Đạo đức của niềm tin Có sai về mặt đạo đức không khi tin vào điều gì đó mà không có, hoặc thậm chí bất chấp…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Đạo đức của niềm tin

Có sai về mặt đạo đức không khi tin vào điều gì đó mà không có, hoặc thậm chí bất chấp bằng chứng?
"Một chủ tàu chuẩn bị cho tàu ra khơi, trên tàu đầy người nhập cư. Ông ta biết rằng con tàu đã già nua và có vài hỏng hóc ngay từ đầu; ông ta biết rằng nó cần được sửa chữa,ông ta cũng đã nghi ngờ rằng nó có thể vận hành tốt cho chuyến đi này.. Những nghi ngờ này giày vò tâm trí người chủ tàu và khiến ông không vui; ông phân vân rằng có lẽ nên đại tu và hoãn chuyến đi này, mặc dù điều này sẽ khiến ông mất nhiều tiền.
Tuy nhiên, trước khi con tàu ra khơi, ông ta đã thành công trong việc vượt qua những suy tư u sầu này, bằng việc tự nhủ rằng con tàu đã trải qua rất nhiều chuyến đi và vượt qua biết bao giông bão một cách an toàn đến mức cảm thấy thật vô ích khi cho rằng nó sẽ không trở về nhà an toàn sau chuyến đi này. Ông ta sẽ đặt niềm tin vào Chúa, Đấng khó có thể không bảo vệ tất cả những gia đình bất hạnh nhập cư đang rời bỏ quê hương để tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn ở nơi khác. Bằng suy nghĩ này, người chủ tàu lại có được niềm tin chân thành và thoải mái rằng con tàu hoàn toàn an toàn và có thể đi biển; ông đứng nhìn nó nhổ neo với trái tim nhẹ nhõm và những lời chúc nhân từ cho sự thành công của những người lưu vong trong trong đích đến sắp tới của họ.
Người chủ tàu đã nhận được tiền bảo hiểm khi con tàu chìm giữa đại dương…”
Câu chuyện trên là từ một tiểu luận kinh điển có tựa đề “Đạo đức của niềm tin” của William K. Clifford, một nhà toán học và triết học người Anh thế kỷ 19. Nó bắt đầu một cuộc tranh luận hiện đại nổi tiếng và có tác động mạnh mẽ trong lĩnh vực mà ngày nay là toàn bộ lĩnh vực giao thoa giữa đạo đức và nhận thức luận. William James, nhà triết học và tâm lý học người Mỹ, đã đáp lại Clifford bằng một bài tiểu luận nổi tiếng khác, “Ý chí tin tưởng”, và trong bài viết này chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn những lập luận do Clifford, James và một số nhà nghiên cứu đưa ra, và cả của triết gia khác đi trước họ. Bởi vì niềm tin của chúng ta có ý nghĩa đạo đức và chúng ta nên hành động phù hợp.
Clifford, trên cơ sở phân tích các tình huống giống như trường hợp của chủ tàu, đã đề xuất cái mà ngày nay được gọi là Nguyên tắc Clifford:
“Luôn luôn là sai, ở mọi nơi và với bất cứ ai tin vào bất cứ điều gì mà không có đủ bằng chứng.” Clifford đứng về phía cái mà các triết gia gọi là Chủ nghĩa Chứng minh: quan điểm nhận thức luận đạo đức mà chúng ta buộc phải hình thành niềm tin chỉ trên cơ sở có đủ bằng chứng. Ngược lại, James là một người theo chủ nghĩa thực dụng, theo ông, đôi khi việc hình thành niềm tin khi chúng ta không có đủ bằng chứng là điều bình thường, và quả thực, trong một số trường hợp, chúng ta thực sự buộc phải làm như vậy. Cả hai quan điểm đều có một phả hệ triết học lừng lẫy: John Locke, chẳng hạn, thay mặt cho Chủ nghĩa Chứng minh đã phát biểu:
“Người tin mà không có lý do gì để tin, có thể đang yêu những tưởng tượng của chính mình.” (Một tiểu luận về sự hiểu biết của con người 1690, tr. 687) ; David Hume, một người đồng hành trong thời kỳ Khai Minh, đã nói rằng: "Một người khôn ngoan có niềm tin tỷ lệ thuận với bằng chứng." (Về những điều kỳ diệu, phần I).
