Bài 2. Tìm lại mạch nguồn sự sống tâm linh qua lòng Thương Xót của Chúa

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Tín lý Kitô luôn khẳng định vị thế căn bản con người : con người là “thụ tạo” của Thiên Chúa, được Thiên Chúa sáng tạo từ hư vô. Điều căn bản ấy xác định vị thế con người, cả trong nền tảng hữu thể và cả trong vận hành ơn cứu độ, và dĩ nhiên cả trong thái độ luân lý căn bản của con người. Con người được sáng tạo từ hư vô, nghĩa là con người không xuất hiện trong vũ trụ theo một định luật “tự nhiên”, nhưng được lãnh nhận hiện hữu của mình do một hành vi của một Ngã Vị, một hành vi tự do và mang tính tặng không của “Tạo Hóa”. Điều ấy cho thấy vị thế căn bản của con người mang tính chất một sự lãnh nhận của hồng ân, và con người cần lãnh nhận trong lòng tri ân. Hồng ân ấy được tặng ban không do quy luật tự nhiên, cũng không do sự hợp lý của lý trí (theo kiểu quy luật nhân quả) nhưng do một hành vi "luân lý". Hành vi ấy đặt con người, thiết yếu sống trong bầu khí "luân lý", nghĩa là trong một ý nghĩa căn bản từ chính nền tảng hữu thể của một hành vi tự do và thiện hảo.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. Từ cội nguồn của đức Tin Kitô giáo

1.1 Con người là thụ tạo

Tín lý Kitô luôn khẳng định vị thế căn bản con người : con người là “thụ tạo” của Thiên Chúa, được Thiên Chúa sáng tạo từ hư vô. Điều căn bản ấy xác định vị thế con người, cả trong nền tảng hữu thể và cả trong vận hành ơn cứu độ, và dĩ nhiên cả trong thái độ luân lý căn bản của con người.

Con người được sáng tạo từ hư vô, nghĩa là con người không xuất hiện trong vũ trụ theo một định luật “tự nhiên”, nhưng được lãnh nhận hiện hữu của mình do một hành vi của một Ngã Vị, một hành vi tự do và mang tính tặng không của “Tạo Hóa”. Điều ấy cho thấy vị thế căn bản của con người mang tính chất một sự lãnh nhận của hồng ân, và con người cần lãnh nhận trong lòng tri ân. Hồng ân ấy được tặng ban không do quy luật tự nhiên, cũng không do sự hợp lý của lý trí (theo kiểu quy luật nhân quả) nhưng do một hành vi "luân lý". Hành vi ấy đặt con người, thiết yếu sống trong bầu khí "luân lý", nghĩa là trong một ý nghĩa căn bản từ chính nền tảng hữu thể của một hành vi tự do và thiện hảo.

Con người xuất phát từ tình yêu Thiên Chúa, và tình yêu ấy đổ xuống trên con người, thiết yếu, mang tính chất của tình yêu tặng không, đó là tình yêu thiết yếu mang phẩm tính “lòng thương xót”.

1.2 Thiên Chúa là Chúa của lòng thương xót

Mặc khải Thánh Kinh là cho chúng ta biết Thiên Chúa là tình yêu, nhưng tình yêu của Thiên Chúa đối với con người được diễn tả với một đường nét đặc biệt, trong mối tương quan riêng biệt của con người với Thiên Chúa : Thiên Chúa là Đấng cao cả vô cùng, còn con người lại là những con người giới hạn và lỗi lầm. Thực tế của tội tổ tông là một điều gắn liền với thân phận con người, thân phận phải chết; vì con người đã bất trung với Chúa cũng như bất hòa lẫn nhau. Bởi vì thực trạng của con người trước mặt Chúa là hư vô và là con người có tội; nghĩa là đời sống con người luôn phải đối diện với sự ác và tội lỗi, nên đời sống ấy đặt con người trước mặt Chúa như là những người cần được đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa.

