Chủ nghĩa dân tộc và sự chuyển đổi tri thức ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX Một trong những thời điểm quan trọng…
Một trong những thời điểm quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam là đầu thế kỷ XX. Đây là thời điểm mà thế giới quan của người Việt đã bị thay đổi 180 độ. Tuy nhiên, sự thay đổi này chưa được ghi chép rõ ràng và rất hiếm khi được thảo luận.Về cơ bản, những gì đã xảy ra vào đầu thế kỷ XX là: giới tri thức Việt Nam đã nhận ra được một thực tế rằng người phương Tây nhìn thế giới rất khác so với họ. Ở phương Tây vào thế kỷ XIX, có một điều rất phổ biến và hiển nhiên là người dân xem mỗi đất nước là mỗi quốc gia riêng biệt, có ngôn ngữ và văn hóa riêng biệt. Đây là một cách nhìn thế giới hoàn toàn khác so với cách nhìn mà người Việt Nam có học thức đã duy trì trong nhiều thế kỷ cho đến thời điểm đó.Trước thế kỷ XX, giới tri thức Việt Nam tự hào vì mình là “văn hiến”, có nghĩa là biết đọc và biết viết chữ Hán cổ điển, sáng tác thơ ca như các nhà thơ vĩ đại Lý Bạch hay Đỗ Phủ, mặc áo mũ thời nhà Minh. Người Việt Nam thời đó tự hào vì làm theo “Y quan Chu chế độ, Lễ nhạc Tống quần thần”.Không có tập quán văn hóa nào trong số này khiến người Việt có học thức trở nên khác biệt, nhưng sự “khác biệt” không phải là vấn đề. Vấn đề là phải “văn hiến” và người Việt có học thức tin rằng đây là một điều kiện phổ quát, không phải là đặc điểm quốc gia.Tại sao thế giới quan của các tri thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX bắt đầu thay đổi? Đó là bởi vì người phương Tây bắt đầu chinh phục, thực dân hóa và thống trị châu Á. Đây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng thế giới “văn hiến” không mạnh mẽ bằng thế giới của các “quốc gia – dân tộc”. Vì vậy, giới trí thức Việt Nam bắt đầu tìm cách xây dựng một “quốc gia” từ thế giới “văn hiến” của họ.Ở đầu thế kỉ XX, một số vị quan triều Nguyễn đã làm rõ rằng khái niệm quốc gia không phải là khái niệm quen thuộc với nhiều người ở vùng đất của họ, và rằng để cho người ta hiểu được khái niệm này cần phải nỗ lực, và phải làm thông qua giáo dục. Sau đây là lời dẫn của Hoàng Đạo Thành, tác giả của “Việt sử tân ước toàn biên” viết năm 1906:“Khi người ta lên 7 tuổi và vào trường tiểu học, họ cần phải học văn học dân tộc và lịch sử của nó. Điều đó cũng đúng với phụ nhân, vì đây là cách chúng ta khiến cho từ “quốc gia” khắc sâu vào trí não mỗi người. Hẳn phải củng cố điều đó để nó không thể lay chuyển; khiến nó bám chặt không thể rơi rụng. Do đó, họ sẽ xem lãnh thổ quốc gia như tài sản của chính họ, và sẽ hành xử với nhau như đồng bào".Về nguyên nhân vì sao khái niệm quốc gia không được biết đến, các trí thức ở đầu thế kỉ XX đổ lỗi cho hệ thống khoa cử, khi mà chương trình học chỉ chú trọng vào “Bắc Sử” chứ không phải “Nam Sử”. Khi viên quan triều Nguyễn là Hoàng Cao Khải miêu tả điều mà những người đã học để thi trong suốt nhiều thế kỉ được biết, ông khẳng định:“Họ biết về Hán (Cao Tổ) và Đường (Thái Tông), mà không biết rằng Đinh Tiên Hoàng và Lê Thái Tổ là những quốc chủ. Họ biết về Khổng Minh (tức Gia Cát Lượng) và Địch Nhân Kiệt, mà không biết về Tô Hiến Thành và Trần Quốc Tuấn là những đại thần. Họ biết về chiều cao núi Thái Sơn, độ sâu sông