Cá nhân và tập thể trong cộng đoàn tu trì

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Chúng ta phải thật sự “cảm ơn” bầu khí xã hội chủ nghĩa thời bao cấp, vì nó bộc lộ cho chúng ta khá rõ rệt những khiếm khuyết của một phong cách quá đề cao nếp sinh hoạt tập thể; những khiếm khuyết ấy có thể giúp cho chúng nhận ra được căn bệnh trong đời sống Giáo Hội Việt Nam nói chung và trong các dòng tu nói riêng.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. PHONG CÁCH THỜI BAO CẤP

Chúng ta phải thật sự “cảm ơn” bầu khí xã hội chủ nghĩa thời bao cấp, vì nó bộc lộ cho chúng ta khá rõ rệt những khiếm khuyết của một phong cách quá đề cao nếp sinh hoạt tập thể; những khiếm khuyết ấy có thể giúp cho chúng nhận ra được căn bệnh trong đời sống Giáo Hội Việt Nam nói chung và trong các dòng tu nói riêng.

Một người thanh niên được lớn lên trong bầu khí xã hội chủ nghĩa thường được thổi hơi bằng những phong trào, thường được đánh giá bằng những chiến dịch thi đua, thường tìm cách khẳng định mình bằng những thành tích được tuyên dương… Đường lối ấy luôn phải tìm ra thật nhiều chiến dịch, phát động thật nhiều phong trào; đường lối ấy tạo niềm hăng say phấn khởi cho cá nhân bằng bầu khí thi đua, và làm cho người ta chỉ tìm thấy niềm vui khi được khen thưởng.

Những dũng sĩ thi đua, những cá nhân tiến tiến, những người đạt thành tích xuất sắc ấy thường tìm thấy niềm vui khi được khen thưởng, mà ít tìm thấy niềm tự hào khi mình sống và thể hiện một giá trị nhân sinh do chính lựa chọn tự do của mình. “Tôi sống liêm chính”, “tôi không nịnh bợ”, “tôi chủ trương dạy học vì chất lượng, không vì thành tích”. . . những thái độ ấy thường không được tôn trọng, không thường được chấp nhận và bị trù dập khi nó không nằm trong chiến dịch, phong trào. Người ta trở thành anh hùng trong những hành vi “tốt”, chỉ bởi vì hành vi ấy được đặt trong chiến dịch thi đua, trong chuỗi sinh hoạt của tập thể, trong bậc thang giá trị của phong trào; nhưng không thấy hành vi “tốt” ấy gắn liền với bản chất cá nhân của mình. Chính vì thế, chúng ta cũng có thể thấy, ngay trong chiến dịch thi đua sôi nổi nhất, những thái độ tắc trách, vô trách nhiệm. Tôi còn nhớ mãi kinh nghiệm của lần đầu tiên đi thủy lợi trong ấp Cây Dầu, Thủ Đức : để đạt được thành tích trong chiến dịch thủy lợi, tất cả một ấp, từ trưởng ấp trở xuống, đều chặt lá và thân dừa, độn bên dưới đê thủy lợi. Tất cả là nhằm tới thành tích thi đua, dù biết chắc rằng chỉ cần một con nước lên, thân dừa nổi theo con nước sẽ phá đổ toàn bộ công trình đê thủy lợi trong mấy ngày trời.

Những thành tích và huy chương như thế không thể giúp cho những chiến sĩ thi đua, những anh hùng lao động trở thành những con người liêm chính trong suốt cuộc đời. Bao lâu còn chiến dịch thì còn phấn đấu, còn thi đua; bao lâu hết chiến dịch, tất cả còn lại chỉ là một đống huy chương và một tâm hồn trống rỗng những giá trị nhân bản; họ không có giá trị tự tại để làm xương sống cho hành trình cá nhân của đời mình. Chính đường lối ấy khiến cho đất nước ta, khi chiến tranh thì ra ngõ là gặp anh hùng, nhưng khi hết chiến tranh, đi đâu cũng thấy kẻ tiểu nhân. Chúng ta cũng thấy nhan nhản, những thanh niên, đã từng là những dũng sĩ thi đua trong một phong trào nào đấy, nhưng khi rời khỏi đoàn thể, lại dễ dàng trở thành những kẻ tội phạm.

Trong bầu không khí tập thể xã hội như thế, chúng ta không lạ gì khi căn bệnh thành tích trở thành thâm căn cố đế. Trong một xã hội có quá nhiều phong trào, quá nhiều chiến dịch, quá nhiều bình bầu, thi đua, khen thưởng đến độ có cả “Ủy ban Khen thưởng Nhà nước”, thì những giá trị chân chính, luân thường đạo lý căn bản trong tâm hồn không được lưu tâm vun trồng, chúng bị coi nhẹ, bị vùi dập, và những người ngay chính thường bị loại ra khỏi cuộc chơi.

