Bài dịch | Thuyết kiểm đúng và kiểm sai | Claire Johnson (Phần 2) *Lý thuyết kiểm đúng* Vậy nguyên tắc kiểm…
*Lý thuyết kiểm đúng*
Vậy nguyên tắc kiểm đúng là gì và nó nói lên điều về khoa học? Triết gia người Anh Alfred J Ayer trình bày điều đó rõ ràng nhất trong cuốn Language, Truth, and Logic, nguyên tắc kiểm đúng là nguyên tắc cho phép ta xác định liệu một mệnh đề triết học là có nghĩa hay hoàn toàn vô nghĩa.
Những người ủng hộ nguyên tắc này đã phản đối những giả định vô nghĩa được cho là chiếm phần lớn trong triết học. Ý tưởng đó là ta có thể (và nên) loại bỏ những câu nói vô nghĩa khỏi lĩnh vực triết học.
Cách thức để làm điều đó chính là phân tích kỹ lưỡng những từ ngữ và thuật ngữ trong một câu, rồi xem xem liệu từ đó có tương ứng với nghĩa đen của nó hay không. Nếu ý nghĩa của mỗi con chữ trong câu đều sáng sủa, không gây nhầm lẫn, và không mâu thuẫn, thì ta có thể tiến hành bước hai: xem xét xem trong hoàn cảnh nào, dưới quan sát nào, thì mệnh đề đó là tích cực hay tiêu cực. Nếu ta có thể thực hiện những quan sát đem lại câu trả lời rõ ràng, thì khi đó có thể kết luận rằng mệnh đề được đưa ra là có nghĩa.
Điều này có nghĩa là một câu nói được đưa ra là có nghĩa nếu ta biết được cách để xác minh thông tin mà nó đang cố truyền đạt.
Hãy thử lấy một ví dụ của Mortiz Schilick – người sáng lập chủ nghĩa thực nghiệm logic. Câu nói cần được phân tích là, “có những ngọn núi bên phần tối của mặt trăng”. Rõ ràng là câu nói này không hề chứa bất kỳ thông tin nào mơ hồ hay gây nhầm lẫn nào trong mỗi từ ngữ nói riêng và cả câu nói chung.
Vậy thì ta sẽ tiến hành bước thứ hai. Có những quan sát rõ ràng nào để xác minh sự tồn tại của những ngọn núi nằm bên phần tối của mặt trăng không? Trong ví dụ này, không có cách nào để ta lên mặt trăng kiểm tra, và cũng không có công nghệ nào để xem xét. Tuy nhiên, vẫn có một ý tưởng về phương pháp quan sát để giúp ta xác định việc đó: ta có thể tưởng tượng những cách thức quan sát để xác minh câu nói trên, thậm chí cả khi những phương pháp này vẫn là bất khả thi ở thời điểm hiện tại. Do đó, mệnh đề trên là có thể được kiểm chứng và do đó – có nghĩa.
Giờ hãy thử một ví dụ khác với kiến thức siêu hình (mang đậm chất Hegel), “Cái tuyệt đối xâm nhập vào sự tiến hóa và phát triển, nhưng bản thân con người lại không có khả năng làm được điều đó”. Câu nói đã gây khó hiểu ngay từ đầu. Cái chữ “tuyệt đối” ở đây nghĩa là gì. Những chữ “tiến hóa” và “phát triển” rõ ràng không mang nghĩa đen thông thường. Ngoài ra, toàn bộ câu nói cũng gây khó hiểu, diễn đạt không rõ ràng ý muốn nói. Thứ hai, ta thậm chí cũng chẳng thể tưởng tượng ra cái cách nào để xác định xem liệu cái tuyệt đối có thật sự xâm nhập vào tiến hóa và phát triển – đơn giản là không có cách nào để kiểm chứng tính đúng đắn của nó. Do đó, theo thuyết kiểm đúng, câu trên vừa vô nghĩa vừa không mang bất cứ giá trị triết học hay khoa học nào.
*Lý thuyết kiểm sai*
Karl Popper – một triết gia nối tiếng và rất quan trọng của thế kỷ 20, là một trong những người đầu tiên phê phán thuyết kiểm đúng. Quan trọng hơn là ông đã đề xuất một hướng tiếp cận khác: thuyết kiểm sai. Dù nghe có vẻ trái ngược, nhưng thuyết kiểm sai của Popper lại có nhiều nét tương đồng với ý tưởng đằng sau thuyết kiểm đúng.
Thuyết của Popper dựa trên ý tưởng rằng mọi mệnh đề đều có khả năng là sai, trong khi thuyết kiểm đúng lại dựa ý tưởng xác định tính đúng đắn của một mệnh đề. Popper đưa ra lý thuyết này như một phản ứng với thuyết kiểm đúng. Trong tác phẩm Logik der Forschung (Logic của khám phá khoa học), ông nhấn mạnh rằng những tiêu chí của thuyết kiểm đúng nên bị loại bỏ và thay thế bằng tiêu chí khác: tiêu chí có thể có phân biệt giữa những câu hỏi và câu trả lời mang tính khoa học và ngụy khoa học (phi khoa học hay siêu hình). Theo Popper tiêu chí này chính là khả năng có thể sai.
Nhưng tiêu chí này thật sự bao gồm những gì? Theo Popper, thay vì tìm kiếm những lý lẽ ủng hộ cho các quan điểm khoa học, thì những quan điểm này cần phải liên tục bị thử thách tính đúng đắn hay sự bác bỏ. Lý thuyết nào chịu được nhiều nhất (hay tất cả) mọi nỗ lực bác bỏ thì sẽ được chấp nhận.
Cũng theo Popper, một đặc điểm chủ chốt của những lý thuyết khoa học chính là có thể có những bằng chứng để bác bỏ chúng. Các lý thuyết cần phải chịu những sự chỉ trích gây gắt và liên tục thực nghiệm. Bởi ông tin rằng, những lý thuyết khoa học chân chính sẽ không bao giờ được hoàn thiện nếu không được liên tục quan sát hay chứng minh là luôn luôn khả thi, bất kể số lần quan sát đã được kiểm chứng trước đó là phù hợp với lý thuyết.
Popper cho rằng một số ngành khoa học được tuyên bố là có giá trị khoa học như chiêm tinh học, siêu hình học, chủ nghĩa Marx, và phân tâm học đều không phải khoa học thực nghiệm vì chủ đề của chúng không thể được kiểm sai. Nghĩa là chúng cũng có thể bị bác bỏ tương tự như cách những kiến thức khoa học bị bác bỏ.
Cr: Sodom