bốn thánh ký đều là “hoa trái” của một Thánh Thần duy nhất.

Nói chung, vào thời Trung Cổ, truyền thống Kitô giáo đã xác định được “ba cuốn sách” mà con người phải đọc, cuốn sách của Chúa, cuốn sách của tư tưởng con người và cuốn sách của vũ trụ. Cuốn sách của Chúa là bản thiết kế, cuốn sách bên trong là chìa khóa, còn cuốn sách bên ngoài là cánh cửa.

1.3 Tầm quan trọng của thực tại và tính lịch sử

Lập trường căn bản của Giáo hội không phải là chủ trương duy linh (bên trên), không phải duy tâm (bên trong), và cũng không phải là duy nhiên (bên ngoài) nhưng là “duy thực”, nghĩa là tôn trọng và xây dựng một thực tại toàn vẹn. Nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa không phải chỉ nhằm cứu vớt cá nhân, nhưng nhằm tới cái toàn thể, bằng cách phát triển cá thể. “Toàn thể” thì khác với “tổng số”. Tổng số có được là do cộng các thành phần như các đơn vị; còn toàn thể thì bao hàm nét duyên, nét thần, nét dáng của một cấu trúc, trong đó mỗi cá thể vừa là mình, vừa hài hòa với toàn thể.

Nhiệm cục cứu độ nhằm hoàn thành thực tại toàn vẹn (bên ngoài), nên hàm chứa nét căn bản là tính lịch sử. Thái độ của niềm tin phải được thể hiện trong chính chiều kích lịch sử của cuộc đời. Do Thái Kitô giáo là tôn giáo mặc khải, nghĩa là đón nhận giáo lý từ trời cao, nhưng lại được thể hiện trong cuộc sống đời thường, làm nên một thứ hoa trái riêng biệt là “lịch sử ơn cứu độ”.

Sách thánh mặc khải cho chúng ta một thứ tôn giáo của tương quan hiện sinh; không phải là một sự hoà đồng trong bản tính, đưa đến một sự hoà tan vào nhau. Tương quan hiện sinh chân chính không do ngất trí, không do xuất thần, không do sự bộc phát của tình cảm, nhưng được hình thành do quá trình lịch sử, được đan bện do những sự kiện cụ thể. Kitô giáo và đạo Sách thánh nói chung là đạo của những sự kiện, những sự kiện cụ thể đan bện lại thành nên một bề dày nghĩa tình. Do đó, thái độ căn bản của người Dân, không phải chỉ là một lòng đạo đức tự nó là tốt, cũng không phải là một tư cách hay một trình độ tôn giáo cao vời, mà là lòng trung tín với các giải pháp của Chúa trong dòng lịch sử, để hướng tới việc đón nhận Đấng Mêsia và cùng với Ngài để đưa toàn bộ vũ trụ đến thành toàn trong ngày Quang Lâm. Sống niềm tin là cả một cuộc phiêu lưu, cả về mặt chính trị và xã hội chứ không phải chỉ là một thái độ đạo đức cá nhân. Nói một cách khái quát, sống đức Tin là sống cuộc đời mình như một lịch sử ơn cứu độ; trong đó, bản thân của mỗi người tín hữu được trao ban cho Chúa trong một quá trình lịch sử, và cũng đón nhận được chính bản thân Chúa trong một quá trình lịch sử. Thực sự con người chỉ là chính mình trong dòng lịch sử, và Chúa tỏ lộ trong nhiệm cục cứu độ cũng là một Thiên Chúa của lịch sử. Như thế, tương quan ngã vị, như là nét đặc trưng của Sách Thánh, không thể thành hình trên một sự ngẫu hứng hay một thứ “cú sét ái tình” mà là một hành trình thực sự, đặt nền trên những sự kiện thực của đời sống con người.

Đáng tiếc là chiều kích lịch sử ấy ít nhiều bị quên lãng. Trong một thời gian khá dài, người kitô hữu đến với Chúa theo một thứ tu đức học dựa theo cấp độ siêu thoát. Cho đến Vatican II, Giáo hội mới tìm lại được chiều kích lịch sử, tìm lại một nền thần học lịch sử; và cũng từ đó, dần dần Giáo hội tìm lại được phẩm chất đức tin như một tương quan hiện sinh. Cuộc trở về này làm sáng lên hai khía cạnh quan trọng, một là khía cạnh tín lý, trong đó, ý nghĩa Cánh chung trở thành trọng tâm của mọi nền thần học.

