Tín lý và những giá trị nhân sinh
Cuộc tranh luận tại công Đồng Vatican II về đường nét của mặc khải cho thấy một chiều hướng quan trọng trong việc đón nhận và giải thích mặc khải, đó là chiều hướng cứu độ. Cuộc tranh luận ấy được tóm lại trong Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa [MK 11b] “Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh ứng viết ra, tức các thánh sử, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những [?] chân lý*mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta. Bởi vậy, “mọi sự trong Thánh Kinh được Thiên Chúa linh ứng có ích lợi cho việc dạy dỗ, biện luận, sửa trị và rèn luyện trong công chính; để người của Thiên Chúa trở nên trọn hảo và sẵn sàng thực hiện mọi việc lành” [2 Tm 1, 16-17, bản Hy Lạp]. [11b]
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
I. Ý nghĩa mặc khải theo Vatican II
1. Cuộc tranh luận tại Công Đồng Vatican II
Cuộc tranh luận tại công Đồng Vatican II về đường nét của mặc khải cho thấy một chiều hướng quan trọng trong việc đón nhận và giải thích mặc khải, đó là chiều hướng cứu độ. Cuộc tranh luận ấy được tóm lại trong Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa [MK 11b]
“Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh ứng viết ra, tức các thánh sử, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những [?] chân lý*mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta. Bởi vậy, “mọi sự trong Thánh Kinh được Thiên Chúa linh ứng có ích lợi cho việc dạy dỗ, biện luận, sửa trị và rèn luyện trong công chính; để người của Thiên Chúa trở nên trọn hảo và sẵn sàng thực hiện mọi việc lành” [2 Tm 1, 16-17, bản Hy Lạp]. [11b]
Bản dịch của Học viện Pio X chú thích về đoạn văn này như sau :
Kết quả của linh ứng là “chân lý” của Thánh Kinh. Trước kia lược đồ 2 chỉ nói “vô ngộ”; sau đó bản thảo thứ 3 lại thêm ”vô ngộ và chân lý“; trong bản thảo thứ 4, Ủy Ban thêm tĩnh từ “cứu rỗi” vào danh từ “chân lý”. Điều này gây nên một cuộc tranh luận rộng lớn và sôi nổi, vì người ta cho rằng như thế sẽ hạn chế tính cách vô ngộ của Thánh Kinh vào những điều siêu nhiên và đi ngược lại Giáo Huấn của các Đức Giáo Hoàng gần đây. Ủy ban chấp nhận đề nghị sửa đổi của 73 nghị phụ ”vì phần rỗi chúng ta” trong khi nhấn mạnh là linh ứng không bị giới hạn vào một phần nào của Thánh Kinh. Những câu này chỉ rõ đặc tính riêng biệt của chân lý Thánh Kinh, nghĩa là chiều hướng để hiểu đúng những xác quyết của Thánh Kinh. Chân lý Thánh Kinh chứa đựng trong những lời xác quyết hay lời giáo huấn của các tác giả chứ không trong những từ ngữ. Những giáo huấn ấy không bị giới hạn trong “đức tin và luân lý” bởi vì các “chân lý cứu độ” cũng bao gồm cả những sự kiện lịch sử. Nên lưu ý là bản văn không nói “những chân lý”, nhưng nói “chân lý” theo số ít, và chân lý ở đây hiểu theo nghĩa Thánh Kinh, nghĩa là hàm chứa sự biểu lộ của Thiên Chúa chân thật, [chứ không theo nghĩa duy trí]. Chân lý lịch sử của Thánh Kinh không nhất thiết hệ tại việc dựng lại các sự kiện theo thời gian và hoàn cảnh xã hội, nhưng hệ tại sự giải thích các sự kiện, nghĩa là dưới phương diện những sự kiện đó diễn tả mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa.
Ngoài ra, trong phần dẫn nhập Hiến Chế, cha P. Gomez cũng viết :
“Việc xác định chân lý Thánh Kinh ở số 11 là một điều rất quan trọng. Người ta không thể tìm thấy trong Thánh Kinh bất loại chân lý nào [khoa học, lịch sử, địa lý, dân chủng học...] nhưng chỉ có thứ chân lý cứu thoát chúng ta, và ta cũng nên lưu ý Công Đồng không nói “những chân lý” những nói “chân lý” ở số ít; chân lý ấy đồng thời cũng là sự sống. là đường dẫn đến sự cứu độ. Điều đó muốn nói rằng chân lý của chúng ta không phải chỉ là một điều ta biết suông, nhưng là một bổn phận phải thực hành, “những thực hành chân lý” [Xc. Ep 4, 15], và phải tiến tới trong chân lý, “đi trong chân lý”. Công Đồng muốn giải phóng thần học khỏi quan niệm Hy Lạp về chân lý quá tĩnh, để trở về với ý niệm Do Thái linh động hơn, cởi mở hơn đối với mầu nhiệm Thiên Chúa”.
Như thế, nét căn bản của mặc khải là tính chất cứu độ. Mặc khải là nhằm cứu độ con người chứ không phải nhằm để “hiểu biết” theo nghĩa duy tri và trở nên như một bài toán đố cho con người. Điều này hẳn nhiên thể hiện được lòng mong ước của đức Gioan XXIII về một công đồng có tính "mục vụ". Thực sự, theo đường lối của Công Đồng Vatican II, Thiên Chúa của mặc khải, cách chính yếu và chân thực, chính là Thiên Chúa ban ơn cứu cứu độ. Những loay hoay tìm biết Thiên Chúa theo kiểu khoa siêu hình về Thượng Đế, thực ra, chỉ là thái độ của những anh mù sờ voi.
