Ý hệ: siêu hình học sai lầm & gạt bỏ bản thể Ý hệ - Ideology là một trong những khái niệm bị hiểu lầm nhiều…
Ý hệ - Ideology là một trong những khái niệm bị hiểu lầm nhiều nhất, người ta sử dụng nó mọi lúc để mô tả những gì, hay chính xác hơn là, những cách riêng họ nghĩ mặc dù thực tế là họ có thể không thực sự tham gia vào việc áp dụng lý thuyết hoặc thực tế của ý hệ. Bằng cách làm như vậy, họ vô tình trao cho ý hệ sức mạnh mà nó không xứng đáng có, và bản thân từ này trở thành hiện thực mỗi khi nó được sử dụng theo nghĩa tích cực. Nhưng đây chỉ là một phần nhỏ của vấn đề mà chúng ta phải đối mặt khi nói đến ý hệ, vì cho dù bị chỉ trích hay ngưỡng mộ, ý thức hệ hầu như luôn được sử dụng trong các bối cảnh chính trị. Nó đại diện cho một chính phủ, một chế độ, một đảng phái chính trị hoặc chính trị nói chung. Những suy ngẫm đó, dù quan trọng đến đâu, vẫn chỉ nằm trên bề mặt và cuối cùng chỉ mô tả các sự kiện chính trị hiện tại, và hầu như không đi vào cốt lõi của vấn đề - cụ thể là định nghĩa của ý hệ.
Dẫu không thể có (ý định) định nghĩa tuyệt đối và một lần cho tất cả về ý hệ, ta thử làm sáng tỏ một số khía cạnh của nó (ý hệ) có xu hướng bị bỏ qua. Tưởng ta phải hỏi một số gốc rễ của ý hệ là gì và động lực cơ bản nhất của nó là gì, vì rằng ý hệ chắc chắn ảnh hưởng đến các phạm trù cốt lõi của nhân sinh, nhưng bài viết ngắn này quan tâm nhiều hơn đến cách ý hệ ảnh hưởng đến các phạm vi riêng tư của cuộc đời, đúng vậy, cuộc đời của một cá nhân bị ảnh hưởng và thay đổi như thế nào nếu anh ta cho phép ý hệ thấm vào cuộc sống nội tâm của mình?
Rõ là, một trong những cách mà ý hệ chen vào cuộc sống của mọi người là bằng cách ngụy trang thành một hệ thống, về cơ bản là một hệ thống siêu hình học, hay nói cách khác, nó giả vờ là triết học trong khi nó hoàn toàn không phải... vì chưng về bản chất, triết học quan tâm đến chân lý, đến điều gì là tốt hay xấu, đến điều gì làm cho cuộc sống đáng sống và đến cái đẹp...mà một khía cạnh cốt lõi luôn thúc đẩy những câu hỏi này là quyền tự do đặt ra những câu hỏi như vậy mà mọi con người đều có. Quyền tự do dựa trên thực tế là chúng ta phản ánh, cân nhắc và sự công nhận phẩm giá vốn có của con người. Đây chính xác là điều ngược lại trong trường hợp của ý hệ: vì nó là sự ép buộc chân lý, trên thực tế, toàn bộ lý do tồn tại của ý hệ là sự ép buộc cá nhân và hủy diệt ý chí tự do.