Đức Cậy không còn chỉ được hiểu là đời sau được vào hưởng nước Thiên đàng, nhưng còn là sống gắn bó với Chúa trong hành trình lịch sử đời mình. Chiều kích đức Cậy làm cho đời sống đức Tin, nói chung, đặt chân xuống đất, đặt nền tảng của tất cả đời sống đức Tin trên dòng đời trôi nổi của sự sống thật, lộ diện những con người thật và cũng lộ diện một Thiên Chúa đến với con người trong tương quan ngã vị sống động; lộ diện một đời sống tâm linh có phẩm chất của một thứ “trọng lượng hữu thể” trên những sự kiện và diễn tiến của một “nhiệm cục cứu độ”.

1.4 Phương pháp đọc dấu chỉ

Trong chiều hướng đức tin có tính lịch sử như thế, chúng ta cũng hiểu được đức Tin Kitô giáo nhằm tới một mục tiêu chính yếu là khám phá thánh ý của Chúa trong hành trình cuộc đời, qua những thách đố, những sự kiện, những vấn đề của đời sống thường ngày. Một cách nào đó, ta có thể nói lối sống của đức Tin chính là “đọc dấu chỉ”. Đó là lối sống lần mò trong đêm tối của trần gian, nhưng được ánh sáng của Chúa như ánh chớp lập loè soi lối. Vinh quang của Chúa không thường trực và sáng ngời nhưng chỉ là “dấu chỉ” lấp lánh trên hành trình trần gian. Thái độ của đức Tin khác với, hay đúng hơn là ngược với lối nắm bắt một sự hiểu biết vững bền như một nguyên tắc hay như một khái niệm trừu tượng có khả năng toát lược toàn bộ những sự việc đơn lẻ. Thái độ của đức Tin chính là khả năng đọc dấu chỉ nơi sự kiện đơn lẻ và tìm thấy ánh sáng lập loè của Chúa trên hành trình của đêm tối.

Dấu chỉ là một từ ngữ quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ và trong đời sống Giáo hội, đặc biệt từ Công đồng Vatican II. Khả năng đọc dấu chỉ chính là một biểu lộ chân thực của sức sống đức Tin. Tuy nhiên, việc đọc dấu chỉ luôn phải thể hiện một tiêu chuẩn căn bản, đó là đọc mọi dấu chỉ dưới ánh sáng của dấu chỉ chính hiệu là “dấu chỉ Giôna”, dấu chỉ đức Giêsu trong cuộc Tử nạn và Phục Sinh.

Tất cả Kinh Thánh chỉ được hiểu cách đúng đắn khi hướng tới Đấng Mêsia. Cũng vậy, mọi bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, không là gì khác hơn “ướm” mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của đức Giêsu Kitô vào những thực tại khác nhau trên hành trình đức Tin. Chính khi ướm mọi biến cố, mọi sự việc vào cuộc Tử nạn và Phục Sinh của đức Giêsu mà người tín hữu có thể đọc ra được ý nghĩa dấu chỉ chân chính nơi những biến cố và mọi sự việc trần gian.

2. Thách đố của phẩm giá người trong thế giới hiện đại

2.1 Phẩm giá lao đao

Có thể ví thế giới hiện đại như một tòa nhà cao tầng, nhưng lại được xây dựng bằng những viên gạch lỗi. Thế giới hiện đại có một bộ mặt hết sức hoành tráng, nhưng lại gồm chứa quá nhiều khủng hoảng ngấm ngầm : xã hội mất căn tính, đảo ngược nếp sống an cư – lạc nghiệp, văn hóa loại trừ…

Trong tất cả những triệu chứng ấy chúng ta có thể khám phá trung tâm của khủng hoảng chính là nơi phẩm giá người.