Do đó, lịch sử ơn cứu độ chính là lịch sử của một thứ tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa, tình yêu Thiên Chúa bầy tỏ lòng nhân từ, thương xót của Ngài trước nỗi thống khổ của con người, đặc biệt là những người nghèo khổ và người tội lỗi.

Thiên Chúa tỏ hiện chính bản thân Ngài như Đấng che chở người nghèo khổ, kẻ goá bụa, mồ côi… Đây là kinh nghiệm đức tin của người Israen từ thời Xuất Hành, và kéo dài suốt dòng lịch sử của Dân :

- Dnl 7,7: ĐỨC CHÚA đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân.

Lòng thương xót Chúa cũng biểu lộ trong việc thứ tha tội lỗi. Lòng nhân từ của Chúa còn vượt thắng được tội lỗi đến độ, vì tội lỗi, con người lại được tiến sâu hơn vào mầu nhiệm lòng âu yếm của Thiên Chúa :

- Xh 34,6-16 : ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt ông và xướng : "ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7 giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông." 8 Ông Mô-sê vội vàng phục xuống đất thờ lạy 9 và thưa : "Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài."

Tuy nhiên, đó không phải là một Thiên Chúa yếu hèn, ủy mị, chỉ biết cưng chiều. Lòng nhân từ và tha thứ không phải để người ta ỉ lại, dựa dẫm, nhưng là để kêu gọi tội nhân quay về với Ngài :

- Gr 3,12 : Hãy đi, hô lên cho miền Bắc nghe những lời này : Trở về đi, hỡi Ít-ra-en phản bội - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA ! Ta sẽ không nghiêm nét mặt với các ngươi nữa, vì Ta giàu lòng xót thương - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - và Ta không giận dữ mãi đâu.

Quả thật, Kinh Thánh diễn tả một thứ đạo cứu độ chứ không phải đạo luân lý. Đạo cứu độ là một mặc khải về Thiên Chúa như Đấng từ bi thương xót, tỏ bầy đường lối cứu đô của Ngài trong một thứ logích của tình yêu luôn dành ưu tiên cho những người nghèo, những người bé mọn. Thiên Chúa là Cha yêu thương, không tìm danh giá cho mình hay tìm xoa dịu tính tự ái của mình, nhưng tỏ tình yêu đặc biệt cho những đứa con bé mọn nhất, những người rớt vào những hoàn cảnh khó khăn nhất, cả về vật chất lẫn tinh thần.

Như thế, tình yêu của Thiên Chúa tỏ bày một đường lối quan trọng cho con người. Mikha tuyên sấm về việc Giavê triệu tập số còn sót lại bằng những con chiên què, những người bị tan tác tha phương và không còn bám víu vào loài người.

Trước tiên, chúng ta thấy Mi-kha tuyên báo số còn sót lại, tức những người được Giavê yêu thương và cứu thoát là những người bé mọn nhất, tầm thường nhất trong Dân, những người đau khổ :

- Mk 4, 6-7 : “Ngày ấy - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - chiên nào què, Ta sẽ quy tụ lại, chiên nào đi lạc xa hay bị Ta giáng hoạ, Ta sẽ tập hợp về. Ta sẽ dùng chiên què làm số sót, biến chiên đi lạc thành dân tộc hùng cường".

Đó là lời tuyên sấm của Chúa, lời tuyên sấm mang lại niềm hy vọng cho những người bé mọn nhất, những người không còn biết bám víu vào đâu để rồi đặt tất cả cuộc đời mình, tương lai của mình vào tay Thiên Chúa. Đám dân còn sót lại, theo sự chọn lựa của Chúa, chính là những người nghèo hèn nhất, những người bị loại ra bên lề của cuộc sống. Lời tuyên sấm của Mikha cho thấy nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa, đường lối của Thiên Chúa khác hẳn cách suy nghĩ bình thường của con người.