Trước hết, ý hệ sử dụng các chiến thuật tâm lý và hoạt động theo nguyên tắc lừa dối cũng như tiếp theo đó là sự đánh lạc hướng. Thứ hai, nó quy giản con người thành một thực thể chính trị tĩnh tại không có đời sống nội tâm và các mối quan hệ gia đình hoặc quan hệ với cộng đồng, do đó phủ nhận phức tính của bản thể. Sự giảm thiểu bản ngã hiện sinh của một cá nhân này tổng hợp nên anh ta thành một loạt các phần ngẫu nhiên phủ nhận trật tự của vạn sự (thuộc tính thứ nhất và thứ hai thường chồng chéo lên nhau). Thứ ba, ý hệ hứa hẹn sự hoàn hảo, không tưởng và phương pháp chữa trị tuyệt đối cho tất cả các bệnh tật của xã hội chúng ta, hãy xem xét từng thuộc tính trong ba thuộc tính trên của ý hệ:
1. Sự lừa dối, theo bản chất của nó, phụ thuộc vào việc tạo ra ảo tưởng, lừa dối phủ nhận hiện thực và tạo ra một quá khứ thay thế bằng cách xóa bỏ những lịch sử không phù hợp với mục đích dối lừa. Nhưng lừa dối không chỉ là một ảo tưởng đơn thuần, vì ảo tưởng đơn thuần đôi khi có chức năng nói lên sự thật lớn hơn về xã hội của chúng ta, trong khi đó, ảo tưởng về mặt ý hệ là một lời nói dối trắng trợn. Một trong những nội hàm lớn của sự lừa dối này là tuyên bố của ý hệ rằng nó liên quan đến tư duy phản biện và phân tích triết học. Tuyên bố này ngay lập tức làm mất phương hướng của một người quan sát đang cố gắng hiểu thế giới và vị trí của mình trong đó, do đó những phân định giữa diễn ngôn tìm kiếm sự thật và "lệnh cấm đặt câu hỏi" là tối quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự khác biệt quan trọng về mặt cấu trúc giữa triết học và ý hệ, theo đó:
Mục đích của phân tích triết học là hiểu biết về trật tự của sự tồn tại, về các cấp độ phân cấp của sự tồn tại và mối quan hệ giữa chúng, về cấu trúc thiết yếu của các cõi tồn tại, và đặc biệt là về bản chất con người và vị trí của nó trong tổng thể của sự tồn tại. Vậy nên, phân tích triết học là khoa học và dẫn đến khoa học về trật tự thông qua thực tế rằng, và trong chừng mực nào đó, nó được định hướng theo bản thể học”, mà “được định hướng theo bản thể học” có nghĩa là hành động & suy nghĩ có mối liên hệ chặt chẽ với toàn bộ bản thể. Không chỉ vậy, mục đích của phân tích triết học là để hiểu sâu hơn về bản chất tồn tại của ta như là hữu thể người, điều này chắc chắn sẽ dẫn ta đến việc đặt ra những câu hỏi về đạo đức. Chỉ khi trật tự của bản thể được xem xét như một tổng thể về nguồn gốc của nó trong bản thể siêu việt, thì phân tích triết học mới có thể được thực hiện với bất kỳ hy vọng thành công nào; vì chỉ khi đó, các ý kiến hiện tại về trật tự đúng đắn mới có thể được xem xét về sự phù hợp của chúng với trật tự của tồn tại”, chẳng hạn, một hệ thống phân cấp của bản thể thì không chỉ là một cá thể mà còn là một thực thể vượt ra ngoài bản thể, vậy rõ là làm sao chính trị có thể tồn tại và hoạt động được nếu hệ thống phân cấp bị bỏ qua về mặt trí tuệ?
2. Thế nên, mối quan tâm chính của ý hệ là giành được quyền lực và để làm được điều đó, nó sẽ phủ nhận cấu thành cá nhân của con người. Đây là lý do tại sao thuộc tính đầu tiên (lừa dối) và thuộc tính thứ hai (quy giản con người thành một thực thể chính trị) có liên quan với nhau. Trong “ý chí quyền lực” và libido dominandi, Nietzsche gọi Ý Hệ, trong The Birth of Tragedy, là “sự sao chép mặt nạ”. Một ý hệ gia sẽ hẳn nhiên là lừa dối nhưng người bị lừa dối cũng bị đặt câu hỏi và phải chịu một số trách nhiệm trong mối quan hệ quyền lực này, Nietzsche nhấn mạnh rằng chúng ta thực sự có quyền lựa chọn chống lại sự lừa dối này hoặc để bản thân biến mất trên bình diên bản thể học. Mặt khác, giống như những chiếc mặt nạ của Nietzsche liên tục nhân đôi, lời nói dối cũng vậy, và ý hệ chúng có xu hướng trở thành một phần của hiện thực trong phạm vi cộng đồng. Tuy nhiên, vấn đề triết học trước mắt chúng ta là làm thế nào mà lời nói dối trắng trợn đó có thể trở thành một hiện thực sống động?
