TÂM TÌNH CĂN BẢN

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Xã hội văn minh càng ngày sợ những mối liên hệ tình nghĩa phức tạp, người ta muốn chuẩn hóa mọi mối liên hệ bằng quy định của luật pháp. Trong khi đó, tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo lại diễn tiến theo một chiều hướng ngược lại hoàn toàn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến nhiều người tây phương từ bỏ Kitô giáo, để sống vô thần, hoặc chọn theo những tôn giáo khác. Ta có thể duyệt xét một nét tiêu biểu của vấn đề này, vấn đề tội lỗi.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. Tìm lại sức mạnh căn bản của tình nghĩa

Xã hội văn minh càng ngày sợ những mối liên hệ tình nghĩa phức tạp, người ta muốn chuẩn hóa mọi mối liên hệ bằng quy định của luật pháp. Trong khi đó, tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo lại diễn tiến theo một chiều hướng ngược lại hoàn toàn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến nhiều người tây phương từ bỏ Kitô giáo, để sống vô thần, hoặc chọn theo những tôn giáo khác. Ta có thể duyệt xét một nét tiêu biểu của vấn đề này, vấn đề tội lỗi.

1.1 “Cái ác” trở thành ”tội lỗi”

Kinh Thánh cho thấy tội lỗi chính là một đường nét căn bản trong tình tự ơn cứu độ Kitô giáo. Trong hoàn cảnh thực tế của con người có tội, thì chính tội lỗi lại là khung cửa để con người nhận ra mối tương quan với Thiên Chúa. Theo nhãn quan Kinh Thánh, cái ác không phải chỉ là một sự bất toàn mà mình “có gan chơi” thì “có gan chịu”, nhưng cái ác đặt con người đối diện với Chúa và với tha nhân. Cái ác trở thành tội vì cái ác không phải chỉ là chuyện giữa ta với sự vật, những là chuyện giữa ta với ai khác. Cái ác trở thành tội, vì cái ác diễn tả trách nhiệm của ta với ai khác; cái ác không còn chỉ là vô minh, không còn chỉ là ngu dốt, không còn chỉ là lầm lẫn, nhưng là một thái độ bất trung. Chính vì thế, tội lỗi hé lộ cho con người nẻo đường đi vào ơn cứu độ. Như thế, trong chiều hướng của Thánh Kinh, để giải quyết cái ác, thì không phải là chọn phương cách giảm nhẹ cái ác, làm cho các ác trở thành một “sự vật”, nhưng một cách nào đó là gia trọng tầm mức của cái ác để trở thành tội lỗi, thành trách nhiệm đối với ai khác.

1.2 Tội lỗi và ơn cứu độ

Chính từ nẻo đường của mối tương quan ngôi vị do tội lỗi đặt ra mà người Kitô hữu được mời gọi để đi vào ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Chính người tội lỗi lại là những người có nhiều cơ may nhất để đón nhận được ơn cứu độ của Chúa, bởi vì họ nhận ra trách nhiệm của mình với Chúa và nhận ra mình cần tới Chúa. Nhận ra mức độ trầm trọng của tội lỗi để có thể nhận ra lòng khao khát ơn cứu độ; nhận ra sự bất trung để nhận ra nẻo đường của ơn cứu độ bằng tình yêu thương. Đó là một trong muôn vàn nét “đảo ngược” kỳ lạ của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô :

“Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).

“Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”. (Lc 15,7).

1.3 Cứu độ và nên thánh

Các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là những con người ưu tuyển, cả về phương diện trí thức cũng như về phương diện đời sống luân lý; các thính giả của Chúa Giêsu cũng không phải là những người có văn hóa cao hoặc là những người lành thánh nào cả. Ngược lại, những người chung quanh Chúa, hầu hết là những con người bình thường, hoặc có thể nói là tầm thường, hoặc rất tầm thường nữa. Dĩ nhiên, với những người như thế, Chúa Giêsu thường dùng những dụ ngôn, với những hình ảnh và những chuyện đời thường để tỏ bầy những chân lý cao siêu; và dĩ nhiên Chúa Giêsu cũng không thể một lúc trình bày được hết những mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa. Thế nhưng, về phương diện đạo đức, Chúa lại không ngần ngại đặt ra những lý tưởng cao vời của đời sống luân lý. Chúa không giảm nhẹ chút nào đòi hỏi của lý tưởng Tin Mừng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong toàn bộ giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu, đặc biệt trong bài giảng trên núi :

“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48)

Nẻo đường mà Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ bước vào là một nẻo đường mà ngay cả những bậc thánh hiền cao cả nhất của nhân loại cũng không dám nghĩ đến :

"Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó”. (Mt 7,12).