Căn bệnh lớn nhất của nhân loại, của Giáo hội và của Giáo hội Việt Nam chính là chủ nghĩa ưu tuyển. Con người với nhau, từ thời xa xưa hay trong thế giới hiên nay, không thể nào thoát được ám ảnh so sánh hơn thua, thực hiện khát vọng khẳng định mình bằng đường lối so sánh và tìm ý nghĩa của đời mình bằng một bằng sự vượt trội của một thứ quyền lực nào đó.

Thế giới hiện đại đang diễn ra như một cuộc chạy đua. Người ta đã từng nói sự tiến bộ của một năm trong thế kỷ XX bằng mười năm trong những thế kỷ trước. Đến thế kỷ XXI của chúng ta, sự tiến bộ lại càng nhanh hơn và nhanh hơn nữa… Văn hoá nhanh thúc bách con người phải chạy và không ai có thể dừng lại hoặc phản kháng mà không bị bầm dập te tua. Người ta luôn phải thăng tiến và luôn phải bảo vệ vị thế của mình; người ta chẳng thể yên ổn với cuộc sống hiện tại vì bao mối đe doạ hiển hiện trên từng lãnh vực: không tiến tức là lùi, không tiến bộ sẽ bị kẻ khác qua mặt và loại bỏ, không tiến bộ sẽ có nguy cơ mất hết cả những gì mình đã đạt được…. Trẻ con cũng chạy đua, người lớn cũng chạy đua, người người cùng chạy đua… Ngày nay, không còn chuyện “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”. Người ta có nhiều cơ hội để đổi đời, nhưng khát vọng đổi đời cũng xô đẩy biết bao người vào vòng xoáy nghiệt ngã. Cuộc chạy đua thăng tiến ấy ra như không bao giờ đủ và vì thế, lòng người cũng chẳng thể yên… Con người ngày nay luôn sống trong tâm trạng “bài toán cuộc đời chưa có đáp số”. Trong cuộc đua của cuộc đời, con người được/bị đặt vào thế cạnh tranh. Sự so sánh hơn thua, nỗi lo không được đón nhận... đã biến thế giới này thành một phòng thi khắc nghiệt : môn thi tài năng, môn thi địa vị, môn thi sắc đẹp..., và môn khắc nghiệt nhất là môn thi nhân cách...

Hệ quả nguy hiểm nhất của cuộc chạy đua và cạnh tranh của thế giới hiện đại chính là sự đảo ngược giữa "phòng thi" và "phòng khám"… chính điều này làm nên một thứ văn hóa của thời hiện đại “văn hóa loại trù”.

2.2 Những khuynh hướng lệch lạc về ngôi vị

2.2.1 Khuynh hướng sự vật hóa ngôi vị

Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, khi cô sinh viên 19 tuổi Francoise Sagan đưa ra một thứ chủ trương mà người ta gọi là “sự vật hoá tình dục”, tình dục không còn là “trao thân – gửi phận” cho nhau trong đời sống hôn nhân như truyền thống, mà chỉ đơn giản là món đồ chào mời nhau, như điếu thuốc hay một ly nước…, từ khi đó đến nay, chiều hướng sự vật hóa ấy dần dần xâm chiếm lãnh địa của những gì là “thiêng liêng” nhất của con người. Thay vì nhìn nhận ngôi vị như trung tâm có khả năng thông ban tính nhân linh cho mọi hành động và mọi sự vật được ngôi vị thâu hóa, người ta có khuynh hướng bóc lột mọi sự khỏi ngôi vị, từ những sự vật đến những hành động, từ lãnh vực kinh tế đến lãnh vực tình yêu và tôn giáo… Những cách nhìn theo kiểu “của ít lòng nhiều”, “cây nhà lá vườn”, hoặc “đất đã hóa tâm hồn”… càng ngày càng trở nên lỗi nhịp với cuộc sống hiện đại.

Bằng chứng rõ nhất là con người hiện đại không phân biệt được “hành động” (praxis) và “việc làm” (poiesis). Hành động là hành vi diễn tả chủ thể và chuyển giao tính chủ thể ấy thông qua một sự vật nào đó; trong khi đó việc làm thì kết thúc nơi sản phẩm, và tất cả ý nghĩa của sản phẩm được gói gọn lại trong giá trị tự tại của chính sản phẩm. Đứa con chỉ nhìn thấy cái bánh ngon hay dở mà không còn thấy cái bánh của mẹ cho, khác xa với cái bánh mua trong siêu thị… đó là hệ quả của khuynh hướng sự vật hóa ngôi vị.