Rồi Dân bé mọn ấy, những con chiên què ấy, sẽ được Chúa triệu tập lại, cũng nhờ một đấng Mêsia xuẩt hiện ở một nơi nhỏ bé mà người ta không chờ đợi. Vâng, ngưòi thứ nhất trong sống còn sót lại ấy chính là một vị vua Messia, sinh ra tại thôn Bethlehem, một thôn nhỏ nhất trong các thành phố của Giuđa, thậm chí có nhiều lúc còn không được kể như một đơn vị hành chính.

- Mk 5, 1 : “Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en.

Ta biết rằng Bethlehem vẫn được coi là nơi nhỏ bé. Sách Giosuê, khi kể danh sách các thành của Giuđa, bản văn tiếng Hipri không kể đến Bethlehem, (Gs 15,58); chỉ có bản Hy lạp mới thêm vào.

2. Đức Giêsu tỏ bày lòng nhân từ thương xót của Chúa Cha

Đức Giêsu tái khẳng định cách mạnh mẽ đường lối ấy của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã từng nói và nói nhiều lần về một trật tự Nước Trời khác với hoặc đảo ngược so với trật tự thế gian.

- "Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.(Mt 19,30)

- " Đức Giê-su nói với họ : "Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. (Mt 21,31)

- "Anh em nghĩ sao ? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? (Mt 18,12)

-"Tôi nói cho các ông biết : người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."(Lc 18,14)

- "Tôi nói thật với anh em : trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông. (Mt 11,11)

Sứ vụ của Đức Giêsu rõ ràng là nhằm tới những người nghèo: Khởi đầu sứ vụ Chúa đã được đầy Thánh Thần để đi loan báo Tin Mừng cho những người nghèo, Hành vi của Chúa, lời giảng của Chúa phô diễn lòng nhân từ của Thiên Chúa. Điều này được diễn tả đặc biệt trong Tin Mừng Luca

- Lc 4, 17-21 : "Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng : 18 Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19 công bố một năm hồng ân của Chúa. Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. 21 Người bắt đầu nói với họ : "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."

Kiểu sống của Chúa Giêsu la lê la với những người nghèo. . . Ngài luôn bênh vực những người nghèo và xác định phẩm giá của người nghèo dựa vào lòng tôn trọng của chính tình thương của Chúa. Niềm vui mừng lớn nhất trong cuộc đời Chúa Giêsu chính là khám phá ra thánh ý yêu thương đặc biệt của Chúa Cha dành cho những người bé mọn nhất.

Quả thật, Chúa Giêsu thể hiện vai trò cứu độ của Ngài, không phải như một đấng uy quyền, nhưng như Đáng đầy lòng từ bi thương xót. Chính bằng đường nét đó, Chúa Giêsu tỏ mình ra là Đấng Mêsia đích thực :

- Mt 11, 2-6 : Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng : 3 "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ?" 4 Đức Giê-su trả lời : "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : 5 Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, 6 và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi."

Chúa Giêsu thực hiện chương trình cứu độ của Chúa Cha bằng cách thể hiện hình ảnh Thiên Chúa là Đấng nhân từ. Thư Do Thái cũng cho thấy Đức Giêsu là vị Thượng tế nhân từ

- Dt 2,17 : "Bởi thế, Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân."

Chóp đỉnh của thư Roma nằm trong sự khải mặc khải này : trong khi người Do Thái quên lãng lòng nhân từ của Thiên Chúa và cho rằng họ được công chính nhờ công trình hay việc thực hành lề luật, thì thánh Phaolo lại tuyên bố rằng : họ cũng là tội nhân, và như vậy họ cần lòng nhân từ… và như thế, họ chỉ được nên công chính nhờ đức tin.

Đường lối ấy cũng thể hiện một cách cụ thể trong lịch sử Giáo Hội :

- 1 Cr 1, 26-31 : "Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem : khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh ; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người. Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, hợp như lời đã chép rằng : Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa."