Nhưng cũng có những khẩu đại bác khác, Blaise Pascal đồng ý với James rằng: về một số vấn đề quan trọng, chúng ta không, và có lẽ không thể, có đủ bằng chứng để quyết định, tuy nhiên việc tin vào đó lại là đạo đức hoặc thực dụng. Ví dụ nổi tiếng của ông là về “sự tồn tại của Chúa”. Theo những gì ngày nay chúng ta gọi là Cuộc đánh cược của Pascal, sẽ hợp lý hơn - trên cơ sở thực dụng - khi quyết định tin rằng có một Thiên Chúa. Tại sao? Vì nếu chúng ta đúng thì phần thưởng là vô hạn (Thiên đường), còn nếu chúng ta cược ngược lại và sai thì hình phạt cũng sẽ là vô hạn (Địa ngục). Ngược lại, nếu chúng ta đặt cược vào Chúa mà không có Chúa thì chúng ta cũng không thua nhiều. Chúng ta vừa sống một cuộc đời đạo đức, thậm chí không hề hy vọng được đền đáp. Kant cũng nghĩ rằng những cân nhắc về đạo đức-tôn giáo có thể biện minh cho niềm tin vào Chúa khi không có đủ bằng chứng.
James lại nói : “Khi tôi xem xét vấn đề tôn giáo như nó thực sự đặt ra cho những con người cụ thể, và khi tôi nghĩ đến tất cả những khả năng mà nó liên quan đến cả về mặt thực tế và lý thuyết, thì có một mệnh lệnh này là: chúng ta phải dừng trái tim & bản năng lại và chờ đợi - tất nhiên trong khi đó hãy cứ hành động ít nhiều như thể tôn giáo không có thật - cho đến ngày tận thế, hoặc cho đến khi trí tuệ và giác quan của chúng ta phối hợp với nhau có thể tìm ra đủ bằng chứng (Ý chí tin tưởng và các tiểu luận khác trong triết học đại chúng, 1896, trang 11).
Có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta lùi lại một chút và tự hỏi mình một vài câu hỏi quan trọng: niềm tin là gì? Và đó có phải là thứ thực sự nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta không? Nếu không, liệu chúng ta có thể hiểu được cuộc tranh luận về việc chúng ta nên (hoặc không nên) tin hay không? Andrew Chignell, trong Bách khoa toàn thư triết học Stanford, nói với chúng ta rằng “niềm tin (đại khái) là một thái độ mang tính định hướng, khẳng định đối với một mệnh đề hoặc tình trạng sự việc”. Vì vậy, nếu tôi tin, chẳng hạn, rằng hiện tại đang là giữa trưa ở Sài Gòn, điều này có nghĩa là tôi có thái độ tích cực (vì tôi đồng ý) đối với mệnh đề “bây giờ là giữa trưa ở Sài Gòn” cũng như giả định tương ứng với tình hình (trên thực tế, lúc này đang là giữa trưa ở Sài Gòn). Ngược lại, tôi không tin rằng Juventus F.C. là đội bóng xuất sắc nhất mọi thời đại, điều đó có nghĩa là tôi có thái độ tiêu cực (vì tôi không đồng ý) đối với mệnh đề “Juventus F.C. là đội bóng giỏi nhất từ trước đến nay.” Đối với tình trạng tương ứng, vấn đề cụ thể đó có thể khó xác định nếu không dành nhiều thời gian hơn để tìm hiểu cách đo lường mức độ “tốt nhất” trong bối cảnh này. Chignell cũng nói với chúng ta rằng: “Nhiều triết gia và nhà tâm lý học đã kết luận rằng niềm tin ít nhiều là một phản ứng không chủ ý đối với những bằng chứng được nhận thức. Nhưng