Ta có thể thấy yếu tố làm nên hiện tượng “mất căn tính” của thế giới hiện đại có nguồn gốc từ sự lệch lạc giữa phạm trù “có” với phạm trù “là”, theo sự phân tích của G. Marcel, và sâu xa hơn, chính là do khuynh hướng sự vật hóa ngôi vị.

2.2.2 Khuynh hướng chức năng hóa ngôi vị

Cùng trong chiều hướng ấy, chúng ta thấy những tương giao trong xã hội con người càng ngày càng bộc lộ khuynh hướng giản lược ngôi vị thành một thứ chức năng. Thế giới hiện đại là một cuộc chạy đua và là một cuộc chiến, trong đó, những tập đoàn lớn sẽ dần dần nuốt các hình thức kinh doanh nhỏ lẻ. Về điều này chúng ta phải nhìn nhận những phân tích của K. Marx đã đúng. Trong cuộc chiến ấy, mọi sự đều phải được tổ chức một cách khoa học, những yếu tố mang lại hiệu năng sẽ lấn lướt những giá trị nhân bản, nguyên lý thích nghi lấn lướt nguyên lý toàn vẹn…. và con người trong guồng máy xã hội đương nhiên bị giản lược thành một chức năng. Chẳng hạn chúng ta có thể thấy rõ tình trạng này trong phương thức làm việc dây chuyền, trong việc tổ chức các công ty cung ứng dịch vụ … và dần dần khuynh hướng ấy cũng thâm nhập vào ngay trong những tương quan giữa họ hàng, trong làng xóm, trong những nghi thức giao tế của cuộc sống hằng ngày…

Khuynh hướng chức năng hóa ngôi vị được thể hiện trong phương pháp tổ chức của thế giới hiện đại sẽ lại củng cố thêm cho một khuynh hướng thâm sâu, thâm căn cố đế, trong bản chất người, đó là khuynh hướng so sánh, hơn thua. Xã hội hiện đại, nhìn chung, đã đạt được những khẳng định nền tảng về phẩm giá bình đẳng của mọi người, người ta đã loại bỏ được chế độ nô lệ, loại bỏ mọi thứ giai cấp xã hội, mọi sự phân biệt chủng tộc, mầu da, phái tính, tín ngưỡng… Thế nhưng, trong thực tế, con người lại không loại bỏ được tính ích kỷ, tính ganh tỵ hơn thua. Con người có nhu cầu khẳng định chính mình như một như cầu chân chính để có thể làm-người, nhưng chính nhu cầu khẳng định mình sẽ lại là “đầu mối tội” để con người tái lập lại những thứ giai cấp mới, những thứ phân biệt mới, tái lập lại những thứ bất bình đẳng khác, theo địa vị xã hội, tài năng, tiền bạc, thậm chí cả trong đức độ. Làm sao có được một cảm quan chân thực về sự bình đẳng về phẩm giá giữa giám đốc và nhân viên, giữa thầy giáo và người lao công trong trường, giữa bác sĩ và những y công, giữa quan chức với những người dân nghèo khổ…? Trong một thế giới đang “tiến nhanh tiến mạnh” của nền kinh tế thị trường, ngôi vị của con người bị giản lược vào khả năng người ấy đóng góp vào bộ máy kinh tế đang vận hành.

Chúng ta có thể thấy khá rõ ràng tình trạng tách biệt phẩm giá và chức năng trong một thế giới cạnh tranh cao độ trong xã hội hôm nay và điều đó làm nên tình trạng ăn gian khi người ta lấy chức năng để “đôn lên” phẩm giá của mình.