Mặt khác, ta cũng thấy rằng những nỗ lực tìm hiểu Thiên Chúa trong chính Ngài, những phẩm tính của Thiên Chúa được loại suy từ đức tính của con người, những đức tính thuộc văn hoá của một thời đại nhất định [một Thiên Chúa thông sáng; Thiên Chúa công bằng… trên nền tảng của tư duy Hy lạp], những điều ấy thường có nguy cơ đè bẹp con người chứ không phải luôn mang lại sự giải thoát và ơn cứu độ.
Nhân loại đã học biết tôn vinh Thượng Đế từ sớm, nhưng biết tôn trọng phẩm giá con người thì muộn lắm. Chúng ta thấy điều đó trong lịch sử vấn đề nhân quyền và cả trong một nền thần học quá chú trọng đến “vinh quang Thiên Chúa”, quá nhậy bén với những tội xúc phạm đến Thiên Chúa, Nhưng lại “sơ cứng” với những tội xúc phạm đến con người.
Dĩ nhiên, "mặc khải nhằm cứu độ" không có nghĩa là một sự dễ dãi, không mở đường cho sự phóng túng làm hư hoại bản tính con người. Mặc khải nhằm ơn cứu độ chính là nẻo đường giúp con người tìm lại bản chất của đích thực như được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. Đó là hành trình dễ dàng, vì nó mời gọi mọi người, đặc biệt là những người nghèo, và vì đó là hành trình có Chúa cùng đi; nhưng đó là đi trên con đường gian nan, con đường thập giá.
Tuy thế, cách trình bầy của chúng ta về mạc khải của Thiên Chúa, trong thời đại hôm nay, không thể dừng lại ở một số lý thuyết phải chấp nhận bằng lý trí, và cũng không thể cứ mãi là một thứ bài học dành cho con nít, theo kiểu nhắm mắt mà tin, theo nghĩa để mặc mọi hệ quả cho "Chúa" hay cho những người có trách nhiệm trong Giáo Hội [giống như một đứa bé, bị mẹ cấm không được ăn quà vặt, mà không hiểu nguyên do tại sao. Khi còn bé, nó có thể chấp nhận cách an vui, nhưng khi nó lớn lên một chút, thì những "cấm đoán không lý do" ấy chỉ làm gợi lên sự tò mò hoặc tạo sự phản kháng ngấm ngầm mà thôi]. Đối với tâm thức con người ngày nay, khoa luân lý Kitô giáo cũng không nên nhuốm mùi chủ thuyết duy ý muốn [volontarisme] của Roger Bacon hay Ockam, nghĩa là Thiên Chúa có toàn quyền muốn một điều nào đó là tốt hay xấu; nghĩa là tội chỉ là tội vì Thiên Chúa muốn thế và nhân đức cũng chỉ là nhân đức chỉ vì Chúa muốn thế. Cách trình bầy luân lý như thế khiến người ta chỉ còn thấy những nghĩa vụ, những đòi buộc; cách trình bầy ấy dựa theo mẫu câu "tôi phải", "anh em phải". Trong giáo lý cũng như trong cách giảng huấn của Giáo Hội, hình như còn có quá nhiều điều "phải…".
Hơn lúc nào hết, trong thời đại nhân loại đề cao phẩm giá con người như ngày nay, Giáo Hội cần làm sáng tỏ điều thánh Irênê đã nói : Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống. Điều đó có nghĩa là những điều khoản tín lý cũng như những đòi hỏi của luân lý Kitô giáo đều có những tác dụng cứu độ; nhằm hoà giải, nhằm giải phóng, nhằm nâng đỡ con người một cách cụ thể, chân thật, sâu xa….
2. Một chút nhận định
Đường lối tu đức của người xưa là con đường "thuần túy thiêng liêng", những những cố gắng thu gom công phúc. Con đường tu đức của người trẻ hiện nay lại muốn "làm người trước khi làm thánh". Cả hai đường lối đó, như đã nói, đều tỏ ra không thành công lắm và nhất là không có tính thuyết phục đối với những người ngoài Kitô giáo. Một đàng [lối thuần túy thiêng liêng] thì không có điểm chung với người khác vì không cùng đặt mình trong mảnh đất nhân bản để đối thoại. Đàng khác, đường lối thuần túy nhân bản lại không gợi ra, không làm chứng được sức mạnh cứu độ siêu nhiên của Thiên Chúa đối với đời sống con người [trừ ra niềm tin sẽ được vào Thiên Đàng]. Cả hai cách thức đó khiến cho bộ mặt của Kitô giáo không còn nét nhân bản đặc trưng nào cả. Nói đến Giáo Hội công Giáo, người ta nghĩ đến một tổ chức chặt chẽ, hơi khép kín và có tính quyền lực. Nói đến người Kitô hữu, người ta tưởng ra những con người có nhiệm vụ đi lễ ngày Chúa Nhật, xưng tội… Còn đâu hình ảnh một cộng đoàn Kitô hữu "kìa xem họ yêu thương nhau biết bao" của thời Giáo Hội sơ khai, hoặc "đạo những người yêu thương" khi Kitô giáo đặt chân đến Việt Nam, để cho "Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy : là anh em có lòng yêu thương nhau" [Ga 13,35] ?