nếu một hành vi không ‘tùy thuộc vào chúng ta’ theo bất kỳ ý nghĩa quan trọng nào thì thật khó để biết chúng ta có thể chịu trách nhiệm thực hiện hành vi đó như thế nào.” Ah! Rất vui vì anh ấy đặt nó theo khía cạnh cái gì là (và không) “tùy thuộc vào chúng ta”, bởi vì đó chính xác là cách các nhà Khắc kỷ cổ đại - và đặc biệt là Epictetus - đã nói. Và họ thực sự là biết đôi điều về tâm lý và đạo đức của niềm tin. Cụ thể, các nhà Khắc kỷ đã phân biệt 3 giai đoạn nhận thức mà cùng nhau sẽ giúp chúng ta hiểu được cuộc tranh luận hiện đại: “ấn tượng, đồng ý và xung lực”. Vì đây là những thuật ngữ kỹ thuật nên hãy định nghĩa ngắn gọn chúng:
1. Ấn tượng (trong tiếng Hy Lạp, phantasiai, sing. phantasia) là những phán đoán tiền nhận thức bắt nguồn từ những trải nghiệm trước đây hoặc suy nghĩ tiềm thức của chúng ta. Ví dụ: mèo thì tốt, hay mèo ích kỷ; căn bậc hai của 9 là 3, hoặc căn bậc hai của 9 là 4.
2. Đồng ý (trong tiếng Hy Lạp ; sunkataesis) là sự xác nhận, thường ở cấp độ nhận thức, về ấn tượng ban đầu: mèo thực sự là loài động vật ích kỷ; căn bậc hai của 9 thực sự là 3. (Rõ ràng, người ta có thể phủ nhận những ấn tượng khác, chẳng hạn như những con mèo thực sự rất tử tế, hoặc căn bậc hai của 9 là 4.)
3. Xung lực (trong tiếng Hy Lạp ; orgē), là một chuyển động của ý chí hướng tới hành động mà chúng ta trải nghiệm vì đã đồng ý với một ấn tượng nhất định.
Trong tâm lý học Khắc kỷ, chuỗi nhân quả kết nối ba hiện tượng này trông như thế này: “ấn tượng > đồng ý > xung lực”. Ấn tượng là không tự nguyện. Tuy nhiên, sự đồng ý là kết quả của sự suy ngẫm (ít nhất là ở những cá nhân có xu hướng suy ngẫm về mọi thứ, nếu không thì nó là ngầm định), và do đó, xung lực cũng mang tính tự nguyện, là kết quả của sự kết hợp cụ thể giữa ấn tượng và sự đồng ý.
Hãy thử áp dụng phương pháp Khắc kỷ vào một trường hợp thực tế. Hãy tưởng tượng rằng tôi đang đi trên một sàn nhà trong suốt lơ lửng ở độ cao lớn không có lan can (ví dụ: tầng trên cùng của Landmark 81 với sàn nhà là kiếng trong suốt nhìn thấu xuống mặt đất). Tôi có thể sợ hãi vì tôi tin rằng khả năng cao là tôi sẽ bị ngã. Nhưng tôi có thể gạt bỏ niềm tin đó - từ chối đồng ý với nó - dựa trên sự hiểu biết của tôi về vật lý và kỹ thuật của tình huống này. Trình tự sẽ là (theo kiểu Khắc kỷ): ấn tượng (tào lao! Tôi sắp ngã!) > (phủ nhận) sự đồng tình, trên cơ sở bằng chứng và kiến thức (không, tôi sẽ không gục ngã) > xung lực (tôi thực sự đang bước đi trên cái sàn nhà đó). Nếu chúng ta tạm thời đồng nhất nội dung niềm tin hiện đại với khái niệm ấn tượng của chủ nghĩa Khắc kỷ thì hóa ra là chúng ta không kiểm soát được niềm tin của mình. Nhưng điều đó không miễn trừ chúng ta khỏi trách nhiệm đạo đức, bởi vì hành động phù hợp về mặt đạo đức ở đây bao gồm hai thành phần còn lại: sự đồng ý và xung lực, và chúng ta phải kiểm soát tốt cả hai điều đó.
