LINH HỒN TRONG KẾT GIỚI TRIẾT HỌC (P2.1) LINH HỒN TRONG KẾT GIỚI TRIẾT HỌC (P2.1) Ý NIỆM LINH HỒN THEO TƯƠNG…
LINH HỒN TRONG KẾT GIỚI TRIẾT HỌC (P2.1)
Ý NIỆM LINH HỒN THEO TƯƠNG QUAN LUẬN
Tóm tắt một chút xíu phần 1 của bài. Để biện giải về tính hiện hữu của Linh Hồn, buổi triết đàm Doxa đã lướt qua ba lý thuyết lớn: Tự nhiên luận, Hữu thể luận, Tương quan luận.
Thoạt nhìn, tương quan luận có vẻ truyền cảm hứng và nghe "bùi tai" nhất khi nhấn mạnh tính tương quan giữa các chủ thể với nhau để chủ thể này thấy bản thân tồn tại trong chủ thể kia. Nhưng khi đi sâu vào tương quan luận, những hạn chế của phương pháp luận bắt đầu hiện rõ. Để làm rõ những hạn chế này, bài viết sau sẽ đề cập. Ở bài này, ta sẽ điểm qua những nét đặc trưng của phương pháp luận này trong hệ thống triết học cụ thể bao gồm của triết học tôn giáo của hai tôn giáo lớn: Kito giáo và Phật giáo.
(Cũng cần nói thêm, lối tư duy này gọi là Nhất nguyên luận. Vì nó khẳng định tính thống nhất giữa Linh hồn và Thể xác. Nghĩa là nó không chấp nhận có một Linh hồn nào đó tách biệt độc lập với Thể xác như lối tư duy của Nhị nguyên luận. Trên cơ sở đó, nói như các cha Dòng Tên, sự thấu hiểu về mặt tâm hồn chỉ có thể diễn ra qua sự tương tác về thể lý giữa người và người, tức điều kiện vật chất của nó. Nói như mình, muốn thấu hiểu tâm hồn nhau thì phải quan hệ thể xác !!!!)
LINH HỒN TRONG KITO GIÁO THEO TƯƠNG QUAN LUẬN
Như đã đề cập phần trước, tiên đề cơ bản của Kito giáo nói chung (cả Công giáo và các hệ phái Tin lành) cho rằng Linh hồn được Thiên Chúa tạo dựng ở từng con người cụ thể từ lúc bào thai hình thành, theo tinh thần của Sáng thế ký là sự "thổi hồn" vào đó. Ở đây, cần nhấn mạnh ở tính "tạo dựng từng con người cụ thể" chứ không phải là "nhân giống đại trà" để làm rõ sự tương quan trực tiếp giữa từng con người với Thiên Chúa. Theo đó, dù con người Công giáo nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa thông qua sự trung gian là Giáo Hội (là sản phẩm của tính lịch sử của công cuộc cứu độ) nhưng về bản chất sự hiệp thông (tức sự tương quan) giữa Linh hồn con người với Thiên Chúa là trực tiếp.
Kito giáo (mà đại diện là Công giáo) có niềm tin xuyên suốt rằng, một Linh hồn chỉ tồn tại trong 1 thân xác cụ thể (như đã đề cập với tính nhất nguyên trong triết học), do vậy, trong truyền thống Kito giáo không chấp nhận khái niệm "Vong" với ý nghĩa một linh hồn lang thang có thể nhập vào một thể xác khác với thể xác gốc. Linh hồn này không mất đi cùng thân xác khi chết, nhưng lại có thể vào Thiên Đàng hoặc luyện ngục hoặc địa ngục và chờ ngày phán xét: Thiên Chúa sẽ tạo dựng lại mọi sự sống từ tro bụi và phán xét trong ngày "sau rốt" ấy.
Ở đây, cần mở rộng thêm, sự kết nối Linh hồn của con người (bất kể là Kito hữu hay không) với Thiên Chúa là vĩnh cữu và độc nhất. Do vậy, mức độ kết nối này quyết định việc "ở gần" hay "ở xa" Thiên Chúa vào ngày "sau rốt" ấy. Nếu một Linh hồn "trong sạch" hiểu theo nghĩa là mang gần giống hình ảnh Thiên Chúa nhất, qua việc yêu thương con người, thì sẽ ở cạnh Thiên Chúa nhất. Ngược lại, Linh hồn ấy vẫn sẽ ở cạnh Người nhưng lại "ngồi xa" Người đôi chút.
Như vậy, tính tương quan của Linh hồn trong Kito giáo, không phải là tương quan giữa người với người mà tương quan giữa con người và Thiên Chúa thông qua việc yêu thương con người để trở thành gần giống hình ảnh Thiên Chúa. Để việc yêu thương ấy trở nên khả dĩ, điều tiên quyết của một Kito hữu đó là "suy niệm lời Chúa" thông qua Kinh Thánh. Đó cũng là nhiệm vụ xuyên suốt mà cả Giáo hội và các hệ phái Tin lành cổ vũ nơi người Kito hữu: Suy niệm lời của Chúa.
LINH HỒN TRONG PHẬT GIÁO QUA TƯƠNG QUAN LUẬN
Khác với Kito giáo, xuyên suốt quan điểm triết học của Phật giáo tin rằng sự tồn tại của Bản ngã hay sự tồn tại của một hữu thể là không có thật. Con người hay bất kỳ một vật "hữu tình" nào, là một sản phẩm của "nhân duyên", do vậy tính vô thường và vô ngã được Phật giáo nhấn mạnh và đề cao trong hệ thống triết học của mình.
Như vậy, kể cả sự tương quan giữa người với các vật "hữu tình" khác cũng đều nằm trong quy luật vô thường. Điều đó có nghĩa là, người Phật tử không phải tìm thấy Linh hồn mình nơi sự tương quan của người khác, nhưng chính là sự tương quan với sự vô thường, thông qua phép Quán tưởng.
Sự quán tưởng về tính vô thường, tương tự như sự suy niệm về lời Chúa, hiểu theo nghĩa đó là sự biết, sự hiểu và cả sự trải nghiệm trực tiếp của từng cá nhân với tính chất vô thường của cuộc sống. Tính trải nghiệm trực tiếp này là yêu cầu tiên quyết cho một Linh hồn, theo quan điểm Phật giáo, nhận ra sự luân hồi là vô nghĩa. Và chính khi trực tiếp trải nghiệm tính vô thường ấy, Linh hồn chính thức mở cánh cửa Niết Bàn để bước vào cõi tịnh diệt, và chấm dứt vòng luân hồi.
Sự trải nghiệm trực tiếp này, thấy rõ trong truyền thống Thiền tông của Phật giáo qua khái niệm: Kiến tánh thành Phật hoặc buông đao thành Phật. Nghĩa là, cho dù bạn có biết có hiểu thông qua sở tri về Phật pháp bao nhiêu, cũng không bằng việc Linh hồn bạn thấu tri được sự vô thường một cách trực tiếp. Và cũng chỉ sự tương quan với tính vô thường này mà Linh hồn bạn chính thức được giải thoát.
(Còn tiếp. Phần sau sẽ nói về tương quan luận Linh hồn trong Marxism và Hiện sinh luận)
Cr: nguyenchientruong.edu.vn