Tinh thần đề cao quần chúng và hô hào những phong trào quần chúng như thế, trong thực chất, chính là một sự khinh dể và sỏ mũi quần chúng, một đám đông tội nghiệp luôn bị lợi dụng vì những mục tiêu của một số cá nhân lãnh đạo. Nhờ các phong trào quần chúng, những con người chất phác nghèo khổ, bỗng trở thành những người anh hùng chiến đấu chống ngoại xâm, điều đó không ai phủ nhận được; nhưng liền sau đó, họ lại bị biến thành những kẻ "máu lạnh” khi cuồng nhiệt đấu tố cả những người thân.

2. TÌNH TRẠNG GIÁO HỘI VÀ ĐỜI SỐNG TU TRÌ TẠI VIỆT NAM

Trong bầu khí Gíao hội Việt Nam, chúng ta có thể thấy căn bệnh tập thể ấy biểu lộ khá rõ ràng trong một thứ “đạo sinh hoạt”. Nhiều giáo xứ, nhất là những giáo xứ lâu năm không có linh mục rao giảng Tin Mừng, vẫn giữ được nề nếp sinh hoạt đạo khá đầy đủ và phong phú, nhất là trong những “vụ mùa”, mùa Chay và mùa Gíang Sinh. Thế nhưng, nếp sinh hoạt sầm uất ấy thường kéo theo những tranh chấp, những đố kỵ hoàn toàn theo quy luật thế gian. Bên dưới những sinh hoạt đạo, nhiều giới chức trong xứ đạo, ông chánh, ông trùm, bà quản…, lại có thể chơi nhau bằng những phương cách hết sức trái ngược tinh thần Tin Mừng. Đối với những giáo xứ ấy, một ông thầy hay một bà xơ tới giúp có thể được đón tiếp long trọng, được ủng hộ nhiệt tình; nhưng chỉ cần một quyết định trái ý một phe nhóm nào đó, tu sĩ ấy có thể bị chơi theo phong cách xã hội đen…

Rất nhiều người tín hữu Việt Nam chỉ biết tham dự sinh hoạt đạo chứ không hề có một chút lựa chọn cá nhân theo lời mời gọi của Tin Mừng. Các nhà thờ của chúng ta thường rất đông đảo khi có tổ chức sinh hoạt, nhưng lại vắng tanh khi không có tổ chức sinh hoạt nào; người Kitô hữu Công giáo chỉ biết đọc kinh mà không biết cầu nguyện; tích cực tham gian sinh hoạt đạo nhưng ít thể hiện tinh thần Tin Mừng...

Chúng ta cũng có thể thấy căn bệnh tập thể ấy bộc lộ trong những tổ chức và sinh hoạt của các cộng đòan tu trì. Nhiều thanh niên đi vào nhà tu, được đưa vào một khuôn khổ sống, một thời khóa biểu và những qui định tập thể để quen dần. Người tu sĩ sống “đời sống tâm linh” chỉ là đến giờ thì vào nhà nguyện, thi hành mọi điều theo thói quen, và khi vừa ra khỏi nhà nguyện là ồn ào nói chuyện như vừa xong một công tác… . Nhiều tu sĩ chẳng hề có một chút nỗ lực riêng tư nào để cầu nguyện, chẳng hề có một chút “trăn trở” về đời sống tâm linh của mình. Nhiều anh em sống ở ngoài tu viện, khi trở về nhà Dòng chẳng thấy được một bầu không khí trầm lắng trong tu viện để được một chút hồi tâm và cầu nguyện...

Tất cả nỗ lực tu trì và đào tạo đời sống tâm linh nhiều khi chỉ là cố gắng tuân giữ những giờ giấc sinh hoạt, để trở thành một thói quen sinh hoạt đều đặn. Trong khi đó, mỗi người thụ huấn lại xuất phát từ một hoàn cảnh riêng, sống đời sống thường ngày với những thách đố riêng của bản thân, sức khỏe, tính tình, những biến cố tâm hồn, nhu cầu công việc… Như thế, có một quãng cách từ cái riêng cụ thể đến những tổ chức chung cố định, quãng cách không nhỏ. Khi được về gia đình trong các kỳ nghỉ, người thụ huấn thường cảm thấy nhẹ mình vì tạm thời được thoát khỏi quãng cách căng thẳng ấy. Ngược lại, trong đời sống cộng đoàn, quãng cách như thế thường làm cho tâm hồn căng thẳng, có nguy cơ làm cho đời tu trở nên một cuộc chiến đấu bi đát, nghĩa là bên này loại trừ bên kia, chứ không phải là một sự đón nhận “cách thông cảm”, không phải là thái độ hòa hợp trưởng thành giữa cái chung và cái riêng : hoặc vì quá mệt mỏi nên người tu sĩ sống theo nhu cầu riêng bất kể đến nề nếp chung; hoặc là phải gồng lên để chu toàn tất cả mọi đòi buộc của tập thể theo kiểu duy ý chí.