Sự nhập nhằng giữa phẩm giá và chức năng khiến cho người ta “tôn trọng” phẩm giá chỉ như cái tối thiểu, nghĩa là “tôn trọng” và mặc kệ cõi riêng tư của ai đó… Nếu phẩm giá người chỉ được nhìn trong cái tối thiểu, thì cá nhân cũng chỉ “được tôn trọng” trong mức độ tối thiểu. Khi ấy, “đời sống riêng tư” có thể là “được tôn trọng” hoặc là “bị tôn trọng”, cũng có nghĩa là để cho mỗi người có quyền sống và quyền chết, có quyền phát triển và quyền tự hủy hoại đời sống của mình… miễn là không vi phạm đến ai khác, không đụng chạm đến công ích. Đây chính là bầu khí của những nước tây phương.

Thật ra, phẩm giá không phải là “cái tối thiểu” nhưng là “cái tối đa”, phẩm giá không phải là một “thành phần” nhưng là nền tảng làm nên tính toàn thể của một con người. Việc tôn trọng phẩm giá phải gắn liền với trách nhiệm luân lý về sự phát triển và thành toàn một con người, và đó chính là phục hồi lại giá trị nền tảng của tính ngôi vị nơi con người.

2.2.3 Ngôi vị bị tan loãng trong nguyên lý trao đổi

Trao đổi là một khả năng đặc biệt của con người. Chính nhờ trao đổi mà con người có thể xây nên những công trình lớn lao của nhân loại. Tuy nhiên, trao đổi không giải quyết được tất cả vấn đề của cuộc sống con người và nhất là thế giới của sự trao đổi không phải là mục tiêu tối hậu của phận người. Thật ra, trên thế giới, chẳng nơi nào có được một sự trao đổi hoàn toàn công bằng; và nói chung, trao đổi là phương thức của kẻ mạnh. Chỉ có sự trao tặng và đón nhận với lòng tri ân mới là đời sống nghĩa tình và là tương giao chân thật ở mức độ người.

Chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt của hai phương thức ấy khi so sánh thế giới trong nhà và thế giới ngoài đường. Khi ta đi ra đường, mọi sự đều là đổi chác. Trong thế giới ngoài đường, từ những đồ vật cho đến thân xác con người, từ những tài năng cá nhân cho đến vị thế xã hội, và cả đức độ của một con người, tất cả đều được đưa vào bài toán kinh tế thị trường, nghĩa là được đặt lên một bàn cân để cân nhắc lời lỗ cho một cuộc trao đổi. Trong khi đó, khi về đến gia đình, người ta sống trong một bầu không khí khác, bầu không khí của một sự chấp nhận bản thân của nhau. Khi đó, những tương quan hằng ngày không còn phải là đổi chác nhưng là trao tặng.

Cuộc trao đổi của thế giới ngoài đường không đụng đến được ngôi vị của con người, chỉ là những trao đổi những sự vật. Trong thế giới như một thị trường lớn, nguyên lý trao đổi trở thành nền tảng. Ngày nay, cả những người bình dân nhất cũng đều “hiểu” rằng “chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ”. Ngày nay người ta trao đổi mọi thứ, “cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền”. Chính nguyên lý trao đổi ấy làm tan loãng sự hiện diện của mỗi con người như một ngôi vị. Con người ngày nay phải chăng đã đánh mất ý nghĩa của trao tặng bản thân trong tương quan tình nghĩa ?

2.3 Nguồn mạch từ Thánh Thể

2.3.1 Một sự hiện diện bản thể để rộng mở

Giáo hội luôn khẳng định thực tại Thánh Thể là một sự biến đổi bản thể, trong đó chính Đức Giêsu thật sự hiện diện cách bản thể trong nhưng phụ thể của bánh và rượu. Điều kỳ diệu trong đức Tin, hoặc là điều kỳ lạ theo lý trí con người như thế, có thể hiểu như một “cơ chế mở”, làm nên một dòng suối vô cùng phong phú của sự hiện diện. Đức Gioan Phaolo II nói :

“Trong thánh lễ, việc tái diễn có tính bí tích hy tế của Đức Kitô, được hoàn thành nhờ sự sống lại, bao hàm một sự hiện diện độc dáo nhất mà - theo lời của Đức Phaolo VI - “là một sự ‘hiện diện thực sự’, không theo nghĩa độc chiếm, nghĩa là loại trừ tất cả mọi hình thức hiện diện khác, như thể những sự hiện diện đó không ‘có thật’, nhưng như là một sự hiện diện theo nghĩa trọn vẹn nhất : một sự hiện diện theo bản thể, nhờ đó Đức Kitô, Đấng là Thiên Chúa và con người, hiện diện cách hoàn toàn trọn vẹn”.