Giáo Hội Việt Nam, trải qua hai giai đoạn "bao cấp" và "kinh tế thị trường", lại càng rơi vào một tình trạng tệ hại hơn. Những cách giải quyết vụn vặt và có tính chất đối phó cuối cùng làm nên một mớ biện pháp rối bòng bong và không có khả năng làm sáng lên nhưng làm biến chất những đức tính cơ bản của nền nhân bản Kitô hữu.
Thực sự Kitô giáo, tuy vẫn luôn bao hàm giá trị huyền nhiệm, nhưng bao giờ loại bỏ những giá trị nhân sinh :
"Thực vậy, sau khi đã theo mệnh lệnh Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần phổ biến trên trái đất các giá trị về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ, về tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, nghĩa là khi Chúa Kitô giao hoàn lại Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng: "Vương quốc của chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và ân phúc, vương quốc công bình, yêu thương và hoà bình" [Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua]. Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến".[MV 39 c].
Trong chiều hướng ấy, có lẽ hơn lúc nào hết, chúng ta cần tìm lại lập trường của thánh Thomas : "Siêu nhiên không phá đổ nhưng kiện toàn tự nhiên", lập trường có khả năng làm chứng cho một đời sống nhân bản đích thực nhờ vào hồng ân siêu nhiên đích thực.
II. Tầm quan trọng của Những giá trị nhân sinh
1. "Cái đẹp cứu độ thế giới"
Câu nói nổi tiếng ấy của Dostoievsky quả thực là một nhận định hết sức sâu xa. Dĩ nhiên cái đẹp không phải chỉ là một bức tranh hay một phong cảnh hữu tình. Cái đẹp ở đây là một cảm xúc có khả năng rung động tâm hồn. Khi một giá trị nhân sinh được cảm nhận trong khía cạnh thẩm mỹ, nó không phải chỉ là một cảm xúc thoáng qua, những là một sức mạnh lớn lao trong tâm hồn và đồng thời là một sức mạnh tiềm tàng có khả năng vận dụng tất cả năng lực của con người để đưa đến hành động bền bỉ và mạnh mẽ.
Trong một cuộc chiến, người ta dễ thấy những súng ống, những bom đạn, những trang bị quân sự tối tân, hoặc một chiến lược hợp lý. Tuy nhiên, bên dưới tất cả những điều ấy, có những giá trị nhân sinh được khơi dậy, được vun đắp, được chia sẻ và chính chúng mới tạo nên sức mạnh vô địch. Tình nghĩa đồng bào, tình thương gia đình, tình đồng chí, lòng yêu nước,… chính những điều này mới thật sự là nền tảng cho sức mạnh quân sự. Lòng nhân thắng bạo tạn, cuộc chiến chính nghĩa không gí có thể dập tắt được…
Khi một giá trị nhân sinh càng chân chính, càng hợp với "lòng trời", với "ý dân", càng đụng đến nền tảng "hữu thể" của con người thì nó càng có khả năng lay động con người và xã hội. Quả thật, trong qua trình dài của lịch sử, chính cái đẹp, chính những giá trị nhân sinh chân thật mới là sức mạnh để "cứu độ" con người.
2. Một chút dự phóng
Nói chung, việc sản xuất trước đây phải dựa nhiều vào tài nguyên, những nhà máy lớn và nhân công rẻ. Trong nền kinh tế hiện nay, chính trí tuệ hay một nền công nghệ cao là yếu tố quyết định. Điều đó hình như cũng đi song song hoặc có liên quan phần nào tới phương cách truyền giáo trong Giáo Hội. Kitô giáo, trước đây, được lan truyền bằng việc thiết lập những vùng đất Kitô giáo ["tài nguyên"]; rồi đến việc phát triển nhân số Kitô hữu ["nhân công"]. Ngày nay, yếu tố quyết định có lẽ sẽ phải là làm chứng cho những giá trị nhân bản đích thực và tính chất cứu độ của niềm tin Kitô. Điều đó có nghĩa là : cần phải làm sáng lên giá trị Tin Mừng chứ không phải chỉ là củng cố một sức mạnh bành trướng; giúp người Kitô hữu tìm thấy nơi đời sống Kitô giáo một lý tưởng sống, một sự an vui thật sự trong đời sống đức tin chứ không phải chỉ "tông-giáo" [đạo của ông bà tổ tiên, của làng xóm để lại]; thể hiện được tính chất cứu độ chân thực cho con người thực, đã bắt đầu lúc này và sẽ hoàn tất trong ngày Cánh Chung, chứ không phải chỉ là tìm mọi cách để chiến thắng những tranh luận lý thuyết suông. Một hồng y nào đó người Pháp đã tuyên bố rằng Kitô giáo ngày nay tồn tại ở Pháp dưới hình thức những giá trị nhân bản….