Đời tu là một nỗ lực không ngừng để từng bước tìm thấy sự hòa hợp giữa hoàn cảnh riêng và những tổ chức chung; có thể nói đây là một nỗ lực khó khăn và không bao giờ thành đạt hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu chúng ta chấp nhận một phương cách dễ dãi, hoặc thường xuyên loại bỏ những tổ chức chung, hoặc khăng khăng bảo vệ tổ chức chung bất cứ trong tình huống nào, thì sự đổ vỡ sẽ lại càng trầm trọng hơn.

Nếu không lưu tâm đến sự trưởng thành và thái độ chủ động của cá nhân, nếu “cái chung” trở thành tiêu chuẩn giá trị duy nhất trong đời sống, và mọi cuộc thảo luận cộng đoàn chỉ là tìm biện pháp để bảo đảm nề nếp chung một cách tuyệt đối, thì đời sống cộng đoàn sẽ chỉ còn là những lớp vỏ sinh hoạt, thảo luận cộng đoàn sẽ chỉ còn là những tranh luận vô tận trên bình diện tổ chức, và năng lực cộng đoàn chỉ còn là cố gắng dàn xếp những khác biệt hoặc những xung khắc. Khi đó, đời sống cộng đoàn không còn là sự hiệp thông. Sự hiệp thông đích thực chỉ có được khi mỗi cá nhân, tự do và tự nguyện, sống tâm tình thuộc về nhau, sống thái độ chấp nhận những giới hạn của nhau, mang tâm hồn cảm thông với những khiếm khuyết trong cộng đoàn, và thể hiện phong cách góp ý trong sự trân trọng từng cá nhân thuộc cộng đoàn. . . Ta có thể tạm phác họa “phương trình” của đời sống cộng đoàn là “cá nhân – cộng đoàn – cộng đoàn – cá nhân”; khi phương trình ấy bị triệt tiêu “ẩn số” cá nhân, thì chỉ còn là sự dàn xếp những những quan niệm về tổ chức cộng đoàn khác nhau, sinh hoạt cộng đoàn không còn tính cách nhân văn và siêu nhiên, mà chỉ còn là cơ chế, thủ tục, lệ luật cứng nhắc. Tình trạng “tổ hợp sinh hoạt của cộng đòan” sẽ càng tệ hại hơn nữa, khi mà, để bảo đảm nếp sinh hoạt chung, người ta phải dùng mọi phương cách, cho dù là những biện pháp có nhiều nguy cơ làm cho nhân cách người tu sĩ trở nên ấu trĩ, sợ sệt, gian dối . . . .

Cũng như một xã hội, một tổ chức không tạo được những giá trị đạo đức trong tâm hồn, tập thể ấy là một xã hội băng hoại mà tất cả những nỗ lực của luật pháp, của những biện pháp, chỉ còn là những sợi giây mỏng mảnh để tạm cầm giữ những cây cột đã lung lay tận gốc. Khi ấy, chúng ta có thể thấy rất nhiều căn bệnh nẩy sinh : bệnh hình thức, bệnh thực dụng, bệnh đoàn lũ, bệnh lý sự, bệnh nệ luật. . . Ở đây, tôi chỉ xin vạch mặt chỉ tên ba đứa “con đẻ” của thái độ duy tập thể trong cộng đoàn tu trì :