3. Sống linh đạo lòng thương xót

Có phải chăng não trạng của người Kitô hữu vẫn chưa thích ứng được với tinh thần của Nước Trời ? Có phải chăng, hiện nay, khi nói về các thánh, người Kitô hữu vẫn không ngừng tìm kiếm những đức tính cao cả anh hùng, những đức tính mà tầng lớp ưu tuyển sẽ có nhiều "lợi thế" đạt được hơn tầng lớp những người nghèo khổ ? Có phải chăng, trong hiện tình của đời sống Giáo hội, người Kitô vẫn chưa thấy rõ những phẩm tính sự sống Nước Trời ? Có phải chăng cánh cửa Nước Trời, sự nghèo khó, vẫn chưa rộng mở để biết bao nhiêu con người được Chúa yêu thương đặc biệt có thể bước vào ?

Đường nét lớn trong Kinh Thánh là lòng thương xót của Chúa đối với con người, đặc biệt là những người bé mọn. Thế nhưng tinh thần của Tin Mừng ấy hình như là điều khó cảm nhận nhất, khó thực hiện nhất đối với con người... Biết bao người vẫn ngày ngày đọc Lời Chúa, vẫn nhiệt thành, quá nhiệt thành phục vụ Chúa và Giáo hội... nhưng vẫn cứ dần dần nghiêng ngả về một thứ chủ nghĩa ưu tuyển... Trong Giáo hội, người ta vẫn thường tô vẽ quá nhiều nhân đức anh hùng của các thánh, các đấng bậc; người ta "chụp hình" các ngài ở "khuôn mặt" cao sang mà không làm rõ lên đôi bàn tay nhân ái của Thiên Chúa vẫn đang nâng đỡ từ chân.

Bỏ quên nền tảng ấy, chẳng những chúng ta đánh mất nét đẹp của Tin Mừng, nhưng còn là thái độ vô tình hay hữu ý cản lối những người bé mọn đến với đức Giêsu.

3.1 Phòng khám hay phòng thi

Thế giới hiện nay có quá nhiều sự ngược ngạo, mà có lẽ điều lớn nhất là sự ngược ngạo giữa "phòng thi" và "phòng khám". Thế giới có nhiều thứ phòng ban. Nhưng ta cũng có thể phác họa bức tranh thế giới trong hai thứ phòng : phòng thi và phòng khám. Phòng thi thì tìm kiếm "nửa trên" của nhân loại. Thi sát hạch là cuộc thi lọc lựa những người trên điểm trung bình, đương nhiên cũng là gạt bỏ những thành phần yếu kém dưới trung bình. Cuộc thi tuyển lại còn cao cấp hơn nữa, thi tuyển là chọn những con người ưu tú nhất từ trên xuống mà cả nhiều người trên trung bình, hoặc ưu tú vừa phải cũng phải chịu số phận thi rớt. Nơi phòng thi, mỗi người phải tự mình khẳng định mình, và đảm nhận trách nhiệm về đời mình. Phòng thi đưa xã hội vào trật tự có tính thuyết phục, mỗi người phải ở đúng vị trí của mình, theo đúng như tài năng của mình. Phòng thi khẳng định một sự công bằng, đưa tới xã hội phân công hợp lý. Dĩ nhiên phòng thi bao giờ cũng cần thiết cho sự phát triển xã hội. Nhưng phòng thi cũng là nơi người ta làm toán cuộc đời, làm toán trên số phận con người. Phòng thi đưa con người và tình thế bắt buộc phải dấu đi cái dốt của mình, phải che mắt được giám khảo về khiếm khuyết của mình. Phòng thi luôn đặt con người vào nguy cơ phạm tội, nếu không phải là tội gian dối thì cũng thường lại là tội giả hình.