Ta có thể hiểu “sự hiện diện bản thể” có nghĩa là chúng ta có thể nhận ra, hôm nay, một đức Giêsu đang rao giảng; ngày mai, một đức Giêsu đang ở trên chiếc thuyền giữa sóng gió của các môn đệ; và lúc khác, một đức Giêsu như Hài Nhi trong máng cỏ… Đó là một sự “phong phú khách quan” của thực tại chứ không phải chỉ là sự phong phú về ý nghĩa chân thực trong tâm hồn của người tín hữu mà thôi.

Đức Benedicto XVI nói “Đức Giêsu Kitô là Sự Thật Nguyên Vị (The Truth in Person) lôi kéo thế giới đến với Người”. Quả thật Thánh Thể trình bày một sự hiện diện thật sự, một sự hiện diện trong căn tính ngã vị của đức Giêsu. Thánh Thể là nguồn suối tuôn trào để Chúa Giêsu hiện diện vừa là hiện tại, vừa cũng hiện tại hóa quá khứ và tương lai; để đức Giêsu như một Ngôi vị cá biệt lại cũng trở nên tất cả cho mọi người; Ngài vừa là Ngôi Lời trong Vĩnh Cửu lại vừa bước vào mối tương quan cụ thể, có tính cách nhân thân (personel), sống động với mỗi người trong mỗi hoàn cảnh đặc thù nhất…hơi giống như việc mỗi người dân Israen ăn manna và tưởng ra điều mình thích nhất :….

G. Marcel từng nói đôi khi trước sự vắng mặt của tha nhân ta lại nhận ra sự hiện diện đích thực của tha nhân. Cũng gần như vậy, trước sự vắng mặt của phụ thể Giêsu, người Kitô hữu, với một đức Tin sống động, lại có thể nhận ra sự hiện diện đích thực của Ngài.

2.3.2 Một sự hiện diện toàn vẹn trong “là” và “làm”

Thiên Chúa là Đấng duy nhất, nơi Ngài tất cả ngôi vị và các phẩm tính đều là một, danh của Chúa, ân sủng của Chúa, quyền năng của Chúa cũng là chính Chúa. Đi vào nhiệm cục cứu độ, Thiên Chúa đi vào qui chế hiện hữu của con người, Ngài bày tỏ chính mình cho con người qua khía cạnh “Ngài là” và “Ngài làm”, nhưng vẫn là duy nhất trong tất cả.

Chúng ta biết não trạng của người Do Thái không nhằm tới cái biết thuần túy của lý trí như người Hy Lạp (biết cái là) mà luôn nhằm tới mối tương quan thực sự trong lịch sử (sống cái làm). Do đó, trong mặc khải của sách Xuất Hành (3,14), Mô-sê không chỉ hỏi để biết Tên của Thiên Chúa mà còn hàm ý hỏi “việc làm” của Thiên Chúa là thế nào, trước những sức mạnh của đa thần giáo của người Ai Cập. Cũng thế, Ngôi Lời Thiên Chúa “trở nên xác phàm”, là một “Chúa-người” trong mầu nhiệm Nhập Thể, cũng gắn liền với mầu nhiệm Thập giá, nơi Ngài thực hiện sứ mệnh cứu độ, như một đòi hỏi nội tại để “là” và “làm” của một Đấng Cứu Độ.

Thánh Thể như sự hiện diện của Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ và đang làm công trình cứu độ, đó là một sự hiện diện toàn vẹn nhất mà Thiên Chúa có thể thực hiện cho con người.

Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Giáo hội đón nhận món quà “Thiên Chúa ở cùng”, Ngài hiện diện toàn vẹn và mở rộng cho mọi người, trong mọi hoàn cảnh.

2.3.3 Tôn trọng như thái độ căn bản của linh đạo hiện diện

Đứng trước một con cọp, con người, với tất cả những giá trị cao cả nhất, vẫn không khác gì một con nai hay một con lợn rừng. Phẩm giá cao quý của ngôi vị chỉ hiện diện được trước một ngôi vị khác. Nói cách khác, chỉ trong mối tương quan tôn trọng, con người mới được là người, cũng như Thiên Chúa mới “được là” Thiên Chúa.