2.1 Thái độ duy tiện lợi

Khi tất cả đời sống tu trì chỉ còn là tổ chức và sinh hoạt, và khi bị áp lực phải bảo đảm nề nếp chung bất cứ giá nào, mà không nhận ra được giá trị chân chính của nếp sinh hoạt, người tu sĩ sẽ tìm cách sắp xếp giờ giấc, giờ kinh giờ lễ, giờ học giờ họp... sao cho tiện lợi nhất. Mối ưu tư sâu xa trong thái độ này là làm sao vẫn “giải quyết” được đòi hỏi phải giữ nề nếp, đồng thời tìm cách giảm thiểu đối đa những vướng víu mà nề nếp ấy để lại cho nếp sinh hoạt riêng của mình. Người ta sẽ không an tâm khi chưa đọc kinh và phải làm sao để đọc kinh cho đủ và cho xong chứ không quan tâm làm cách nào để những sinh hoạt phượng tự ấy thật sự có khả năng nuôi dưỡng đời sống tu trì. Chúng ta có thể thấy mẫu người này thường giữ rất cẩn thận mọi giờ chung, mọi giờ kinh nguyện, nhưng ít bận tâm về đời sống hiệp thông, chia sẻ với anh em, về sự gặp gỡ thực sự với Chúa Giêsu. Sự phân biệt đời sống chung và đời sống huynh đệ trong Tông huấn đời sống Thánh Hiến cho thấy nguy cơ này có thật.

2.2 Thái độ lệ thuộc quá nhiều vào tổ chức chung

Khi tất cả đời sống tu trì chỉ còn là tổ chức và sinh hoạt, người tu sĩ không có được những nhận thức và giá trị riêng, không có đủ bản lãnh để đón nhận hoàn cảnh một cách sáng tạo; khi ấy, người tu sĩ dễ bị lôi cuốn hoàn toàn theo quĩ đạo chung; đời tu chỉ là bảo đảm được những sinh hoạt chung và cá nhân trở thành một con số mất hút trong đám đông của cộng đoàn. Hơn nữa, trong tình hình ấy, tu sĩ sẽ bị qui định, bị đúc khuôn, bị trở thành một sản phẩm hàng loạt của lò đúc. Một xã hội đề cao tập thể sẽ phải lấy tiêu chuẩn lý lịch làm nguyên tắc để nhận định một con người; đó là lẽ đương nhiên. Khi tâm hồn không có được những giá trị, những ý nghĩa nhân bản và siêu nhiên, người tu sĩ sẽ hoàn toàn chịu áp lực của sự căng thẳng giữa nhu cầu riêng và nghĩa vụ phải tuân giữ nề nếp chung; sự căng thẳng ấy lại được biến hóa để trở thành một thái độ đòi hỏi và bất mãn không ngừng đối với tổ chức chung.

2.3 Thái độ đổ lỗi cho nhau

Khi tất cả đời sống tu trì chỉ còn là tổ chức và sinh hoạt, cộng đoàn trở thành một bãi chiến trường cho những tranh luận không ngừng; và người ta đổ lỗi cho nhau như thể chính người khác là căn nguyên cho mọi khó khăn của bản thân mình. Khi ấy, bất cứ ai làm việc cũng đều bị chê trách; bất cứ quyết định nào cũng có thể bị phản đối. Khi ấy, cộng đoàn tu trì không còn thể hiện được mình theo mẫu của cộng đoàn Giáo Hội, nghĩa là mầu nhiệm quy tụ không ngừng, luôn mở ra để quy tụ và đón nhận những khác biệt; cộng đoàn tu trì trở thành khuôn khổ để loại trừ tất cả những gì không giống mình.

3. TÌM KHUÔN MẶT ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN CHÂN CHÍNH

Dĩ nhiên, cách nói hơi tổng quát như trên không thể đúng với hết mọi trường hợp. Chúng ta không chối rằng có những người có khả năng tự chọn cho mình một giá trị, một lập trường, một thái độ để có thể chu toàn nề nếp chung một cách trưởng thành và ích lợi. Ta thử nêu lên vào yếu tố cần thiết cho thái độ trưởng thành ấy :

3.1 Bầu khí tự do

Dù ở bất cứ ở đâu, dù trong hoàn cảnh nào, con người phải thể hiện được nét tự do và tự chủ của mình. Chính trong sự tự do đó, mỗi người mới có thể có được thái độ tự nguyện hiến dâng. Thay vì dùng quyền bính để áp đặt những qui định của cộng đoàn, người lãnh đạo cần phải tạo điều kiện để mỗi thành viên trong cộng đoàn có được một bầu khí tự do, khơi lên được khả năng đón nhận những qui định chung như một giá trị của bản thân. Nếu không, việc điều hành cộng đoàn sẽ chỉ còn là một lô biện pháp đối phó với từng tình huống; cộng đoàn tu sĩ sẽ chỉ là tập thể đoàn lũ; tiêu chuẩn cộng đoàn chỉ còn là chạy theo “thành tích” của một thang điểm. Những thành tích ấy, vì không được tiếp nhận cách tự do để trở thành nét độc đáo của ngôi vị, sẽ rơi rụng khi hoàn cảnh xung quanh không còn thuận tiện.