Phòng khám thì ôm lấy "nửa dưới" của nhân loại. Những người đến phòng khám là những người ít nhiều đã lãnh đủ đòn thù bầm dập của cuộc đời. Phòng khám là nơi gặp gỡ của những người đau yếu, những người kém cỏi, những người thất bại trong phòng thi. Những con người ấy cần tới người khác, cần được hiểu cho bệnh tình riêng biệt của mình. Nơi phòng khám, điều bí ẩn nhất cũng cần được bộc lộ, nơi kín đáo nhất cũng cần được mở ra, những triệu chứng phức tạp nhất cần được trân trọng xem xét. Phòng khám là nơi câu chuyện đời được chia sẻ trong lòng khao khát được hiểu, được đón nhận được cảm thông...

Nếu phòng thi là nơi cần thiết cho sự phát triển xã hội, thì phòng khám lại là nơi cần thiết cho con người được là người chân thật. Con người vốn là sinh vật có bệnh và người sống thật nhất là người dám sống với khuyết điểm của mình. Tự đáy tâm hồn, con người khát khao được sống trong phòng khám; nhưng bài toán xã hội lại bắt con người luôn phải bước vào phòng thi.

Xã hội con người chẳng bao giờ bỏ được phòng thi, nhưng đừng nên đặt tất cả cuộc sống con người vào cuộc thi cử. Ngược lại, điều đúng đắn hơn chính là, phòng thi thì cứ thi, nhưng trước cuộc thi, ngoài phòng thi, và sau cuộc thi, thế giới phải là phòng khám. Không phải ở phòng thi, nhưng là ở phòng khám mà người ta nhận ra được tình thương đẹp của con người với nhau, tình thương nâng đỡ từ chân để mọi người tìm được chỗ đứng thỏa lòng, cho dù là năng lực và đức độ không bằng ai.

Đức Giêsu tuyên bố : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn." (Lc 5,31-32). Sứ mệnh chính yếu của đức Giêsu là thực hiện điều đã được tiên báo trong sách ngôn sứ Isaia : "Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta". (Mt 8,17)

Sự so sánh hơn thua, nỗi lo không được đón nhận... đã biến thế giới này thành một phòng thi khắc nghiệt : môn thi tài năng, môn thi địa vị, môn thi sắc đẹp..., và môn khắc nghiệt nhất là môn thi nhân cách...

Con người dường như không thể bỏ đi bệnh "làm toán". Con người muốn chấm điểm bản thân mình và chấm điểm người khác, thứ chấm điểm chẳng bao giờ công bằng; vì người ta luôn rơi vào tình trạng nhân cách yếu : khoan dung cho mình mà lại đòi hỏi người khác. Khi người ta được lợi trong bài toán bất công, người ta muốn cuộc đời là một phòng thi. Đó là thái độ của người giầu, người ưu tuyển. Chỉ khi người ta rơi vào tình trạng bất lợi, bị vùi dập, bị chà đạp, bị loại bỏ... thì người ta mới dễ nhận ra nỗi khao khát về một "phòng khám bệnh trong cuộc đời"... Đây lại là tâm tình sâu xa của những thân phận nghèo.

Trong cuộc đua của cuộc đời, con người được/bị đặt vào thế cạnh tranh. Cuộc đời không còn là phòng khám, mà hình như cũng không còn là một cuộc thi sát hạch, mà là bầu khí của một cuộc thi tuyển. Sự tiến bộ của người khác luôn hàm chứa nguy cơ bản thân mình bị loại bỏ. Có một diễn viên sáng chói, tôi buộc phải đóng vai phụ; đội bóng mua được một cầu thủ xuất sắc, những cầu thủ khác có nguy cơ phải ngồi ghế dự bị... Công ty nào, tổ chức nào, hiệp hội nào, dòng tu nào, thì cũng luôn cần những con người xuất sắc và xuất sắc hơn nữa, luôn cần những con người tài năng và tài năng hơn nữa... Ở đỉnh cao cuộc đời, luôn là một cuộc chiến không khoan nhượng, cuộc chiến bi đát mà sự sống của người này phải kéo theo cái chết của người khác, sự thăng tiến của người này đòi buộc sự thụt lùi của người khác... Thế giới trên đỉnh cao cuộc đời y hệt cuộc ganh đua của các hoàng tử để được vua cha truyền ngôi...