III. Những giá trị nhân bản của Kitô giáo
1. Trệch hướng ?
Có một vấn đề nẩy sinh từ thời Thượng-Trung-Cổ và có lẽ vẫn còn ảnh hưởng cho tới ngày nay : người Hy Lạp thì chú trọng đến vấn đề siêu hình và nhiều lúc người ta đi đến chỗ đặt tầm quan trọng của sự hiểu biết siêu hình hơn là những thái độ sống luân 1ý. Khi tiếp thu nền văn hoá Hy lạp, người La tinh, tuy vẫn chấp nhận nền tảng siêu hình; nhưng người La tinh lại lưu ý nhiều hơn tới luân lý và nhất là khả năng trình bầy, diễn đạt. Với văn hoá Kitô giáo trong thế giới Latinh, lại có một chuyển biến khác : người Kitô hữu chú trọng đến đời sống luân lý và những chỉ dẫn luân lý dựa theo Mười Điều Răn càng ngày càng xa những nền tảng siêu hình căn bản của Kitô giáo, là tình yêu thương, là lòng 'mến Chúa yêu người". Ta thấy, trong đời sống Kitô giáo, có rất nhiều chuyện úy kỵ, nhiều chuyện nhân đức hay tội lỗi, sợ hãi hay công phúc không dính dáng gì đến tình yêu thương. Nó chỉ là những úy kỵ như một ám ảnh trong tâm thức tập thể, nó chỉ còn dựa vào những hành vi được đánh giá theo những giá trị luân lý của thời đại nhiều hơn là dựa vào nền "siêu hình" chân chính đạo lý Kitô giáo.
2. Giá trị nhân sinh của Kitô giáo
Ở đỉnh cao minh triết, siêu hình và luân lý hoà hợp làm một cùng nhau, đó lời khẳng định của các triết gia, và lời khẳng định ấy không phải là không có nền tảng. Những lời tuyên tín trong Kinh Tin Kính là cả một bài trường ca của lịch sử Giáo Hội. Không người Kitô hữu nào có thể coi thường di sản đó. Những điều ấy tạo nên một nền tảng vững chắc cho tất cả suy tư thần học thuộc mọi lãnh vực : tín lý, luân lý, tu đức, mục vụ… Tuy nhiên, điều hết sức khẩn thiết hôm nay là từ nền tảng ấy, Giáo Hội nói chung và người Kitô hữu nói riêng, trong thời đại hôm nay, cần thể hiện niềm tin ấy thành những gia trị nhân sinh chân chính. Chỉ khi đó, Kitô giáo mới biểu lộ khả năng diễn tả sứ điệp Kitô giáo như một giải pháp cứu độ cho con người ngày nay.
Có rất nhiều điều trong tín lý và luân lý Kitô giáo, đáng lẽ bao hàm và diễn tả những giá trị nhân sinh cao đẹp, thì lại bị biến thành những qui định cứng nhắc, những giới luật đòi buộc cách áp đặt, những úy kỵ vô cớ. Ta có thể tự hỏi : tại sao người nay người ta tuốn đến với những nơi tham vấn, trình bày với các chuyên viên tư vấn những uẩn khúc của cõi lòng, kể ra cả những tội lỗi sâu xa; trong khi đó thì người Kitô hữu ngại ngùng đến với bí tích Hoà giải ?
Trong chiều hướng ấy, ta thử nêu lên một vài giá trị nhân sinh căn bản của tín lý Kitô giáo :
* Niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất
Trong thế giới đa thần, người ta mặc lấy cho những cuộc chiến giữa con người với nhau một hình thức tôn giáo; chiến tranh giữa các dân tộc trở thành cuộc chiến giữa các thần. Cuộc chiến ấy trở thành khủng khiếp và không thể khoan nhượng.
Trong thế giới vô thần, con người lại không tìm thấy một nền tảng nào đủ lớn, đủ rộng để có thể sẵn sàng đón nhận mọi người thành anh em của mình. Trong thế giới vô thần, người ta dễ dàng "phân biệt bạn thù" dựa theo một số lợi ích được suy diễn từ hướng nhìn của tập thể của mình.
Như thế, niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất chính là khả năng sau cùng để con người có thể xây dựng một thế giới đại đồng, một tình nghĩa "tứ hải giai huynh đệ". Niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất chính là niềm hy vọng lớn nhất cho tương lai nhân loại; miễn là người ta đừng suy diễn niềm tin ấy trở thành một chân lý "cô độc", cứng đọng, lửng lơ của lý trí để bắt buộc người khác phải chấp nhận…
* Niềm tin một Thiên Chúa Ba Ngôi
Giáo lý dạy chúng ta rằng mỗi Ngôi vị trong Ba ngôi đều là Thiên Chúa thật, bằng nhau và quyền phép như nhau. Nhưng Ba Ngôi lại "hoà hợp", hiệp nhất với nhau nên "Một Thiên Chúa duy nhất" nhờ khả năng dám "tự hủy". Những điều vắn gọn ấy cho thấy rằng, nếu con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi và con người chỉ có thể hoàn thành vận mạng cuộc đời mình khi sống theo "mẫu sống" của Ba Ngôi, thì "chân lý" căn bản nhất của bản chất con người chính là : sự bình đẳng về phẩm giá và khả năng dâng hiến làm cho phẩm giá đời người trở nên tuyệt đối.
Chính trong mầu nhiệm Ba ngôi Thiên Chúa, chúng ta hiểu được phẩm giá của mỗi con người, dù là người bé mọn và hèn hạ đến đâu. Mỗi người là một phẩm giá cao quí, tuyệt đối và bình đẳng với mọi người khác. Không ai có quyền nhân danh một lý lẽ nào để bắt một con người, như là một "con người thứ hạng", phải chấp nhận hy sinh cho ai khác hay bất cứ một điều gì khác.