3.2 Thái độ tự chủ

Phải nhìn nhận rằng, tại nhiều cộng đoàn tu trì, phong cách đào tạo và đánh giá người thụ huấn vẫn chỉ theo tiêu chuẩn tham dự những sinh hoạt chung; chỉ chấp nhận những người bảo đảm sinh hoạt chung, cho dù là tham dự vì sợ hoặc tham dự một cách hình thức; phong cách đào tạo ấy ít để cho cá nhân tự nhận ra trách nhiệm cá nhân của mình trước tập thể, mà chỉ thấy nghĩa vụ chung của một lớp mà mình là thành phần; ít giúp người thụ huấn trưởng thành trong thái độ tự nhận thức trách nhiệm bản thân mà chỉ là tìm phương cách đối phó với tình thế … Khi người thụ huấn không được mời gọi và được hướng dẫn để tự mình nhận ra trách nhiệm cá nhân đối với tập thể, khi tất cả vấn đề đời tu chỉ còn là sinh hoạt chung, là tuân giữ kỷ luật tu trì, thì đời tu chỉ còn là lớp vỏ của những sinh hoạt mà thôi.

Không ai đồng ý một tình trạng vô chính phủ, mạnh ai nấy sống, mỗi thành viên hoàn toàn tự do muốn làm gì thì làm. Tuy nhiên, trong quá trình đào tạo, nếu không nhấn mạnh đến khả năng tự chủ của mỗi cá nhân, tự chủ về bản thân mình trước vấn đề đặt ra, có khả năng sáng tạo ý nghĩa và tìm ra lập trường chân chính của mình để cùng chấp nhận một thực trạng chung, thì những khủng hoảng sẽ không ngừng xẩy ra.

3.3 Sự đồng hành

Nếu phương cách đào tạo không có sự đồng hành, tức thái độ lắng nghe và thông cảm với hoàn cảnh cụ thể riêng của từng cá nhân, để rồi giúp cá nhân ấy lựa chọn ý nghĩa, lựa chọn giá trị thích hợp để sống hòa hợp với cộng đoàn, ta sẽ tạo nên một đám đông đoàn lũ, ô hợp, đấu đá trên những sinh hoạt và tổ chức chung.

Mỗi người đều cần một sự đồng hành, liên đới, cần được chấp nhận con người thật của mình với tất cả cái xấu và cái tốt. Đời sống cộng đoàn là một hành trình tiến đến hiệp nhất chứ không phải là cuộc sát hạch để tính điểm và loại trừ. Văn kiện Đời sống Huynh đệ trong Cộng đoàn nhắc nhủ :

“Lý tưởng cộng đoàn không được làm chúng ta mù quáng trước sự kiện này là mọi thực tại Kitô giáo đựơc xây dựng trên sự mỏng manh yếu đuối của con người. Chưa có “một cộng đoàn lý tưởng” : sự hiệp thông hoàn hảo của các thánh là mục tiêu của chúng ta ở Giêrusalem trên trời.

“Thời của chúng ta bây là thời khởi công và kiên trì xây dựng. Chúng ta luôn luôn có thể cải thiện và cùng nhau đi tới một cộng đoàn khả dĩ sống trong tha thứ và yêu thương. Các cộng đoàn không thể tránh được hết mọi xung đột va chạm. Sự hiệp nhất mà chúng ta phải xây dựng là sự hiệp nhất được thiết lập bằng cái giá của sự hòa giải. Sự bất toàn trong cộng đoàn không được làm chúng ta nản chí.

“Mỗi ngày cộng đoàn lại lên đường. Được giáo huấn của các Tông Đồ nâng đỡ : “Hãy thương mến nhau với tình huynh đệ; coi người khác trọng hơn mình” [Rm 12,10]; “Hãy đồng tâm tâm nhất trí với nhau” [Rm 12,16]; “Hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em” [Rm 15,17]; “Tôi tin chắc rằng anh em… có khả năng khuyên bảo nhau” [Rm 15,14]; “Anh em hãy chờ nhau” [1 Cr 11,33]; “Hãy đem lòng yêu thương mà làm tôi lẫn nhau” [Gl 5,13]; “Hãy an ủi nhau” [ 1 Tx 5,11]; “Hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau” [Ep 4,32]; “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy phục vụ lẫn nhau”[Ep 5,21]; “Hãy cầu nguyện cho nhau” [Gc 5,16]; “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau” [1 Pr 5,5]; “Chúng ta được hiệp thông với nhau” [1Ga 1,7]; “Khi làm điều thiện, chúng ta đừng có nản chí, nhất là cho những anh em cùng trong đại gia đình đức tin” [Gl 6,9-10]. [ĐSHĐTCĐ, số 26].