Trong khi đó, cuộc sống ở đáy cuộc đời lại là một sự chia sẻ sớt chia thông thoáng hơn nhiều. Chị ngã em nâng, lá lành đùm lá rách, tối lửa tắt đèn...., nơi đó sự cảm thông dễ dàng hơn nhiều. Khi sự hiện diện của tha nhân không phải là một sự đe dọa, tha nhân không phải là "địa ngục", bao nhiêu nét dễ thương và đáng thương, của tha nhân lại tỏ lộ rõ ràng hơn bao giờ hết. Lạ lùng hơn nữa, thái độ cúi xuống những thân phận trần trụi lại thường làm nẩy sinh tâm tình thương cảm. Ở cùng đáy cuộc đời, con người bỗng bừng tỉnh khỏi cơn say thăng tiến để tìm khát vọng yêu thương, khát vọng được chấp nhận như một ơn huệ tặng-không.

Nhưng đừng tưởng lầm Kitô giáo là nơi ve vuốt ủy mị làm tiêu tan sức mạnh vươn lên. Đừng tưởng rằng Kitô giáo là thuốc phiện để quên đi nỗi khổ trước mắt và chạy trốn vào một thế giới giả tưởng. Để lặn được xuống tầng sâu của phòng khám, con người cần có, đúng hơn là cần được củng cố trong tình yêu Thiên Chúa, để có một nhân cách mạnh. Nhân cách mạnh chính là : đòi hỏi mình và khoan dung cho người khác. Ngược lại nhân cách yếu là kẻ khoan dung cho mình mà lại đòi hỏi người khác. Người nhân cách mạnh luôn hiểu ra chính mình đã không trung tín làm lời cho đúng với đồng vốn mà mình được lãnh nhận; đồng thời người nhân cách mạnh cũng luôn nhận ra trách nhiệm của mình nơi gánh nặng lịch sử mà anh chị em của mình phải mang vác...

Quả thật, giữa lòng thế giới ấy, người Kitô hữu cần khám phá ra một thứ linh đạo của lòng thương xót, đó là dám sống thật con người giới hạn và tội lỗi của mình. Khi con người ý thức mỗi bất hạnh, tội lỗi của mình, thì lúc đó, con người nhận ra lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa. Đồng thời, người Kitô hữu cũng được mời gọi để sống lòng thương xót của Chúa đối với anh chị em của mình :

- Cl 3,12-15 : "Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. 13 Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. 14 Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. 15 Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân."

3.2 Khát vọng được chấp nhận và mối nguy của bệnh giả hình

Là con người, ai cũng muốn được yêu, được kính trọng, được thành đạt, được khen ngợi, hoặc được ai khác biết đến... Đó là khát vọng sâu xa của mọi người, trong mọi giai đoạn của cuộc đời : khát vọng được chấp nhận. Để thỏa mãn được khát vọng này, người ta tìm cách khẳng định chính mình; khẳng định mình bằng tài năng, bằng sắc đẹp, bằng địa vị, bằng đức độ và thậm chí cả bằng cách làm những chuyện điên rồ, trái khoáy. Ê-rốt-trát chẳng hạn, vì muốn nổi danh nên đã đốt đền thờ thần Artemis......

Khổ thay, khi người ta muốn được chấp nhận bằng cách khẳng định mình như thế, thì nỗi cô đơn sâu thẳm vẫn không được hóa giải. Người ta coi trọng tôi vì tôi có tài... Nhưng khi đó người ta thực sự không chấp nhận chính bản thân tôi. Bao lâu tôi còn có tài, người ta còn cần tới tôi. Khi người ta không còn sử dụng được tài năng của tôi, hoặc khi tôi mất đi tài năng, thì cái tôi duy nhất sẽ bị loại bỏ... Con đường khẳng định mình bằng sắc đẹp, địa vị, tiền bạc... cũng đi theo cùng một quy luật ấy.