Quay trở lại ví dụ của Clifford về người chủ tàu, bây giờ chúng ta có thể hiểu tại sao ông ta “thực sự có tội về cái chết của những người nhập cư đó”. Ông ta có thể ít nhiều có ấn tượng chân thành rằng không có gì phải lo lắng. Nhưng phần còn lại của những gì Clifford mô tả, tất cả những lý do hợp lý hóa và bác bỏ những bằng chứng ngược lại, mới là điều khiến người chủ tàu đồng ý với ấn tượng ban đầu một cách có ý thức. Từ đó dẫn đến “xung lực thôi thúc” hành động theo một cách nhất định (hay nói đúng hơn trong trường hợp câu chuyện trên là không hành động gì cả và để con tàu ra khơi như cũ). Và nếu con người phải chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì thì đó là sự phán xét có chủ ý và có ý thức của chúng ta.Theo nghĩa của chủ trương này của chủ nghĩa Khắc kỷ - và cũng như Hume đã nói - một người có lý trí sẽ cân đối “niềm tin” của mình với bằng chứng, chính việc một số người không thể từ chối sự đồng ý với những ấn tượng ích kỷ của họ đã khiến họ (một cách đáng trách) yêu thích những tưởng tượng của chính mình, như Locke đã nói.
Thế còn lập luận của James (cả của Pascal và Kant) rằng trong những điều kiện nhất định, chúng ta không chỉ có quyền, mà đôi khi còn bị bắt buộc, phải chấp nhận những niềm tin (tức là sử dụng ngôn ngữ mới của chúng ta, đồng ý với những ấn tượng) bất chấp hoặc thậm chí chống lại bằng chứng, thì sao? Hãy xem một trường hợp trần tục hơn (là niềm tin vào Chúa), và có thể hấp dẫn hơn là: “Giả sử rằng bạn muốn giữ mối quan hệ tốt đẹp với cậu con trai tuổi teen của mình và bạn biết rằng điều này đòi hỏi phải tin tưởng vào những điều tốt nhất của cậu ấy bất cứ khi nào có thể. Bạn cũng có một số bằng chứng khứu giác vừa phải nhưng không thuyết phục rằng cậu chàng đang sử dụng ma túy trong nhà khi bạn đi vắng (để trả lời câu hỏi của bạn, cậu chàng nói rằng gần đây tập thiền…và mùi buồn cười khi bạn về nhà nghe thấy là chỉ là hương liệu…). Cũng giả sử rằng bạn đủ hiểu bản thân để biết rằng mối quan hệ của bạn với con trai sẽ bị tổn hại nghiêm trọng nếu bạn coi nó như một người thường xuyên sử dụng ma túy. Điều này cho thấy rằng bạn sẽ vi phạm một quy tắc thận trọng nếu bạn cứ tiếp tục và tin rằng cậu ta làm như vậy. Nói cách khác, điều khôn ngoan là, xét đến mục đích của bạn, bạn nên từ bỏ niềm tin hoàn toàn về nguồn gốc của mùi thơm, hoặc thậm chí tin rằng, nếu có thể, rằng cậu ta không hút thuốc mà chỉ đốt hương khi bạn vắng mặt. Điều đầu tiên sai trong ví dụ này giờ đây đã được làm rõ qua phân tích của chúng ta về bộ ba “ấn tượng - đồng ý - xung lực”: đơn giản là tôi sẽ không thể tự lừa dối mình theo cách mà Chignell gợi ý, và Chignell dường như nhận ra điều đó, nhờ việc sử dụng từ hạn định “nếu có thể”. Người cha giả định của chúng ta, có nhiều lựa chọn cho ông ấy, ví dụ, ông ấy có thể tự giải quyết thành kiến của mình đối với việc sử dụng ma túy nhẹ. Và nếu