Hoàng Hà, mà không biết mạch núi tổ của Tản Viên Sơn, hay nơi khởi nguồn của sông Mekong. Điều này, do đó, khiến người dân của nước ta làm theo phong tục của những dân tộc khác. Từ mũ mão, hôn lễ, tang lễ hay tế lễ, chẳng có gì lại không tiến hành từ sự bắt chước Trung Quốc”.Khi chủ nghĩa dân tộc (nationalism) thâm nhập vào Việt Nam, tất cả những gì mà giới tri thức Việt Nam đầu thế kỷ XX thấy chỉ là “tính Trung Quốc”. Trong khi những thế hệ trước đó, cha ông họ chỉ thấy sự “văn hiến”. Nói cách khác, một khi “văn hiến” trở thành một thứ giống như “văn hóa Tàu” thì quá khứ đã trở thành một “vấn đề” đối với trí thức Việt Nam.Năm 1917, nhận thức về tầm quan trọng của việc xây dựng “quốc hồn” đối với sự tồn vong của dân tộc, Nguyễn Bá Trác – một vị quan triều Nguyễn đã viết một bài tiểu luận bằng Hán văn mang tên “Dân tộc chủ nghĩa luận” được đăng trên Nam Phong tạp chí như sau:“Ngoài những yếu tố đa dạng có tính bề ngoài [như lịch sử, chủng tộc, ngôn ngữ, lãnh thổ…], còn có một thực thể tuyệt phẩm siêu hình, nằm trên địa hạt tinh thần, không khác gì một cơ thể thì phải có linh hồn vậy. Đó là cái gọi là quốc hồn, là cái bao phủ lên nền tri thức của quốc gia, tình cảm của quốc gia, giúp cho quốc gia tự nhận thức về nó như một quốc gia, làm cho nó có khả năng tự hồi sinh, tự quy định chính mình, để một quốc gia tự vun trồng, nuôi dưỡng sức mạnh của nó.Đó là nguyên khí, sự sống của một nước. Những thành tố khác của quốc gia có thể bị huỷ diệt, nhưng chỉ cần một yếu tố ấy còn tồn tại thì sinh mệnh quốc gia sẽ vẫn còn trên địa cầu này. (…)Niềm trông cậy đặt vào sức mạnh thần kì này của tinh thần là vô cùng to lớn”.Đối với thế hệ Nguyễn Bá Trác, cái thẩm quyền được tự lập là một quốc gia riêng, hoàn toàn không phụ thuộc vào chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ… mà phụ thuộc vào “quốc hồn” của cộng đồng ấy. Ông trích dẫn triết gia Pháp Renan luận về “quốc hồn” như sau:“Con người không phải nô lệ cho chủng tộc của họ, không phải là nô lệ cho ngôn ngữ của họ, không phải là nô lệ cho tôn giáo của họ, không phải là nô lệ của một dải núi cao sông dài (tức “không phải là nô lệ cho lãnh thổ” – người dịch chú thích). Sự kết nối của đa số những con người như vậy tạo thành ý chí cao đẹp, tất yếu cấu thành nên một tâm hồn chung. Tâm hồn chung ấy làm mỗi cá nhân quên đi lợi ích cá nhân của riêng mình mà cùng nắm lấy cái vận mệnh chung của cả cộng đồng. Đó chính là giai đoạn thăng hoa cao đẹp nhất của tâm hồn. Nếu đạt đến điều đó là có thể được coi là một nước, có đặc quyền được bảo tồn, duy trì trên mặt địa cầu này như một quốc gia.”Đối với Nguyễn Bá Trác, việc người “Việt” có bộ gen khác hay giống bộ gen của người “China” (cách gọi “Trung Quốc” đương thời) không phải là điều quan trọng. Vấn đề nằm ở chỗ, dân tộc của ông bao phen chống lại “China”, biết mình không phải là nó, nhưng đã không gây dựng một “Quốc hồn” khác biệt với nó.Những gì Nguyễn Bá Trác nói là rất có cơ sở. Bạn sẽ rất ngạc nhiên khi xem ghi chép của vương triều Nguyễn (nhà nước) và các quan chức về những cư dân cư trú trên lãnh thổ hình chữ S. Liệu bạn có tìm thấy người Chăm, người Ede, người Mường, người Khmer… Câu trả lời là không. Thay vào đó là những “Hán nhân”, “Thanh nhân”, “Minh