Con người ta như kẻ đứng dưới nước sâu, chân không đụng đất mà đầu thì cứ muốn vươn lên "bằng chị bằng em". Trong tình trạng ấy, ai cũng tưởng rằng chiều hướng phải nhắm tới là vươn lên, vươn lên cao hơn nữa... Trong tình huống ấy, nếu có ai muốn kéo tôi xuống đất, cho tôi thực sự là tôi, thì tôi sẽ phải đạp văng kẻ xấu xa ấy ra... Tình trạng "chân không đụng đất" chính là "hũ mắm" trong bụng mỗi người mà ai cũng muốn dấu đi. Sống trong xã hội, người ta chọn thái độ "tốt khoe, xấu che", đừng dại "vạch áo cho người xem lưng", ...

Mặc cảm phòng vệ chính là căn bệnh tâm lý sâu xa của con người, bắt nguồn từ khát vọng được chấp nhận đi kèm với nỗi sợ không được chấp nhận. Chính từ căn nguyên bệnh tật ấy mà người ta rớt vào tình trạng tự ty hay tự tôn, kiêu căng hay rụt rè, cường điệu hay nhu nhược, trốn tránh hay phản kháng. Khát vọng được chấp nhận là một khát vọng chân chính, trong thực tế, thường lại được giải quyết bằng một phương thức giả tạo. Không ít tật xấu của con người có thể được hóa giải khi người ta hóa giải được khát vọng được chấp nhận.

Chưa hóa giải được khát vọng ấy, người ta chưa xây được móng nền cho đời mình, và mọi công trình trên nền móng nhão nhoét ấy đều là công trình "bằng giấy". Làm sao người ta có thể vươn lên cao được khi mà chân không đụng đất ? Cuộc đời như thế chỉ là một trò chơi bi đát, con người cao lên hay xuống thấp cũng chỉ là dập dềnh theo sóng nước bấp bênh...

Có một nẻo đường khác để hóa giải được khát vọng được chấp nhận, nẻo đường mà ít người dám bước vào : cúi xuống để khám phá ra con người thật của mình, để hòa giải được mình với mình và dám chờ đợi một tình nghĩa chân thật nhất : Có ai chấp nhận cái tôi chân thật này không ? Và tôi có dám chấp cái tôi chân thật của ai khác không ?

Có nẻo đường như thế không ?

Nếu trở về với kinh nghiệm gia đình, ta sẽ thấy nẻo đường này được hé lộ. Đừng tưởng rằng một kẻ nào đó gồm tóm hết mọi nết xấu thì sẽ chẳng được một ai thương cả; và cũng đừng tưởng rằng một ai đó thâu hóa được tất cả mọi tài năng, đức độ thì sẽ được mọi người yêu thương hơn hết. Người mẹ, người cha yêu thương đứa con của mình hơn hết, bất chấp tài năng và đức độ của nó thế nào. Người mẹ người cha không yêu thương một đứa con hàng xóm quá tốt lành hơn chính đứa con của mình. Dĩ nhiên một đứa con ngoan sẽ làm cho cha mẹ vui, nhưng dù nó không ngoan thì vẫn là con. Đứa con nào nghĩ rằng mình phải lấy được điểm 10 để được làm con, đứa đó không thực sự là con, đó là thứ "con nuôi". Đứa con nào nhận ra món nợ nghĩa tình mình đã được lãnh nhận tặng không, mình đã được là con rồi, nên ráng lấy được điểm 10 cho cha mẹ vui,... đây mới thực sự là đứa con trong nhà.

Hai nẻo đường trái ngược nhau. "Bài toán xã hội" là bài toán trao đổi : tốt thì được thương; giỏi thì được kính,... "Câu chuyện gia đình" thì lại hàm chứa một nguyên lý nào đó đi trước, vượt lên trên sự trao đổi, Nguyên lý yêu thương vô điều kiện, tình yêu tha thứ, tình yêu đón nhận chính bản ngã, chính cái tôi của nhau... Điều đó cho thấy món quà lớn nhất mà người ta có thể tự nguyện trao tặng và lãnh nhận chính là bản thân của nhau, chính "cái tôi" đơn thuần chỉ là cái tôi.