Như chúng ta đã có thể thấy, động thái đầu tiên của một ý hệ gia là lừa dối nên sự mất phương hướng xảy ra sau đó là điều không thể tránh khỏi, bất kỳ suy nghĩ nào về một vũ trụ có trật tự mà một cá nhân có thể có đều biến mất và được thay thế bằng trạng thái tồn tại không tự nhiên, chủ yếu liên quan đến việc thiếu sự đặt câu hỏi từ phía người bị lừa dối. Nhưng để làm được điều đó, một ý hệ gia quyết tâm phi nhân hóa chủ thể của mình (về bản chất đã trở thành một đối tượng) và buộc anh ta vào một sự tồn tại tuân theo một điều răn (giáo điều) của tập thể. Lựa chọn duy nhất là lấy danh tính của mình từ một nhóm cụ thể coi trọng chủ nghĩa tương đối và lợi ích của tập thể hơn lợi ích của một cá nhân hay nói cách khác, anh ta bị cấm đặt câu hỏi, như Nietzsche kết luận. Nhưng đó không phải là điều duy nhất mà một chủ thể mất phương hướng về mặt ý hệ và phi nhân tính được mong đợi sẽ làm, vì để sống một cuộc sống có ý hệ, anh ta còn phải từ bỏ cuộc sống nội tâm của mình. Đây là phần phức tạp nhất của sự tồn tại của con người vì nó liên quan đến ký ức, nỗi đau, sự đau khổ, niềm vui của một cá nhân, cũng như mối liên hệ với gia đình và bạn bè của anh ta - một sự kính sợ và ngạc nhiên về bản thể. Và như Hannah Arendt đã nhận xét trong ‘Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị’, “Các ý hệ không bao giờ quan tâm đến phép mầu của bản thể, chúng (ý hệ) mang tính lịch sử, quan tâm đến sự hình thành và diệt vong, đến sự trỗi dậy và sụp đổ của các nền văn hóa, ngay cả khi chúng cố gắng giải thích lịch sử bằng một số ‘quy luật tự nhiên’” (469). Do đó, bằng cách lựa chọn sự tồn tại sai lầm của ý hệ, một cá nhân không chỉ phi nhân hóa các mối quan hệ gia đình của mình (bao gồm tôn giáo và văn hóa) mà còn phi nhân hoá cả chính bản thân mình. Phi nhân hóa một cá nhân là xóa bỏ sự cá nhân hóa liên tục hoặc xoá bỏ sự phát triển của tinh thần con người, điều duy nhất còn tiếp tục bên trong cá nhân đó là sự lừa dối liên tục, nó tồn tại bên ngoài “mọi trải nghiệm” và “khẳng định một thực tại ‘thực hơn’ ẩn sau mọi thứ hữu hình, thống trị chúng từ nơi ẩn náu này và đòi hỏi giác quan thứ sáu cho phép chúng ta nhận thức được nó” (Arendt, Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị, 470-471). Do đó, ý hệ huênh hoang rằng nó là chủ sở hữu một số loại kiến thức bí mật sẽ giải thoát một cá nhân khỏi xiềng xích của sự tồn tại cũ và ràng buộc với một nền văn hóa và/hoặc tôn giáo cụ thể.
3. Kiến thức bí mật này là lời hứa về một thế giới tốt đẹp hơn (thuộc tính thứ ba của ý hệ) trong đó ý hệ cung cấp “vaccine” chống lại mọi thứ gây hại cho xã hội, có lẽ là sự lừa dối tồi tệ nhất trong số tất cả những lừa dối. Lời hứa này hầu như không bao giờ dựa trên sự thật và ngay cả khi có một chút lý tưởng trong sự khởi đầu của lời hứa, nó cũng nhanh chóng biến mất vì một ý hệ gia tự biến mình thành một vị thần, một thực thể không biết đến sự hữu hạn của con người, và do đó thiếu sự thận trọng và thiếu bất kỳ đức tính nào khác trong hành động của mình. Anh ta buộc phải liên tục hành động mà không có một khoảnh khắc nào suy ngẫm về hành động của mình vì ý hệ được thể hiện trong một chính thể toàn trị tuyên bố rằng "tất cả mọi người đã trở thành Một Người, trong đó mọi hành động đều hướng đến việc thúc đẩy chuyển động của tự nhiên hoặc lịch sử..." (Arendt, Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị, 467), đây là một vòng lặp thời gian buồn bã và hư vô, xây dựng một cuộc cách mạng không cần thiết và rỗng tuếch lên một cuộc cách mạng khác. Lời hứa này mãi mãi với một công việc mà trong đó cá nhân không được phép thể hiện tiếng nói độc đáo của riêng mình mà thay vào đó bị nhấn chìm bởi tiếng ồn của sự nhồi sọ và sự lặp lại vô vị cho đến khi anh ta bị thu hẹp lại thành một bản sao (clone) của mọi chủ thể bị lừa dối khác.
Khi quá trình thu hẹp và phá hủy bản thể học cá nhân này hoàn tất, ý hệ, ngay sau đó, trở thành chủ nghĩa toàn trị – một thực tế sống động bắt đầu bằng một lời nói dối và luôn kết thúc bằng sự hủy diệt của cuộc sống con người. Con đường duy nhất thoát khỏi nó là nhận ra phẩm giá vốn có của con người và bước vào cuộc gặp gỡ trực tiếp với con người khác. Trong mối quan hệ này, chúng ta không chỉ nhân bản hóa người khác mà còn nhân bản hóa chính mình.
Cr: Sao La