hương”, ‘Phiên nhân”, “man”, “thổ”. Và “hán nhân” chính là cụm từ mà người Việt tự gọi mình thời xưa. Vì sao lại có hiện tượng này?Quan niệm Nho gia cho rằng, lịch sử chính trị là lịch sử của các dòng họ cầm quyền, và dòng họ đầu tiên nắm quyền cai trị vùng đất Việt là họ Hồng Bàng. Kỷ về Hồng Bàng thị là một sáng tạo truyền thống (invented traditon), là một sáng tạo lịch sử của Ngô Sĩ Liên, trong đó tập hợp các huyền thoại về quốc tổ của các thể chế chính trị Nho giáo Hoa Hạ, với các truyền thuyết dân gian (trong
Lĩnh Nam chích quái) và truyện truyền kỳ thời Đường.Nhiều người hiện nay cho rằng, đây là một phả hệ không thể chấp nhận, vì phả hệ này cho rằng “người Việt” có nguồn gốc là “người Hán”. Song, ta cần phân tích đây là một quan niệm lịch sử mang tính thời điểm. Ngô Sĩ Liên cho rằng, nguồn gốc của thế chế chính trị Đại Việt thời ông là bắt nguồn từ mô hình chính trị trong kinh điển Nho giáo. Cho nên, ta thấy hàng loạt các vị Hoàng đế viễn cổ huyền thoại của Hoa Hạ đã được lắp ghép vào bảng phả hệ chính trị Đại Việt. Dường như hiểu được sự mong manh của cách thức kiến tạo truyền thống này, nên Ngô Sĩ Liên đã đưa toàn bộ Kỷ Hồng Bàng và các triều đại sau đó (cho đến Kỷ nhà Ngô) vào phần Ngoại kỷ. Như vậy, điều khiến cho Ngô Sĩ Liên tạo nên một bảng “phả hệ Hán” cho Đại Việt chính là tư tưởng Nho giáo. Lịch sử chính trị Hoa Hạ dài đến đâu, lịch sử Đại Việt dài đến đó. Đây là một truyền thống chính trị Nho giáo được kiến tạo nhằm củng cố cho quyền lực chính trị Đại Việt đương thời.Hệ quả của nhận đồng chính trị dẫn đến nhận đồng lịch sử và nhận đồng nguồn gốc dân tộc: người Việt là một nhánh di cư của người Hán, tổ tiên của người Việt là người Hán, lịch sử Hoa Hạ dài bao nhiêu, lịch sử Đại Việt dài bấy nhiêu. Hạt nhân của bảng phả hệ chính trị (có mang tính huyết thống- gia tộc này) là khái niệm “chính thống”. Xung quanh hạt nhân này, nhiều thế hệ nhà Nho đã sử dụng một tập hợp các khái niệm hữu quan như “Hán văn minh” –
“Hán lễ nhạc” – “Đường chế độ”- “văn hiến chi bang”. Sự nhận đồng chính trị, nhận đồng mô hình nhà nước của các triều đình phong kiến tại Việt Nam trong lịch sử kéo theo sự nhận đồng về huyết thống và dân tộc.Sự nhận đồng được đẩy lên đến đỉnh điểm vào triều Nguyễn, khi các hoàng đế quân chủ của triều đại này như Gia Long- Minh Mệnh- Thiệu Trị- Tự Đức và các sử gia Nho thần, coi rằng mình là hậu duệ chính thống của Hán nhân, là những người tiếp nối chính đáng nhất của nền chính trị Nho giáo.Đó cũng là lý do vì sao Nguyễn Bá Trác cảm thấy rằng thế hệ cha ông đã không thể gây dựng một “Quốc hồn” khác biệt so với Trung Hoa.Ở Việt Nam, trong học thuật, nhu cầu tự nhận thức về quốc gia mình, quốc gia như một thực thể tinh thần trừu tượng chứ không phải đồng nhất nó với triều đại chính trị, xuất hiện khá muộn, vào đầu thế kỷ XX, với các cây bút
Nam Phong tạp chí
và Hội Khai trí Tiến đức như Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Trần Trọng Kim… Ở thập niên 1920, họ đã tìm thấy và dựng nên một biểu tượng của giá trị văn hoá dân tộc là tác phẩm
Truyện Kiều
của Nguyễn Du, tương tự ở Nhật Bản hơn một thế kỉ trước đó, Motoori Norinaga phát hiện, hay đúng hơn, kiến tạo một biểu tượng của văn hóa Nhật Bản là
Truyện Genji.