Hình như, trong văn hoá Âu Mỹ, người ta phân biệt được rõ ràng giữa phẩm giá và chức năng. Một đứa con trong nhà trong nhà vẫn có quyền nói một cách hồn nhiên những suy nghĩ của mình trước mặt cha mẹ, những người lớn [vì bình đẳng về phẩm giá, về quyền tỏ bầy suy nghĩ của mình]; nhưng nó cũng hiểu chức năng điều khiển gia đình là của bố, nên sau khi tỏ bầy suy nghĩ của mình, nó có thể chấp nhận giải quyết của bố. Tuy thế, một sự phân biệt như thế là tốt, nhưng cũng vẫn có những trục trặc. Nhiều khi cha mẹ không dám đánh con để sửa dạy chúng… Nói chung, Tây Phương có sự phân biệt giữa khái niệm bình đẳng và chức năng, nhưng lại không cảm được "lòng nhân" như văn hoá Đông Phương, trong đó, người cha có thể đánh con, đánh vì lòng thương và với lòng quặn đau vì tật xấu của con…
Trong mặc khải Kitô giáo, ý nghĩa bình đẳng và hiệp nhất còn tuyệt hảo hơn nhiều. Con người ta được kêu gọi để sống theo mẫu gương Ba Ngôi, trong đó, mỗi con người là một phẩm giá tuyệt đối không gì thay thế được. Tuy nhiên, phẩm giá tuyệt đối của của con người lại chỉ được thể hiện trọn vẹn trong thái độ tự nguyện chấp nhận hy sinh cho người khác, đúng như lời Công Đồng Vatican II nói :
"Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến dâng" [MV 24]
* Ơn Cứu Độ trong Đức Giêsu
Điểm chính yếu của nhiệm cục Cứu Độ là Thiên Chúa cho chúng ta được nên "đồng hình đồng dạng" với Đức Giêsu, được lãnh nhận Thần khí của Đức Giêsu để gọi [để sống với] Thiên Chúa Cha là "Abba". Ơn cứu độ ấy làm cho con người không còn phải là nô lệ, nhưng là con Thiên Chúa, là bạn hữu với Đức Giêsu; ơn cứu độ ấy phải được biểu lộ trong thái độ hân hoan và tự do của con cái Chúa.
Tuy nhiên, quả thật, ta không thấy mấy tinh thần tự do của con cái Chúa nơi người Kitô hữu. Muốn tìm một hình ảnh để diễn tả sự tự do, có lẽ ta đọc truyện Kim Dung thì dễ thấy hơn là nhìn vào cung cách sống của người tín hữu trong Giáo Hội. Bệnh bối rối, những lệch lạc trong quan niệm về tội, về cách thức giữ luật [kiêng thịt, ăn chay…] và rất nhiều điều khác là bằng chứng về bầu khí sợ hãi và nô lệ trong Giáo Hội.
Nếu tạm đồng ý là "thuốc sợ hãi" cũng có phần hữu ích, thì Giáo Hội hình như đã "sử dụng quá liều" khiến cho nét đẹp của một đời sống hân hoan trong tự do của con cái Chúa đã không còn bao nhiêu nữa.
* Mầu nhiệm hiệp thông các thánh
Nếu con người liên đới với nhau trong tội lụy của giòng dõi Adam, thì Thiên Chúa cũng muốn thể hiện chương trình cứu bằng cách thiết lập một gia đình của Adong mới là Đức Kitô, trong đó, mọi người hiệp thông với nhau trong ơn thánh nhờ mầu nhiệm hiệp thông các thánh. Trong mầu nhiệm này, không có vị thánh nào, ngay cả Đức Maria, được những ơn huệ của Thiên Chúa để "xài riêng". Thiên Chúa thông ban những ơn huệ đặc biệt cho các ngài, trước tiên và chính yếu, là vì cộng đoàn, cho cộng đoàn Giáo Hội.
Như thế, trước tiên, người Kitô hữu không thể sống thái độ "bàn tay sạch", hoặc thái độ "đi cà khêu", nghĩa là cố tránh mọi phiền hà, xấu xa liên lụy tới mình để tự tìm cho mình một sự thanh sạch cá nhân. người Kitô hữu đặt mình trong nhiệm cục cứu độ phải là người sống trong ý thức nhân loại liên lụy với nhau trong tội lỗi; khao khát, cùng với anh chị em của mình, xây dựng một thế giới yêu thương và bình đẳng hơn. Khi đó, người Kitô hữu không rơi vào thái độ xin sỏ như thể "ăn mày" những ơn huệ của Mẹ Maria và các Thánh và xin sỏ cho bản thân mình mà thôi. Chỉ khi đó, người kitô hữu mới sống trân trọng hồng ân của Chúa như một sức mạnh chung, trong niềm tạ ơn chung và trong niềm xác tín về nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại, cho mọi người như anh chị em của mình…
Sống mầu nhiệm hiệp thông các thánh là sống huyền nhiệm liên đới và nhất là sống mầu nhiệm cộng đoàn được cứu độ.
Đây chỉ là một vài nét phác hoạ. Việc tìm lại những giá trị nhân sinh của tín lý Kitô giáo là một công việc dài hơi, cả trong suy tư cũng như trong sinh hoạt thường ngày của đời Kitô hữu.
Khi tìm thấy những giá trị nhân sinh của Kitô giáo như thế, kinh Tin Kính không phải chỉ là một bản "nội qui" buộc phải chấp nhận, một bài học cần phải thuộc lòng. Khi ấy, đọc kinh Tin Kính, người Kitô hữu không chỉ chấp nhận những chân lý quá tĩnh kiểu người Hy Lạp, nhưng tin vào sức mạnh cứu độ của ”cái đẹp" chân chính, của bản chất nhân loại, của "nhiệm cục cứu độ" phát xuất từ Thiên Chúa yêu thương.