loại thuốc được đề cập không nhẹ thì dù sao thì ông ấy cũng phải vượt qua thái độ của mình và thực sự giúp đỡ con trai mình. Thứ nữa là, một lập luận đã được đưa ra - từ những người theo chủ nghĩa Khắc kỷ cho đến thời hiện đại - rằng lý do khiến sự thật được đánh giá cao trong xã hội loài người là vì nó là kim chỉ nam hành động tốt nhất, khi đó, việc chủ động tạo ra những ảo tưởng về bản thân sẽ trở nên phản đối về mặt đạo đức vì nó nguy hiểm về mặt thận trọng. Khi James nói với chúng ta rằng chúng ta không đủ khả năng để quyết định về điều gì đó mà chúng ta không có đủ bằng chứng, ông đang đưa ra rất nhiều giả định cơ bản về lý do chính xác tại sao chúng ta lại cảm thấy cấp bách như vậy. Hãy xem xét điều này: nếu chỉ có một thực tế ở ngoài kia (như tôi tin là như vậy) thì sẽ có một tập hợp các mệnh đề đúng mô tả chính xác thực tế đó, và cũng có vô số mệnh đề không mô tả được nó. Điều này ngụ ý rằng nếu chúng ta quyết định đồng ý với một mệnh đề mà chúng ta không có đủ lý do để tin là đúng thì chúng ta sẽ có nguy cơ mắc sai lầm cực kỳ cao.
Có ít nhất hai lập luận bổ sung ủng hộ quan điểm của Clifford về đạo đức của niềm tin. Đầu tiên, nếu ai đó tin tưởng mà không có bằng chứng trong một trường hợp thì điều đó rất có thể dẫn đến việc hạ thấp các tiêu chuẩn nhận thức của họ nói chung, gây ra những hậu quả thực tế bất lợi. Ví dụ, nếu bạn chấp nhận một thuyết âm mưu, bạn sẽ có xu hướng chấp nhận những thuyết âm mưu khác. Có bằng chứng thực nghiệm tốt cho thấy điều này thực sự đúng như vậy.Thứ hai, và có liên quan, từ góc độ đạo đức đức hạnh, ngay cả khi tin vào điều gì đó không có bằng chứng thì không gây ra những hậu quả thực tế bất lợi, việc đam mê những gì tương đương với một thói xấu nhận thức sẽ làm suy yếu nhân cách của một người. Điều mà có lẽ chúng ta không muốn làm, ít nhất là không nếu chúng ta đặt bất kỳ ưu tiên nào cho các khái niệm như sự thật, thực tế, v.v.
Vậy chúng ta hãy tạm kết luận bằng việc trích dẫn Clifford từ bài tiểu luận mang tính bước ngoặt của ông: “Không ai có niềm tin trong bất kỳ trường hợp nào là vấn đề riêng tư chỉ liên quan đến chính họ. Cuộc sống của chúng ta được hướng dẫn bởi quan niệm chung về diễn biến của sự việc do xã hội tạo ra vì mục đích xã hội. Lời nói, câu chữ, hình thức, quy trình và phương thức suy nghĩ của chúng ta là tài sản chung, được hình thành và hoàn thiện theo thời gian; một vật gia truyền mà mọi thế hệ kế tiếp thừa kế như một kho báu quý giá và một niềm tin thiêng liêng để chuyển giao cho thế hệ tiếp theo, không thay đổi nhưng được mở rộng và thanh lọc, với một số dấu hiệu rõ ràng về công việc thủ công thích hợp của nó. Điều này, dù tốt hay xấu, đều dệt nên niềm tin của mỗi người có lời nói như đồng loại của mình. Một đặc ân khủng khiếp và một trách nhiệm khủng khiếp là chúng ta phải giúp tạo ra thế giới mà hậu thế sẽ sống trong đó.”

Cr: lửng mật