Doxa - Đàm thiên thuyết địa
Phaedo là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Plato (cùng với Cộng Hoà và Tiệc Rượu). Tác phẩm được viết dưới dạng một cuộc hội thoại giữa Socrates và hai người bạn của ông, Simmias và Cebes, về sự bất tử của linh hồn. Đây là cuộc hội thoại thứ tư và cũng là cuộc hội thoại cuối, diễn ra trong vài giờ trước khi Socrates uống thuốc độc để tự thực thi án tử của người dân Athens dành cho ông. Câu nói “Không có tai ương nào lớn hơn là sự thù ghét lý luận, và nó cũng có cùng một căn nguyên với bệnh oán ghét con người” là một câu nói trích trong tác phẩm trên, như là một lời dặn dò của ông với người học trò Phaedo về hành trình gian nan của công cuộc đi tìm chân lý.
Trước tiên, hãy phân tích tại sao ông lại so sánh “con người” và “lý luận”:
“Sự oán ghét con người xuất phát từ lòng tin tưởng ai đó thái quá dù không biết chi về anh ta, sau đó mới thấy kẻ mình tưởng là thành thực, lương thiện, đáng tin... hiện nguyên hình là một tay lưu manh, lừa đảo. Từ thất vọng này sang thất vọng khác, rồi sau nhiều lần như vậy, nhất là trong vòng bạn bè được xem là thân cận và tốt đẹp nhất của mình, rốt cuộc nạn nhân đâm ra oán ghét tất cả mọi người, và tin rằng hoàn toàn không có chút thiện căn nào trong bất cứ ai trên đời.” (Trích Đối thoại Socratic I, bản dịch của Nguyễn Văn Khoa)
Socrates cho rằng con người không đơn giản như toàn thiện hay toàn ác, mà là một sự biến đổi liên tục phụ thuộc vào hoàn cảnh và môi trường. Việc phán xét một người là người tốt hay xấu là một vấn đề phức tạp, cần nhiều thời gian để tìm hiểu, tiếp xúc. Một phản ứng thường thấy của đa số con người là sinh ra căm ghét toàn bộ xã hội vĩnh viễn sau khi lần đầu (hoặc một vài lần) phát hiện ra những người trong vòng tròn xã hội của họ sống “giả tạo”, vì trước đó họ đã trót xây dựng niềm tin rằng những người kia là tốt. Socrates sau đó tiếp tục nói rằng những tính chất cực đoan, thái quá là những tính hiếm thấy trong thực tế:
“Tôi muốn nói rằng chuyện người tốt, người xấu cũng giống như cái rất nhỏ và cái rất lớn. Bạn có nghĩ rằng một người cực to hay cực nhỏ là hiếm thấy không? Và trường hợp này áp dụng cho mọi loài, mọi giới – như người, chó hay bất cứ sự vật gì khác –, và mọi tính chất – như nhanh hay chậm, xấu hay đẹp, trắng hay đen –, đúng không? Trong tất cả các thí dụ trên, cái cực đoan ở mỗi đầu đối lập đều rất hiếm và chỉ có ít thôi, trong khi cái thường tình và chiếm đa số đều tập trung cả ở giữa [...] Và nếu tổ chức một cuộc thi độc ác, thì ngay cả ở đây nữa, chắc chắn cũng sẽ có rất ít người đoạt giải.”
Vậy điều này thì liên quan gì đến luận lý?
“Khi một người bình thường không thành thạo về thuật biện chứng tin rằng một luận cứ nào đó là đúng, rồi sau đấy lại nghĩ rằng nó sai, thì dù nó thực sự là đúng hay sai, sau nhiều lần nhận thức đúng sai xen kẽ như vậy, anh ta sẽ mất hết lòng tin nơi lý luận; mặt khác, đối với kẻ đã quen thói bàn xuôi cãi ngược từ cả hai phía, thì bạn cũng thừa biết rằng, rốt cuộc họ sẽ ngỡ mình là khôn ngoan nhất trên đời, bởi vì chỉ có họ mới nhận ra rằng, trong mọi sự vật cũng như trong suy luận, không có gì là lành mạnh hay bền vững hết, trái lại, tất cả mọi thứ đều giống như dòng triều ở Euripus, mỗi ngày lên xuống và đổi chiều liên hồi, không lúc nào đứng yên trong cùng một trạng thái.”