Điều mình không muốn người khác làm cho mình, như đức Khổng Tử dạy, thì chỉ giới hạn trong một số điều thôi; nhưng điều mình muốn người khác làm cho mình thì lại vô cùng, không có giới hạn, đó mới chính là điều đức Giêsu dạy.

Chúng ta có thể thấy rõ, nẻo đường đi vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là bình bình, vừa vừa, phai phải, nhưng là một bước nhẩy trọn vẹn và quyết liệt vào con đường nên thánh, vào con đường hun hút đến trời mà tự thân nhân loại không dám bước vào. Con đường ấy dĩ nhiên chỉ khả thi trong ơn cứu độ của Đức Giêsu, chỉ khả thi khi người Kitô hữu nhẩy vào thế giới của Nước Trời và đón nhận được sự sống mới trong ơn sủng của Chúa Thánh Thần. Quả thật tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo chỉ có thể hình thành được từ con đường nhận ra tầm mức hệ trọng của tội lỗi để có thể bước vào con đường trở nên con cái của Thiên Chúa. Một cái ác lớn thì chỉ có thể được giải quyết bằng một cái thiện lớn.

“Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông. Khi một người mạnh được vũ trang đầy đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an toàn. Nhưng nếu có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được.” (Lc 11,19-22)

Tất cả nẻo đường ấy đề không phải là nẻo đường của đời sống luân lý, nhưng là nẻo đường của ơn cứu độ, một thứ ơn cứu độ bằng tình nghĩa.

2. Mắc nợ nghĩa tình

Sinh ra làm người, người đã mắc nợ nhau về rất nhiều điều : ngôn ngữ, văn hóa, những giá trị nhân bản… Nhưng nhất là con người được sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình.

Mắc nợ là điều có lẽ chẳng ai muốn. Khi mắc nợ tiền bạc, mắc nợ một sự vật nào đó, người ta tìm cách trả cho xong để có thể thảnh thơi tính toán công việc làm ăn cho riêng mình. Đó là khi mà sự trao đổi giữa người này với người kia hoàn toàn chỉ là một sự trao đổi đồ vật; và người ta muốn giới hạn mối tương quan con người với nhau trong mức độ “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, chẳng những mức độ “thuận mua vừa bán” không thể giải quyết rốt ráo tương giao con người với nhau, nhưng tự chính thâm tâm mỗi người cũng không thể tìm được sự an hòa bản thân trong xã hội công bằng mà không mở ra đến khung trời yêu thương. Con người khát vọng yêu thương và khung trời yêu thương không là gì khác hơn thế giới của mắc nợ nghĩa tình, thế giới vượt trên những trao đổi sòng phẳng, thế giới mà người ta biết trao tặng tấm lòng, trao tặng bản thân và biết đón nhận với lòng tri ân. Món nợ nghĩa tình là món nợ không bao giờ có thể trả hết. Khi người ta biết trao tặng cho nhau tấm lòng và trao tặng cho nhau chính bản thân, thì thái độ liêm chính nhất của người nhận lãnh là sống trong tâm tình mắc nợ nghĩa tình. Bởi vì tấm lòng con người và nhất là bản thân của mỗi con người đều là điều vô giá mà người lảnh nhận không thể lấy điều gì để bù đắp cho cân xứng.

Không phải ngẫu nhiên mà, bình thường, con người có tâm tình mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ của mình. Lòng hiếu thảo của con người đối với cha mẹ, thật ra, không phải là một sự trả nợ công lao của cha mẹ như một thứ công xá. Công xá, dù có lớn lao đến đâu vẫn là một thứ có thể trả được một cách sòng phẳng. “Công xá” cha mẹ là sự trao tặng của nghĩa tình, là sự trao tặng của cả một đời, của chính bản thân cha mẹ, và điều đó không bao giờ người con có thể đền đáp được. Con cái được ơn mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ, một sự mắc nợ cần thiết cho đời người, một món nợ ngọt ngào, một món nợ hồng phúc mà nhờ đó đứa con có thể sống cho ra người, sống trong lòng tri ân và sống trọn vẹn bản thân mình để đền đáp nghĩa tình mà mình đã được lãnh nhận. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình làm cho con người không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là sống cho tình yêu; món nợ nghĩa tình làm cho con người không còn chỉ an tâm sống trong thế giới sự vật nữa, nhưng được móc nối để có khả năng bước vào lĩnh vực tình người, lĩnh vực trao đổi bản thân của mình với người khác. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình không phải là một sự bận lòng, phiền hà, mà là một tình cảm ngọt ngào của người được yêu.