Có lẽ tâm tình tôn trọng nằm trên cùng một phạm trù với nỗi sợ, nhưng ở hai cực khác nhau. Nỗi sợ là một tình cảm tự nhiên và phổ biến, vì thật sự con người quá yếu đuối trước vũ trụ, trước thế giới con người và thế giới thần thánh. Nhưng nỗi sợ sẽ đóng kín con người lại trong thái độ đối phó, ngược lại sự tôn trọng chính là cánh cửa để con người tìm được “đầu ra” cho thân phận bé nhỏ của mình, bởi vì qua ngõ mở này, con người được chào đón để được là mình. Nỗi sợ làm cho người ta khúm núm vì bị một sự đe dọa bên ngoài; làn sự tôn trọng là tâm tình chân nhận từ bên trong về giá trị của ai khác, và diễn đạt bằng thái độ trang nghiêm đích thực.

Tôn trọng là thiết lập tha nhân như một chủ thể và đồng thời cũng đưa bản thân mình vào mối tương quan liên-chủ-thể. Tôn trọng không là gì khác hơn làm lộ ra tính ngôi vị của và bắt đầu mối tương quan như một sự đối thoại giữa những ngôi vị. Chính vị thế, tôn trọng chính là “bài thuốc” để chữa căn bệnh trao đổi của thế giới hiện đại và phục hồi ý nghĩa của sự trao tặng.

Nếu trong Cựu Ước, con người khiếp-sợ trước sự cao trọng của Đấng Ba Lần Thánh, để rồi dễ gán cho Chúa những hành động kỳ lạ, thậm chí quái dị, bởi vì Ngài muốn làm gì thì làm; thì trong Tân Ước, người Kitô hữu được Ơn Kính-Sợ (kính-yêu) của Thần Khí Nghĩa Tử, để chuyển từ nỗi sợ hãi đến sự trân trọng, để nâng niu gìn giữ và để đi vào tình yêu đúng đắn và chân thật:

“Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi” (1 Ga 4,18)

Tôn trọng cũng là ý nghĩa căn bản của đức Khiết tịnh, trong đó, mối tương quan nhân bản đích thực cần phải vượt qua, không phải chỉ là thân xác, phái tính, nhưng cả đức độ… để chạm đến hạt nhân ngôi vị của hiện hữu người. Khiết tịnh là khả năng nhân hóa tương quan con người.

3. Thánh Thể như linh đạo hiện diện

Trong kho tàng phong phú của Thánh Thể, đặc biệt về chiều kích Hy tế và Hiệp thông, ta có thể thấy yếu tố hiện diện luôn chiếm một vị trí quan trọng. Hy tế Thánh Thể không còn là máu chiên máu bò nhưng là “này Con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 7.9); Hiệp thông Thánh Thể cũng không còn chỉ là ý tưởng hay của cải, nhưng là chung phần cái chết và sự phục sinh của đức Giêsu (x. 1 Cr 11,26). Thánh Thể vừa tưởng niệm vừa tái hiện hy lễ Thập Giá như một sự hiện diện thật, sống động, ở đây và lúc này….

Nhờ tôn trọng, con người có thể làm hiển lộ ngôi vị trong tương quan con người với nhau, Nhờ niềm Tin, trong sự Kính-yêu, người Kitô hữu mới khám phá ra sự hiện diện thực của đức Giêsu trong Thánh Thể; và khám phá ra sự hiện diện của anh em, qua lễ dâng được tượng trưng nơi bánh vừa rượu, trong Chúa Giêsu.

Trước Thánh Thể, mà trước mắt chỉ là một tấm bánh và rượu, người kitô hữu vẫn được ơn Kính-yêu, để nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện thực. Lòng tôn sùng Thánh Thể gắn liền với cảm thức nhạy bén về sự hiện diện. Chiều kích Thánh Thể, vừa như trung tâm vừa như sức sống lan tỏa, cần tỏa bóng xuống mọi sinh hoạt trong xã hội hiện đại. Cảm thức ấy, trong sự khẩn thiết của những sa đà trong cuộc sống, cần trở nên như một linh đạo, linh đạo hiện diện.