Chỉ khi ấy, Kinh Tin Kính mới thực sự là một bản hùng ca của sức mạnh cứu độ, một bản hoan ca của tình thương đại đồng, một bản "hy vọng ca" về tương lai nhân loại….
Kết
Khi một xã hội bị băng hoại về giá trị, không một lực lượng an ninh hay luật pháp nào có thể hoàn thành nhiệm vụ được. Khi ta thấy một xã hội luôn nhấn mạnh đến việc "sống và làm việc theo pháp luật", ta có thể thấy xã hội ấy đang trong tiến trình băng hoại về giá trị. Không thể có một xã hội không có luật pháp, nhưng nguồn mạch chính yếu để bảo đảm an ninh trật tự, để xây dựng một nếp sống an vui hạnh phúc, lại không phải là luật pháp mà chính là nhờ những giá trị nhân bản.
Do đó, lúc này đây, người Kitô hữu Việt Nam cần phải sẵn sàng đảm nhận trách vụ làm sáng lên những giá trị nhân sinh của Kitô giáo trong hiện tình đất nước chúng ta. Tuy nhiên, cuộc cách mạng của Chúa Giêsu không phải chỉ nằm ở sự thay đổi giá trị, khiến người ta phải hụt hơi để chạy đua. Hoặc nói cách khác, giá trị chính yếu của Tin Mừng cứu độ nằm ở chỗ : thay thế nỗ lực của con người, những nỗ lực luôn có giới hạn của nó, để mặc lấy tình thương cứu độ của Thiên Chúa. Đúng hơn, Chúa Giêsu không chỉ thay đổi giá trị, nhưng Ngài còn thay đổi nguyên lý cứu độ.
1.6nhânsinh [tiếp]
* Thiên Chúa duy nhất
Sách giáo lý công giáo, trong phần trình bầy "Tầm Quan trọng của đức Tin vào Thiên Chúa Duy nhất", số 225 viết : Đó là nhận biết được tính thống nhất và phẩm giá đích thực của mọi người: mọi người đều được dựng nên "theo hình ảnh Thiên Chúa" [St 1,26].
Như thế, niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất có một ý nghĩa là nguyên lý tối cao để chúng ta có thể đón nhận tất cả mọi người, đón nhận những người xa xôi nhất, những gì mâu thuẫn nhất… không loại trừ bất cứ hai. Điều đó chính là một cánh cửa mở rộng để mọi người luôn tìm gặp nhau, … Người tín hữu không thể khẳng định một biên giới cố định ngăn cách con người với nhau, bởi vì con người có chung một nguồn gốc, cho dù là độc tổ hay đa tổ, nguồn gốc ấy là Thiên Chúa; hơn nữa là Cha của mọi người, người cho mưa xuống trên người lành kẻ dữ…
* Thiên Chúa Ba Ngôi
"Cùng đích của toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa là đưa các thụ tạo vào sự kết hợp trọn vẹn với Ba Ngôi Diễm Phúc [Ga 17,21-23]" [GLCG 260]
Đây là mầu nhiệm của sự bình đẳng ngôi vị, của mối tương quan làm gia tăng đến tuyệt đối phẩm giá của ngôi vị bằng con đường tự hiến cho nhau [Kènosis]. Ta có thể nhìn thấy ở đây những khía cạnh hết sức sâu sắc trong đời sống nhân sinh :
* Sự bình đẳng về phẩm giá
Ngày nay, phẩm giá con người đã là một giá trị mà không ai có thể chối bỏ được. Đây là giá trị nền tảng mà bản Tuyên Ngôn Thế Giới về Nhân Quyền [10-12-1948] cho rằng ”sự coi thường và xâm phạm các quyền con người dẫn đến các hành vi man rợ xúc phạm tới lương tâm nhân loại". Chẳng hạn : tình trạng gái điếm chính là triệu chứng "lâm sàng" của cơn bệnh thiếu ý thức về nhân phẩm. Để giải quyết tình trạng ấy, người ta không thể chỉ nại đến những biện pháp hình sự… nhưng cần xây dựng một ý thức bén nhạy về phẩm giá con người.
Chúa Giêsu luôn luôn trân trọng con người, Ngài khẳng định phẩm giá của con người một cách triệt để "Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" [Mt 18,10].
Ngày xửa ngày xưa, vấn đề nô lệ là một chuyện bình thường; người ta chỉ đặt vấn đề đối sử cách nhân hậu, bác ái với người nô lệ. Nhưng hiện nay, tâm thức chung của nhân loại đã hiểu được hơn về phẩm giá con người; do đó vấn đề không còn chỉ là đối xử tốt với người nô lệ mà còn phải là tôn trọng nhân vị bình đẳng của người khác. Mọi người bình đẳng với nhau về phẩm giá nhưng có sự khác biệt trong trách nhiệm riêng. Không có chuyện con người hạng hai hoặc công dân hạng hai. Do đó cũng không ai quyền bắt buộc một người này phải hy sinh cho người khác.