Thái độ chấp nhận nhau có thể làm cho bước tiến của cộng đoàn nên chậm chạp, sốt ruột… Tuy nhiên, chính sự chậm chạp như thế thường là biểu hiện một sự trưởng thành chân chính. Bước tiến của cộng đoàn giống như một số người đứng chung trong một cái bao, rất khó để nhích lên một bước. Tuy vậy, Kitô giáo hoàn toàn không phải là con đường thoát hiểm cho một số người mà chính là sự liên đới trong tội lụy, để rồi, nhờ sự hiệp thông trong cộng đoàn ân phúc mà chiến thắng được thế lực của tội lụy. Trong ý nghĩa ấy, chính sự hiệp thông, chấp nhận được nhau, liên đới với nhau trong hành trình . . . đã là một dấu hiệu tỏ bày sự hiện diện của Nước Thiên Chúa.

4. TỪ NỀN TẢNG THẦN HỌC CỦA ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN

4.1 Sự hiệp nhất của Ba Ngôi

Theo truyền thống Giáo Hội, nền tảng thần học sâu xa nhất của sống cộng đoàn chính là mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa; cộng đoàn tu trì phản ảnh và thông dự vào đời sống của Thiên Chúa, một Thiên Chúa Duy Nhất trong Ba Ngôi Vị.

Chúng ta chẳng biết được đời sống nội tại trong Ba Ngôi. Tuy nhiên, qua sự bộc lộ của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, chúng ta có thể nhận ra mầu nhiệm hiệp nhất của Ba Ngôi được thể hiện mang đầy tính lịch sử và hiện sinh. Chúng ta không thấy một sự thống nhất tự động của một bản tính Thiên Chúa duy nhất, theo kiểu khi một Ngôi suy nghĩ điều gì thì đương nhiên các Ngôi khác cũng có cùng suy tư và cảm nghĩ như thế. Ngược lại, mạc khải cho chúng ta thấy tính cách ngôi vị thể hiện rõ nét trong sự hiệp nhất nên một của Ba Ngôi. Sự hiệp nhất ấy, một cách nào đó, có một “quá trình lịch sử”, một “nỗ lực khó khăn”, một thái độ “từ bỏ và tự hiến” để thực hiện một nhiệm cục cứu độ duy nhất. “Tiến trình nên một” ấy được bộc lộ theo cách dấn thân tự do của ngôi vị chứ không phải một cách tự động của bản tính. Đức Giêsu đã phải chiến đấu trong suốt sứ vụ công khai và trong cuộc tử nạn để thi hành Thánh Ý Chúa Cha, khởi từ ba cơn cám dỗ, cho đến nỗi lo âu buồn phiền trong vườn Cây Dầu :

“Người nói với các ông : tâm hồn Thầy buồn đến chết được… Người nói : Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” [Mc 14, 34.36].

Cũng thế, ta thấy Chúa Thánh Thần không làm điều tùy hứng, nhưng tình nguyện tiếp nối công trình của Chúa Giêsu :

“Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói : Người lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” [Ga 16, 13-15].

Ta có thể diễn tả cách khác : nếu hai con người có quyền bính như sau, họ thường chọn thái độ không bên nào chịu bên nào, thái độ “cá đối bằng đầu” và đưa đến tình trạng “thập nhị sứ quân”, “vô chính phủ”. Đó là tình trạng bình đẳng nhưng không hiệp nhất. Ngược lại, nếu trong hai người đó có một người có quyền lớn hơn, kẻ ấy lại thường dùng quyền bính áp lực để tạo sự thống nhất trong đời sống chung; cách thức này lại đưa đến tình trạng hiệp nhất nhưng không bình đẳng. Như thế, có lẽ chỉ có một phương cách duy nhất để giữ được sự bình đẳng và hiệp nhất, đó là con đường tự nguyện và tự hiến; sự tự hiến này không làm mất nhưng lại càng gia tăng phẩm giá, đồng thời tạo nên sự hiệp nhất cả hai. Ta có thể loại-suy từ biểu đồ này để tạm hiểu rằng : theo cách thức Thiên Chúa tự mạc khải cho con người, “con đường” đi từ sự độc đáo và bình đẳng của các Ngôi Vị đến một Bản Tính duy nhất của Thiên Chúa chính là con đường tự hiến. Như thế, ta hiểu thêm về mầu nhiệm tự hủy của ngôi Lời Thiên Chúa [Xc. Pl 2, 6-11]; hoặc nói theo Eckhart, trong Thiên Chúa có “quyền năng xóa mình”.