“Anh em đừng mắc nợ gì cả, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8).

Sống trong mắc nợ nghĩa tình, con người như được hoán cải từ bên trong, để có thể vận dụng tất cả mọi năng lực của bản thân mình mà sống cho xứng đáng với ân nghĩa mà mình đã được lãnh nhận. Người ta nói rằng ; bình thường con người không mấy khi sử dụng hết năng lực của mình. Chỉ trong những hoàn cảnh bắt buộc, những tình huống nguy hiểm, người ta mới bỗng thấy mình làm được những điều mà chính mình cũng không ngờ. Khi đứa con biết sống trong tâm trạng mắc nợ nghĩa tình, thì nó có được một sức mạnh vô địch, nó sẽ không còn lợi dụng những khó khăn để chữa mình với cha mẹ, nhưng cương quết bằng chính tấm lòng để vượt qua những khó khăn và làm cho bằng được điều làm vui lòng cha mẹ. Hơn nữa, sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình, đứa con như được hướng dẫn từ lương tri để có thể sống tốt, sống xứng đáng với công lao của cha mẹ.

3. Lãnh nhận với lòng tri ân

3.1 Sống dựa và bệnh sĩ

Khi đón nhận, người ta sẽ có thể rơi vào hai thái cực, thái cực hoặc bất cập . Nếu đứa con dựa dẫm, nó sẽ không biết đón nhận với lòng tri ân, nó không biết quí trọng món qùa nhận được như là món quà vô giá của chính tấm lòng, nó tiêu xài đồng tiền của cha mẹ một cách phung phí hoặc một cách dễ dãi, nó nghĩ thầm hết tiền thì lại xin mẹ, thi rớt thì bố cũng lo cho mình được học để thi lại thôi.,.. Ngược lại, cũng có những người sống theo kiểu bệnh sĩ, không muốn lảnh nhận điều gì của ai mặc dù mình rất cần đến nó; hoặc không muốn nhận tấm lòng của ai,nên chọn giải pháp làm một phép tính để qui đổi tấm lòng của người khác thành đồng tiền, thành sự vật, nhằm mong có thể trả lại sòng phẳng.

Bệnh sĩ và sống dựa, cả hai thái cực đó đều là những tình cảm xấu, đều là cách thức giản lược cuộc sống nghĩa tình của con người với nhau trở thành cuộc trao đổi sự vật, cuộc trao đổi bên ngoài bản thân, cuộc trao đổi có thể chấm dứt khi đã giải quyết sòng phẳng. Nhưng người ấy sẽ chẳng tìm được hạnh phúc và sức mạnh của kẻ được “mắc nợ tình nghĩa” và sống cả một cuộc đời với sự vật chứ không phải với con người. Ta có thể nói được rằng những thái độ ấy là một cách né tránh sống trọn kiếp người.

3.2 Lãnh nhận trong lòng tri ân

Nếu có điều kỳ diệu trong trao tặng, thì cũng có điều kỳ diệu trong lãnh nhận. Lảnh nhận trong lòng tri ân, là đón nhận món quà của người khác như là đón nhận chính tấm lòng. Người ta có thể mua bán đổi chác được mọi sự, đồng tiền mua lấy vật dụng và sự phục vụ , tài năng mua được một sự nể phục, đạo đức mua được sự kính trọng, địa vị mua được sự vâng phục… nhưng lòng quí mến chân thành của một người này dành cho một người khác thì không gì có thể mua bán được. Tấm lòng của con người là một huyền nhiệm vô giá mà không gì có thể tương xứng để đổi chác. Do đó cũng không ai có thể mua được tấm lòng của người khác. Người ta chỉ nhận tấm lòng khi được ban tặng mà thôi :

“Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh chê”.(Dc 8,7)

Lãnh nhận trong lòng tri ân cũng là đón nhận tấm lòng người trao tặng bằng chính tấm lòng. Đó là dùng chính tấm lòng của mình để ấp ủ tấm lòng của người khác; đó là một chương trình “từ trái tim đến trái tim”; đó thật sự là hiệp thông, là “ở trong” nhau chứ không phải chiếm hữu hay mua bán đổi chác:

“…để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con.” (Ga 17,21).