* Khả năng tự hiến
Nhưng ở đây, khẳng định này không phải thuần túy là một thứ "quyền", hay "luật" như kiểu "quyền trẻ em" đang được học hỏi ở Việt Nam. Những thứ quyền được khẳng định theo kiểu tây phương có những giá trị của nó, nhất là trong việc phân biệt giữa phẩm giá và chức năng. Tuy nhiên, sự phân biệt bằng khái niệm của lý trí như thế không có khả năng hun đúc "lòng nhân" như minh triết Á Châu; và càng không thể hiện được tính chất "tự hiến" cho nhau để phẩm giá của mỗi người lại lên đến tuyệt đối theo tinh thần Tin Mừng.
Thật sự chỉ có tình yêu tự hiến [Agapein] mới thực sự là tình yêu thập giá của Đức Giêsu Kitô : "Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" [Ga 12,24]. Thứ tình yêu này, ngày xưa, bị những người Hy Lạp coi là điên rồ [I Cr 1,22]; và ngày nay cũng có nhiều người không muốn chấp nhận. Nhưng chính tình yêu này mới thực sự là tình yêu chân chính và là bản chất đích thực của con người. Công đồng Vatican II nói :
"Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến dâng" [MV 24]
Thật sự, phẩm giá chỉ được tôn trọng và phát triển cao đẹp khi một người tình nguyện hy sinh cho người khác mà thôi. Như thế, khi sống tình yêu chân chính, người ta biết hy sinh cho nhau; đồng thời, trong sự hy sinh ấy, người ta tìm được niềm vui vì mình thoả mãn được khát vọng yêu thương tự trong thâm tâm của mình [giống như những người cha, người mẹ vui sướng vì được hy sinh cả đời mình cho con cái].
Cần tìm ra niềm vui phát xuất từ khả năng thực hiện bản chất đích thực con người. Tâm tình ấy khởi đầu bằng một tình cảm nhỏ, nhưng hết sức chân thật và quí báu : biết vui khi làm cho người khác được vui [Có rất nhiều thanh thiếu niên hiện nay không hề biết tới kinh nghiệm này, và các em luôn cảm thấy buồn khi không được vui chơi, không được làm điều mình thích…]
* Ngôi Hai Thiên Chúa làm người
- Đức Kitô người bạn đồng hành
Sách Giáo lý công Giáo
Hình như trẻ em tại các nước âu mỹ hồn nhiên hơn trẻ em Việt Nam. Các trẻ em Âu Mỹ được nói, được diễn tả ý nghĩ, ý muốn của mình mà ít phải sợ hãi. Lý do tại đâu ?
Tại Á châu, người ta đề cao sự lễ phép và lòng tôn kính các người lớn tuổi [hỗn láo là một điều không thể chấp nhận]. Đây là một giá trị tốt. Tuy nhiên, để đạt được sự lễ phép và lòng tôn trọng ấy, người ta lại dùng những biện pháp có tính đe dọa. Thay vì giúp các em cảm được giá trị chân thực của việc tôn trọng người lớn [nhận ra sự hiểu biết của mình có giới hạn, nhận ra những đóng góp quí báu của người lớn…] thì người ta lại bắt các em phải câm nín, phải vâng lời tối mặt…. Những điều này tạo nên một ám ảnh sợ hãi khiến các em phải tìm giải pháp riêng bằng sự dối trá. Hầu hết sự dối trá bắt nguồn từ sợ hãi. Hình như trẻ em Việt Nam, và cả người lớn, có tật luồn lách, dối trá…
Trong lãnh vực đời sống Kitô hữu, tính cách sợ hãi và luồn lách, dối trá hiện nay cũng là một tình trạng đáng lưu ý.
"Trong tình yêu không có sự hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt, và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo" [1 Ga 4,18]
- Thái độ cảm thông
Tin Mừng của Đức Giêsu dạy chúng ta biết cảm thông và tha thứ [Mt 18,23-35 : dụ ngôn người mắc nợ không biết thương xót]. Trong khi các bản Tuyên Ngôn Thế Giới về Nhân Quyền nói rằng : "Mỗi bị cáo dù đã bị buộc tội, có quyền coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên tòa xét xử công khai với mọi đảm bảo biện hộ cần thiết" [điều 11], thì Chúa Giêu, ngay cả khi bằng chứng phạm tội đã rành rành, vẫn tìm cách tha thứ [Ga 8,1-11 : người phụ nữ ngoại tình].
Như thế, Chúa Giêsu còn muốn chúng ta có một cái nhìn cảm thông [triết học gọi là "tham thông"/com-prendre] với những nghèo, ngay trong những tật xấu của họ. Thường những người nghèo bị giam hãm trong một vòng xích khép kín "bần hàn sinh đạo tặc"; và không mấy ai thật sự giúp đỡ người nghèo phá vỡ vòng xích này. Như thế, thái độ trân trọng nhân phẩm sâu xa, cuối cùng, phải được thể hiện trong tình yêu chân chính.
* Mầu nhiệm hiệp thông các thánh
Sống là sống với, sống cùng. Không sinh ra thì thôi, đã sinh ra thì con người đương nhiên bị những tác động của xã hội loài người. Một khía cạnh cụ thể của "tội tổ tông" là : con người sống trong thế giới thế nào cũng phải mang lấy phiền lụy, chịu những ảnh hưởng xấu một cách nào đó.