Ở đây, phải lưu ý rằng Socrates phê phán cả hai đầu cực đoan: niềm tin mù quáng không luận lý và luận lý mù quáng bỏ qua niềm tin. Ở vế đầu tiên, những ví dụ thực tiễn về niềm tin mù quáng thì chắc chắn không quá xa lạ với chúng ta. Bằng chứng là bạn có thể dễ dàng nghĩ ngay đến hình tượng một ai đó, có thể là một người thân, hay một người xa lạ bạn quan sát trên các trang mạng xã hội chẳng hạn. Họ dễ dàng tin những điều được truyền bá trên các phương tiện truyền thông và nhắc lại chúng như những con vẹt. Tuy nhiên, trường hợp luận lý mù quáng thì sẽ khó gặp hơn, và thường bị mắc phải bởi những biện sĩ, một thành phần trí thức ở Athens thời đó (cũng như nhiều sinh viên Triết học, Luật pháp, vân vân ở thời đại hiện nay). Họ bị khó khăn trong việc xây dựng một niềm tin trong cuộc sống vì họ hoài nghi liên tục. Điều này, tuy ở bên ngoài bị nhầm lẫn là “thông thái”, nhưng không được khuyến khích bởi Socrates.
Socrates tin rằng có những chân lý trong cuộc đời, và ta dùng luận lý để đi tìm chúng, chứ không thể dùng lý luận để phản bác vạn vật:
“Và đấy là điều đáng buồn, Phaedon ạ. Nếu thực có một lý luận đúng và chắc chắn, nếu năng lực hiểu biết có thực, mà chỉ vì đã trót tin một lý luận lúc đầu có vẻ đúng song sau lại thấy sai, rồi thay vì nhận lỗi về phần mình và sự kém khôn ngoan của mình, người ta lại mừng rỡ đổ lỗi cho lý luận nói chung vì bực tức, rồi mãi mãi sau đó thù ghét, lăng mạ lý luận, và cuối cùng đánh mất cả hiện thực lẫn hiểu biết về hiện thực [...] Vậy thì trước hết hãy đề phòng, đừng để tai ương này xảy ra cho ta. Đừng để lọt vào đầu ta cái ý tưởng rằng không có chân lý, không có sự trong lành, khỏe mạnh trong bất kỳ lý luận nào; trái lại, hãy tự thuyết phục rằng chính ta là kẻ bệnh hoạn, và chúng ta phải hành xử như con người, cố gắng hết sức để chữa chạy, phục hồi sức khỏe cho mình – cho bạn và các bạn khác còn đúng hơn là cho tôi nữa, bởi lẽ các bạn còn cả phần đời sắp tới.”
Việc cố gắng thấu hiểu lý luận cũng khó khăn như thấu hiểu con người, và con đường đi tìm chân lý không đơn giản vì ta luôn phải chắt lọc ra những ưu điểm của hai đầu thái cực. Triết lý này sau này được hệ thống lại bởi Aristotle trong tác phẩm “Luân lý” (như @Petrus Ký có bàn tại đây Qua đó, cũng thấy rằng ở phương Đông xa xôi, Khổng Tử cũng quan sát và nhận ra quy luật này, và sau này đã được ghi lại trong quyển Trung Dung (Tứ Thư). Trong Phật giáo, triết lý này được thảo luận thậm chí còn sâu hơn khi đi vào cả những khái niệm trừu tượng như “hữu” và “vô”, “dục lạc” và “khổ hạnh”. Nhưng cần phải nhắc lại rằng, việc vô tư cho rằng “cái gì cũng có hai mặt”, “ai ai cũng có cái đúng”, “sống đời trung dung” mà không có luận cứ gì, cũng là những sáo ngữ, lười biếng tư duy. Văn hoá “dĩ hoà vi quý” của dân tộc Việt ta, cũng một phần được xây dựng từ đó.
Việc nguy hiểm nhất có lẽ là để một lời nói lọt vào trong tâm trí mà không thông qua bộ lọc “suy tư”. Niềm tin mạnh mẽ nhất là một niềm tin có lý trí. Nếu không, những thứ ta tưởng rằng “đúng đắn” và “hợp lý” thực ra chỉ là sự ngây ngô của chính mình. Điều gì xảy ra nếu một tôn giáo nói rằng việc giết người là hợp lý vì họ là những kẻ phản đồ?
Đây là những điều Socrates, một người đã chết 2500 năm trước, muốn nhắn nhủ chúng ta, những thế hệ con người đã, đang, và sẽ sống, “bởi lẽ các bạn còn cả phần đời sắp tới”, nên hãy kiên trì, và vững tin.
Cr: Nam Tước Tín