Tuy nhiên, khái niệm dân tộc đòi hỏi dân tộc phải có quá khứ, và quá khứ đó càng dài thì càng tốt. Vì vậy, giới trí thức Việt Nam trong thế kỷ XX đã phải tìm cách xử lý lịch sử lâu dài của nền “văn hóa Trung Hoa” trong quá khứ của người Việt và bằng cách nào đó biến nó thành “văn hóa Việt Nam”.Các học giả miền Bắc và miền Nam Việt Nam từ những năm 1960 và 1970 đã phải vật lộn với chủ đề này và hướng tiếp cận để giải quyết vấn đề của họ cũng là rất khác nhau.Các học giả ở miền Bắc đã áp dụng cách tiếp cận "dân tộc chủ nghĩa cổ điển” bằng cách lập luận về một "tính Việt Nam thuần túy" luôn tồn tại (như một đối tác ngang hàng với "tính Trung Quốc"). Họ cho rằng người Việt là một nhóm Di riêng biệt, và tất cả văn hóa Hoa là đến sau này, nhưng không thay đổi bản chất Di của họ.Tuy nhiên, điều này đặt ra nhiều câu hỏi. Văn hóa Việt Nam là gì? Làm thế nào để đối phó với tất cả văn hóa Hoa trong quá khứ? Nếu văn hóa Hoa được "chấp nhận," liệu nó có phải là một cái “vỏ ngoài” và không thực sự quan trọng cho văn hóa "Việt Nam thuần khiết"? Bỏ đi những yếu tố “Hoa” đó thì văn hóa Việt còn lại gì?Các học giả ở miền Nam thì khác. Họ xem văn hóa Hoa là trung tâm của văn hóa Việt nhưng gặp khó khăn trong việc làm cho điều đó "có thể chấp nhận được" với những người Việt hiện đại nhìn theo góc nhìn quốc gia – dân tộc.Ví dụ, lập luận cơ bản của Nguyễn Phương cho rằng những người mà ngày nay chúng ta gọi là người Việt là những người di cư từ Trung Quốc, do đó nền văn minh Hoa là thiết yếu đối với văn hóa Việt vì Hoa với Việt là một, đây cũng là luận điểm mà rất nhiều người Việt (thời đó) không thể chấp nhận.Lương Kim Định cũng cho rằng văn hóa Hoa là trung tâm của văn hóa Việt nhưng ông còn đi xa hơn Nguyễn Phương khi cho rằng chính người Việt cổ mới là người tạo ra văn hóa Hoa, đồng thời ông cho rằng người Trung Quốc là những người đến sau, chiếm đoạt những ý tưởng văn hóa đó của người Việt, thống trị rồi biến nó thành văn hóa Hoa phổ biến sau này. Theo Kim Định, người Việt là Hoa còn Trung Quốc là Di đã đánh cắp các tập tục văn hóa Hoa của người Việt.Ý tưởng của Kim Định là rất "điên", Tạ Chí Đại Trường cũng phê phán ông là "tinh thần dân tộc quá khích". Tuy nhiên, con đường trí tuệ dẫn Kim Định đến kết luận này là con đường đã đi qua một số ý tưởng học thuật vĩ đại nhất của thế kỷ XX, ông hiểu Saussure (ngôn ngữ học), Lévi-Strauss (nhân chủng học), Granet, Creel, Needham (tất cả đều thuộc Hán học), Foucault (triết học), và ông xây dựng lập luận của mình dựa trên những nghiên cứu mới nhất của những học giả thời đó. Học thuật phát triển khi các học giả sử dụng lý thuyết để đưa ra những tuyên bố táo bạo. Những tuyên