Như thế, sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa luôn mang tính cách bình đẳng của ngôi vị; trong đó mỗi Ngôi vẫn luôn là mình và không bao giờ đánh mất chính ngôi vị của mình để chỉ còn một ngôi duy nhất. Đây là kiểu hiệp nhất “Ba mà Một, Một mà Ba”.

4.2 Sự hiệp nhất từ bản chất Giáo Hội

Giáo Hội được thiết lập như sự phản ảnh đời sống Ba Ngôi; như thế, nét căn bản của Giáo Hội, như ngày nay người ta thích trình bày, chính là sự hiệp thông. Sự hiệp thông này, theo nguyên lý của Ba Ngôi, cũng bao hàm một sự bình đẳng và kêu mời tự hiến.

Mặt khác, Giáo Hội ở đây cần phải hiểu như là một sự qui tụ [Assemblée] tức là một sự rộng mở với những khác biệt, liên tục đón nhận những người khác, và có khả năng thâu hợp muôn dân nước. Tính cách công giáo của Giáo Hội như thế phải được thể hiện trong mỗi người Kitô hữu cũng như trong mỗi cộng đoàn trong Giáo Hội. Giáo Hội, trước tiên không phải là một cộng đoàn [Communauté] theo nghĩa những người sống chung một nếp sống, tuân theo một khuôn mẫu và khác biệt với những người ở ngoài cộng đoàn. Cách hiểu này có nguy cơ đưa đến sự khoanh vùng, phân biệt và loại trừ. Như thế, các cộng đoàn trong Giáo Hội cũng phải bộc lộ đặc tính qui tụ trong chính đời sống hằng ngày, với chính những phần tử trong cộng đoàn của mình.

Ở đây, Giáo Hội qui tụ cũng là một Giáo Hội hành trình trong lịch sử, tiến đến Ngày Chung cuộc của Nước Trời. Mầu nhiệm hiệp thông của Giáo Hội được thể hiện trên hành trình lịch sử ấy, với việc thâu hợp những con người muôn mầu muôn vẻ, chứ không phải là một sự tự hoàn thiện bằng con đường siêu thoát để khỏi dính bén vào trần gian tội lụy.

4.3. Những hệ luận trong tương quan cộng đoàn

Từ hai nền tảng thần học về đời sống cộng đoàn như thế, chúng ta có thể rút ra một vài hệ luận trong đời sống cộng đoàn :

4.3.1 Sự hiệp nhất của Thiên Chúa biểu lộ một sự tôn trọng sâu xa đối với ngôi vị. Đây cũng là nét căn bản của nhiệm cục sáng tạo và cứu độ. Con người được Thiên Chúa sáng tạo không phải bằng một giọt máu thần linh nào, để rồi phải trở về với Ngài như một sự hòa tan. Trái lại, con người được mời gọi để sống trung tín với Chúa bằng chính thái độ tự do, tự nguyện và tự hiến. Công đồng Vatican II diễn tả điều ấy trong một công thức tuyệt vời:

“Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến dâng” [MV 24c]

Như thế, dữ kiện nền tảng của mọi lý tưởng sống trong Gíao Hội, dù ở bất cứ ở đâu, dù trong hoàn cảnh nào, cũng phải thể hiện được nét tự do và tự chủ của phẩm giá con người. Chính trong sự tự do ấy, mỗi người mới có thể có được thái độ tự nguyện hiến dâng.

4.3.2 Chiều hướng qui tụ của Giáo Hội cho thấy, trong đời sống cộng đoàn, điều quan trọng duy nhất không phải chỉ là áp dụng Hiếp Pháp Hội Dòng bằng bất cứ giá nào, so chiếu qui định của Hiến Pháp trên cuộc sống của từng con người. Nếu chỉ căn cứ vào Hiến Pháp như một khuôn mẫu siêu hình, bất di bất dịch, ta sẽ thấy mọi người đều sai sót. Dĩ nhiên Hiến Pháp luôn là điểm qui chiếu, là lý tưởng phải hướng tới, nhưng đó là sự qui chiếu như một sức sống năng động đưa dẫn đời sống cụ thể của từng cá nhân và cộng đoàn chứ không phải là một khuôn mẫu cứng nhắc và lạnh lùng để kết án.

Qủa thật, hệ quả chính của tội tổ tông là sự chia rẽ trong nhân loại, và chương trình cứu độ của Thiên Chúa, trước tiên, cũng nhằm tới sự hiệp nhất của một nhân loại mới. Nét đặc trưng của nhiệm cục cứu độ, trước hết, chính là sự chấp nhận được nhau nhờ tình thương của Thiên Chúa chứ không phải chỉ là một sự tự hoàn thiện theo một khuôn mẫu. Niềm vui lớn và chính yếu nhất của người dâng hiến chính là niềm vui hiệp nhất chứ không phải chỉ là niềm vui tự thấy mình “thanh thoát” vì hoàn thiện.