Tạm kết

Có thể để nghị một phác thảo về những bước căn bản của hành trình tâm linh Kitô giáo qua bốn bước như sau :

1/ Thánh Thể như linh đạo hiện diện

2/ Lời Chúa như tình tiết của một cuộc gặp gỡ

3/ Cuộc sống như lịch sử ơn cứu độ (liên lụy)

4/ Tin-Cậy-Mến như cấu trúc căn bản của tình yêu Kitô giáo (thuộc về)

Dĩ nhiên, đây chỉ là một phác thảo có tính “thực dụng”, bởi vì, chẳng hạn, trong Thánh Thể, ta đã có thể có tất cả bốn yếu tố ấy và có một cách sung mãn. Tuy vậy, xét trong cấu trúc toàn bộ của đời sống tâm linh Kitô giáo, ta vẫn có thể xếp “nhiệm vụ” trọng yếu của Thánh Thể như một linh đạo làm nổi bật lên sự hiện diện của một ngôi vị; và đây là bước đầu tiên và căn bản để nhân loại có thể đi vào linh đạo sống với ai và tìm được ý nghĩa thỏa lòng cho vận mạng con người.

Trên nền tảng chân thật và sống động của chiều kích hiện diện, Thánh Thể trở nên phong phú vô tận nhờ Lời Chúa như một kho tàng muôn mặt của kinh nghiệm đức Tin; Thánh Thể trở nên thiết thực qua những san sẻ vui buồn trong cuộc sống, và Thánh Thể công bố một sự hiệp nhất thuộc về nhau của gia đình Thiên Chúa.

“Không có gì thật sự thuộc về con người – tư tưởng và tình cảm, lời nói và hành động – lại không tìm thấy trong bí tích Thánh Thể hình thái thích hợp để sống một cách tràn đầy” - (15-5-2022 Nguyễn Trọng Viễn O.P.)

Chú thích:

[1] Gioan Phaolo II, Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia, số 20.

[2] “Vì Kitô giáo nhằm tới toàn thể, vì nó có khởi điểm và cùng đích là cộng đoàn hiệp thông, vì nó không phải là ơn cứu độ cho từng cá thể riêng rẽ, nhưng phục vụ cho Toàn Thể, một đòi hỏi mà mỗi cá thể không thể và không được phép trốn tránh, chính vì như thế mà Kitô giáo dựa cách hết sức triệt để trên nguyên lý ‘Cá Thể’”, Joseph Ratzinger, Đức Tin Kitô giáo, Hôm qua và Hôm nay, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2009,tr. 266-267.

[3] Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Ảnh hưởng của xã hội trên người trẻ, báo Logos 7……

[4] Chế Lan Viên, Tiếng Hát Con Tầu. Nguyên văn : “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở; Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn…”

[5] X. Nguyễn Trọng Viễn, Ảnh hưởng của xã hội trên người trẻ, báo Logos 7……

[6] Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistia, số 15; trích lời Đức Phaolo VI, Mysterium Fidei, 764.

[7] Đức Benedicto XVI, Tông huấn Bí Tích Tình Thương, số 2.

[8] Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích : Ơn kính sợ Thiên Chúa nhắc cho chúng ta biết chúng ta nhỏ bé chừng nào trước Thiên Chúa và tình yêu của Người, và hạnh phúc của chúng ta là phó mình trong tay Người với lòng khiêm nhường, kính tôn và tin tưởng. (Buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư tại quảng trường Thánh Phêrô 13-6-2014).

[9] Có thể diễn tả đức Khó nghèo, một cách chính yếu, là phương thức sống dám vượt qua sự vật để đạt đến ai khác. Đức Khiết tịnh, một cách chính yếu, là thái độ tôn trọng đối với một ngôi vị. Đức Vâng Phục, một cách chính yếu, là nhận ra sự “hiện diện” của Chúa, nơi tất cả mọi sự, từ sự vật cho đến ngôi vị người.

[10] Benedicto XVI,Tông huấn Bí Tích Tình Thương, số 71