bố như vậy đôi khi “quá” táo bạo, khiến các học giả khác thách thức những tuyên bố đó và thiết lập một sự hiểu biết hợp lý hơn. Quá trình đó lặp đi lặp lại nhưng tựu chung lại là sẽ khiến học thuật càng ngày càng phát triển. Kim Định đưa ra một số ý tưởng táo bạo nhưng không một ai đủ kiến thức về lý thuyết như Kim Định để có thể thách thức các ý tưởng của ông. Kết quả là Kim Định bị chế giễu hoặc phớt lờ nhưng một khi ai đó có đủ kiến thức như ông họ sẽ thấy có điều gì đó trong những ý tưởng của ông là sâu sắc.Vấn đề của quá khứ tiền hiện đại này đã ám ảnh giới trí thức Việt Nam trong suốt 100 năm qua. Họ không thể tìm ra cách giải quyết tất cả những “tính Trung Hoa” trong quá khứ “Việt Nam”, cũng như trong tiếng Việt.Tuy nhiên, vấn đề thực sự là người Việt Nam hiện nay không thể chấp nhận một sự thật rằng tổ tiên của họ đã nghĩ khác với họ, rằng tổ tiên họ không coi thế giới bị chia rẽ về mặt văn hóa giữa "Việt Nam" và "Trung Quốc".Nói một cách dễ hiểu: Nếu ngày nay chúng ta tự hào mình là người “Việt Nam” và mình rất khác với “Trung Quốc” thì tổ tiên chúng ta trước thế kỷ XIX có thể sẽ tự hào mà nói rằng: “Chúng ta là văn hiến!”. Và “văn hiến” thì...rất giống “Trung Quốc”.Có thể thấy chủ nghĩa dân tộc đã làm thế giới quan của các tri thức Việt Nam thay đổi nhiều như thế nào. Nó khiến con người ta - những thế hệ hậu sinh sau này, không thể nhìn thế giới giống như những gì tổ tiên của họ đã nhìn ở những thế kỷ trước đó được nữa.Về mặt lịch sử tinh thần, thập niên 1920s của Việt Nam lặp lại thế kỷ ánh sáng ở châu Âu dẫn đến Cách mạng tư sản, lặp lại thập niên 1850s và 1860s ở Nhật Bản dẫn đến Duy tân Minh Trị. Đây là “thập kỷ thức tỉnh” của Việt Nam, khi giới tinh hoa ít ỏi của Việt Nam lần đầu bắt tay vào xây dựng / kiến tạo:
Tinh thần quốc gia hiện đại (nhận thức về “quốc sử”, “quốc ngữ”, “quốc văn” trong một khái niệm tổng hòa là “quốc hồn”).
Ý thức về con người cá nhân và nhận thức về nhân quyền (quyền con người)Phát hiện ra tinh thần quốc dân, con người công dân.Phát triển các thành tố của tinh thần cộng hoà, bao gồm nhận thức về tư pháp độc lập, tam quyền phân lập, tinh thần pháp quyền, phân lập tôn giáo và chính quyền, tôn trọng tính tự trị của khoa học và giáo dục.
Sự phát hiện ra tinh thần khoa học, cả trong nhận thức về tự nhiên lẫn đời sống xã hội và nhân văn. Từ đây, bắt đầu xuất hiện cách nhìn sự vật từ góc nhìn kỹ thuật.Hình thành văn hóa tranh luận, trao đổi tư tưởng. Đây là thập kỷ bùng nổ các cuộc tranh luận. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, tranh luận trở thành hiện tượng phổ biến ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Cr: khanh.lebao1210lhp