Khi người ta biết đón nhận từ tấm lòng chứ không so đo tính toán theo tương giao lễ nghĩa của công ước xã hội, thì chính tấm lòng tri ân ấy sẽ nối kết “từ bên trong” những thành viên gia đình với nhau, để người này có thể thông chia vui buồn với người kia; và để tiếp sức mạnh của tình nghĩa phát huy trọn sức mạnh trong cuộc đời mỗi người .Chính lòng tri ân như vậy trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những quyết tâm sống liêm chính hơn, sống hoàn thiện hơn. Đón nhận tấm lòng để biết tri ân nhau, chúng ta được bước vào một thế giới mới, thế giới đặc trưng của đời sống gia đình, thế giới của lòng tri ân.

3.3 Bước vào thế giới của lòng tri ân

Có khi người mẹ cho con hai trăm ngàn đồng để đi chơi với bạn bè; đứa con llãnh nhận với lòng tri ân mẹ vì mẹ làm điều đó không phải vì “trả nợ quỉ thần”, nhưng chỉ do tấm lòng yêu thương của mẹ mà thôi. Rồi khi đứa con đi chơi về, nó cố tình để dành lại năm ngàn đồng để mua cho mẹ một cái bánh; bà mẹ đón nhận món quà của con cũng với lòng tri ân, vì đứa con đã tình nguyện và bằng tấm lòng của mình, dùng năm ngàn đồng mà nó đã nhận để diễn tả tình yêu đối với mẹ. Đó là thế giới của lòng tri ân chứ không phải là thế giới của sự mua bán đổi chác sòng phẳng. Đó là thế giới mà các sự vật, hai trăm ngàn đồng và năm ngàn đồng, không còn chỉ là giá trị đồng tiền theo ngân hàng nhà nước, nhưng là phương tiện để diễn tả nghĩa tình mẹ-con với nhau. Trong sự trao đổi ấy, chính tấm lòng con người là thực tại khiến người ta tri ân nhau chứ không phải là hai trăm ngàn hay năm ngàn đồng.

Điều quan trọng không phải là trị gía món quà bạn lãnh nhận, mà là chính tấm lòng. Bạn cần vượt qua, nhẩy qua khỏi thế giới thuận mua vừa bán để thênh thang bước vào thế giới của lòng tri ân khi nhận ra dấu hiệu của nghĩa tình. Thế giới của lòng tri ân cũng diễn ra theo qui luật “đắp đổi” của cuộc sống, “bánh ít cho đi, bánh qui cho lại”. Nếu bạn bắt đầu sống tình nghĩa thì bạn sẽ được đáp lại bằng tình nghĩa; và cái tình nghĩa ấy sẽ đắp đổi để mỗi ngày một sâu đậm hơn. Nếu bạn bắt đầu được bằng thái độ tri ân, thì lòng tri ân cũng sẽ được đắp đổi để nhân lên nơi người thân của bạn. Ngược lại, nếu bạn so đo, tính toán; nếu bạn tiếp tục phàn nàn trách móc bạn sẽ chẳng gieo mầm được cho thế giới nghĩa tình. Trong cuộc sống, đặc biệt là trong gia đình, điều hết sức cần thiết là bạn hãy dám tin vào tình yêu, tin vào sự thiện, tin vào tấm lòng, tin vào lòng tri ân… và tin vào sức mạnh của những điều ấy củng có nghĩa là cần một lòng kiên vững và trung tín. Lòng kiên vững ấy sẽ được mạnh mẽ thêm nhiều khi bạn biết gắn những thiện hảo ấy vào niền tin nơi Chúa. Khi gieo tình thương, Chúa đã chẳng gặt được ngay hoa trái của tình thương, nhưng là sự trả thù bằng chính bản án tử hình. Nhưng dù thế nào đi nữa, tình yêu không thể thua cuộc; và dù hai ngàn năm qua, tình yêu của Chúa vẫn tiếp tục sống động để gây dựng vương quốc tình yêu của Ngài.

“Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian”.(Ga 16,33).

Trong bình diện đời sống nghĩa tình, người ta luôn luôn biết tri ân nhau vì những tình cảm tốt đẹp mà người này dành cho người kia. Tâm tình đó xóa mờ những thứ mà ở nơi khác người ta có thể cho là bất công.

* Tạm Kết

Nếu mầu nhiệm Nước Trời vượt quá tính cách “trao đổi” của Cựu Ước, để vươn tới mức độ nghĩa tình cao quí hơn do tính cách “trao tặng”, thì sức mạnh căn bản của đời sống mới cũng chính là tâm tình “mắc nợ nghĩa tình”, và đó mới thực sự là động lực chân chính trong “đẳng cấp” của đời sống nghĩa tình.