Một cách sâu xa, những cái xấu không phải hoàn toàn là trách nhiệm của cá nhân, mà còn là trách nhiệm của tập thể nhân loại, tập thể xã hội. Một đứa trẻ sinh ra trong xóm tội phạm, dễ dàng bị lây nhiễm những tính xấu của trẻ em xung quanh. Rồi tình trạng "xóm tội phạm" như thế cũng không phải là trách nhiệm riêng của một vài gia đình; họ bị cơ cấu xã hội xô đẩy. Do đó, ta có thể nói rằng mọi người trong xã hội đều có liên đới với tình trạng ấy. Dostoievsky từng nói : đứng trước một tội nhân tôi cảm thấy mình có lỗi, vì nếu tôi sống tốt hơn, thì có thể tội nhân đã không phạm tội.
Khi đứng trước những tất xấu của người khác, người ta dễ rơi vào thái độ cắt xén cuộc sống ra từng khoanh nhỏ để xét đoán và kết án. Thái độ ấy thường xuất phát từ vị thế "khách quan" hay đúng hơn là một sự trốn tránh trách nhiệm liên đới. Thái độ "cận thị" như thế chỉ nhìn thấy những mảnh vụn vặt của đời sống và chỉ tạo nên những giải pháp vá víu.
Cần nhìn vấn đề trong huyền nhiệm tội tổ tông và mầu nhiệm "hiệp thông các thánh". Tội lỗi có tính tập thể và ơn cứu độ cũng được thực hiện, một cách chính yếu, trong chiều kích tập thể [Chúa không ban một ơn huệ riêng nào cho bất cứ ai, nhưng tạo nên một cộng đoàn cứu độ, ban những ơn huệ để góp phần chiến thắng thế lực của sự dữ]
Thái độ cơ bản nhất của Kitô giáo là thái độ liên đới và là liên đới "từ bên trong"; là chấp nhận "mang lấy tội của nhân loại" như Đức Giêsu Kitô.
- Chính ý thức hiệp thông giúp con người ngày nay có thể tìm đến với Giáo Hội và đến với Tin Mừng giải phóng của Chúa Kitô, không phải như những giá trị luân lý mà thôi nhưng còn như một sự "hiệp thông sự sống"; và nhất là như một sự mong chờ Cánh Chung.
3. Giá trị nhân bản của luân lý Kitô giáo
* Tâm hồn tự do
Thái độ nô lệ [trong tâm hồn] cũng chính là một hình thái phát xuất từ sợ hãi. Người ta thường hiểu tự do là được phép "làm điều gì mình muốn"; nhưng thật ra, có rất nhiều điều tưởng như "mình muốn" ấy chẳng qua chỉ là một sự dựa dẫm, nô lệ đối với dư luận, với quan điểm "thời thượng"…
Sống dựa là phải nhờ tới một tiêu chuẩn của người khác để có thể quyết định cuộc đời, thái độ, lựa chọn của mình; là đánh giá mình dựa theo lời khen chê của người khác. Có biết bao nhiêu bạn trẻ đua đòi theo bạn, và cảm thấy những điều mình thích hay điều mình ghét giống hệt như băng nhóm của mình. Một cuộc đời như thế chỉ là một bài toán cộng trừ những lời khen chê. Đó thực sự là thái độ nô lệ sâu xa.
Giáo dục chân chính là làm sao giúp cho trẻ biết thực sự xác định được điều mình muốn; và tự do chân chính là "thật sự muốn điều mình làm".
Có một số bạn trẻ, thuộc gia đình nề nếp, bị rơi vào tình trạng nghiện ngập, chỉ vì không có bản lãnh, chỉ vì cha mẹ hoặc thầy cô đã không bao giờ cho em được tự mình quyết định một điều gì.
Chú thích:
[1] la vérité que Dieu pour notre salut a voulu voir consignée dans les Lettres sacrées.
[2] "Quyền Năng Xoá Mình", như kiểu nói của Maitre Eckhart, hoặc "kénose" như thần học của thánh Phaolô. Xc. Lm. Phaolô Bùi Văn Đọc, Lm Giuse Võ Đức Minh, "Thiên Chúa Cha, Đấng Giầu Lòng Thương Xót", Nxb TP Hồ Chí Minh 1998, trang 315.
[3] Với trào lưu học hỏi về quyền trẻ em như ở Việt Nam hiện nay, tình trạng ấy chắc cũng sẽ xẩy ra.
[4] Xc. Bùi Tuần, "Biết Sợ", tuần báo Công Giáo và Dân Tộc số 1236, tháng 12/1999, trang 10. Thật lòng tôi không thích quan niệm này. Con người ta vốn yếu đuối và luôn bị mọi thứ đe dọa. Con người sợ chết, sợ bệnh tật, sợ tai họa… và sợ thần thánh, đó là chuyện thường tình; nhưng Thiên Chúa là Cha không phải là Đấng thêm đe dọa mà là Đấng giúp ta giải thoát nỗi sợ; "Đừng sợ"[Lc 5,10…]; "Và cho ta chẳng còn sợ hãi, để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Người, mà phụng thờ Người suốt cả đời ta" [Lc 1,74-75];"Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo" [1 Ga 4,18]…
[5] Trong thời đại mà nhân loại khám phá ra giá trị cao quí của phẩm giá con người, có lẽ chúng ta cần hiểu ra rằng Thiên Chúa không muốn cứu độ con người bằng cách biến chúng ta thành một lũ "ăn mày". Xin lỗi những người nghèo để dùng từ ngữ này nhằm nói lên một thái độ tinh thần sa đọa.
[6] Xc. Bản Tuyên Ngôn Thế Giới về Nhân Quyền [10-12-1948], lời dẫn nhập; Tuyên Ngôn Độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 12-9-1945.
[7] "Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế…" [Pl 2,6-11].