KẾT

Nói chung, hiện nay, người ta thấy rằng phong cách sống theo kiểu những động vật vỏ cứng không còn thích hợp, nhưng cần phải theo phong cách của những động vật có xương sống. Động vật vỏ cứng có vẻ vững chắc đấy, nhưng trong thời đại có nhiều va đập như hiện nay, chúng lại dễ chết khi bị nứt vỏ. Ngược lại, động vật có xương sống có lớp da mềm, dễ bị thương tích, nhưng lại không dễ chết. Phong cách động vật vỏ cứng đề cao những lớp vỏ bảo vệ : kỷ luật, áp lực, nề nếp, phong tục… Trong khi phong cách của động vật xưng sống lại nhấn mạnh tới yếu tố gắn kết nội tại bên trong : tình yêu, ý nghĩa chân chính, lòng tha thiết với sứ vụ. . .

Cũng thế, chúng ta thấy một sự tiến triển rõ rệt của bầu khí Tân Ước so với bầu khí Cựu Ước. Trong khi Cựu Ước là giao ước khắc trên đá, thì Tân Ước lại là Giao Ước lại là giao ước khắc và tâm khảm. Trong khi Cựu Ước là giao ước đối với dân như một tập thể, được thể hiện trong lề luật cứng nhắc, bao trùm, thì Tân Ước lại bao gồm, trong mầu nhiệm Giáo Hội, lời mời gọi gởi đến từng cá nhân, để mỗi người có thể chấp nhận Thánh ý của Thiên Chúa đối với bản thân. “Quả thật, giả như giao ước thứ nhất đã hoàn hảo rồi, thì chẳng cần phải tìm giao ước thứ hai để thay thế” [Dt 8,7].

DÀN BÀI

1. Phong cách thời bao cấp 01

2 Tình trạng Gíao Hội và đời sống tu trì tại Việt Nam 03

2.1 Thái độ duy tiện lợi 06

2.2 Thái độ quá lệ thuộc vào tổ chức chung 07

2.3 Thái độ đổ lỗi cho nhau 07

3. Tìm khuôn mặt đời sống cộng đoàn chân chính 08

3.1 Bầu khí tự do 08

3.2 Thái độ tự chủ 08

3.3 Sự đồng hành 09

4. Từ nền tảng thần học của đời sống cộng đoàn 11

4.1 Sự hiệp nhất của Ba Ngôi 11

4.2 Sự hiệp nhất từ bản chất Gíao Hội 13

4.3 Những hệ luận trong tương quan cộng đoàn 13

Kết

Chú thích:

[1] Văn kiện Đời sống huynh Đệ trong Cộng đoàn [02-02-1994] nói rằng : “.. .. cần phải tìm kiếm một sự quân bình chính đáng, - một điều không phải luôn luôn dễ dàng đạt được – giữa công ích và sự tôn trọng con người, giữa những đòi hỏi và nhu cầu của cá nhân với nhu cầu cộng đoàn. Giữa đoàn sủng cá nhân và sứ vụ cộng đoàn. Sự quân bình đó phải tránh sức mạnh phân rẽ của chủ nghĩa cá nhân lẫn khía cạnh cào bằng của chủ nghĩa cộng đoàn. Cộng đoàn tu sĩ là nơi diễn ra cuộc vượt qua hằng ngày và kiên trì từ cái “tôi” đến “chúng ta”, từ công tác của tôi đến công tác được ủy thác cho cộng đoàn; từ việc tìm kiếm “những điều thuộc về tôi” đến việc tìm kiếm “những điều thuộc về Đức Kitô”. [ĐSHĐ s. 39]

[2] Xc. T/h Đời Sống Thánh Hiến, số 43; Văn Kiện 1994 của bộ Tu Sĩ, số 3.

[3] Có một sự hiểu lầm lâu đời khi người ta nhìn Gíao Hội như một “cộng đoàn” khuôn khổ [communauté] thay vì phải hiểu là cộng đoàn qui tụ [assemblée].

[4] Xc. T/h Đời Sống Thánh Hiến ss. 17-19.

[5] Xc, Vatican II, GH ss. 3,4,5.

[6] Xc. Đặc điểm của Giao Ước Mới là mối liên hệ giữa từng cá nhân một với Thiên Chúa. Xc. Dt 8,11 [chú thích b], 1 Tx 4,9; 1 Ga 2,27; 5,20]. . .