Nguyên lý căn bản của tình yêu tặng-không cho thấy một qui luật "tín lý" sâu hơn. Con người được sáng tạo từ hư vô, tất cả mọi sự con người có được và nỗ lực vun đắp được cho đời mình đều luôn luôn phải gắn chặt vào cội nguồn hư vô của phận người. Thái độ căn bản của con người chính là chân nhận mình đã được lãnh nhận cách cho-không. Từ nền tảng ấy, sống đã là tri ân, sống tốt hơn lại càng phải là tri ân, sống thánh thiện không là gì khác hơn sống trọn cuộc đời để đáp trả tình nghĩa mà Chúa đã tặng không.

Thật ra, khiêm nhường đúng ra không phải là một "nhân đức luân lý", nghĩa là không phải chỉ là một lối sống, một cung cách đẹp... Khiêm nhường thực sự mang tầm mức "tín lý", khiêm nhường là nhận ra, xác tín hồng ân cho-không của Thiên Chúa. Lòng khiếm tốn "tín lý" này không phải là cung cách tỏ ra mình hèn kém, tỏ ra mình tầm thường, tỏ ra mình không bằng ai... Đừng ai đòi hỏi thánh Thomas Aquino phải nói lên "tôi dốt nát lắm" thì mới là khiêm nhường. Khiêm nhường thiết yếu là xác tín mọi điều mình có được đều là do ân huệ, là thẳng thắn khẳng định năng lực thật của mình mà vẫn luôn ý thức mình đã được lãnh nhận : "...Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh ? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ?" (1 Cr 4,7). Đó cũng là là thái độ khiêm nhường của đức Maria khi Mẹ khẳng định : "Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi..."; nhưng đó là lời khen tôi được "diễm phúc" bởi vì "phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới" (Lc 1,48).

Đừng tưởng rằng lòng thương xót là sự thương hại ngẫu hứng của Thiên Chúa. Lòng thương xót của Chúa khai mở con đường yêu thương chân chính nhất : không có sự trao đổi trong tình yêu mà chính là sự trao tặng "miễn phí". Tình yêu bao giờ cũng phải là một sự trao tặng, trao tặng lòng tôn trọng, trao tặng sự chấp nhận bản thân, trao tặng sự trung tín để cùng đồng hành, trao tặng thái độ dám liên lụy trong tội lụy và khổ đau cùng với nhau... Trở về với nền tảng bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu hiểu ra rằng nguồn mạch ơn phúc của mình được trào vọt từ chân, từ đôi chân trần ngập ngụa nhưng dám phó dâng cho Chúa chứ không phải từ "cái đầu có tóc", hoặc những cái đầu với mái tóc óng mượt...

Đạo Chúa là đạo yêu thương không phải là đạo luân lý. Người ta nói rằng đạo nào cũng dạy cứu độ là công bố một nguyên lý đi trước năng lực ăn ngay ở lành. Ân sủng của Chúa đi trước thái độ luân lý của con người. Không phải Thiên Chúa chỉ là vị giám khảo "chấm điểm" bài thi luân lý của con người rồi mới tưởng thưởng; nhưng trước tiên, Thiên Chúa là vị lương y chữa trị cách cho-không; bồi bổ cách "cho-không", và cho-không chính bản thân của Ngài như người bạn thân tình của con người. Con người được mời gọi "yêu như Thầy yêu" (Ga 13,34), nghĩa là đón nhận tình yêu lớn hơn mọi tình yêu của Thầy để có thể cũng thể hiện tình yêu ấy cho anh chị em của mình (Xc Ga 14,13).

Trong đạo cứu độ và cũng là đạo yêu thương, Thiên Chúa luôn đi bước trước, Ngài tự nguyện và yêu thương trong việc sáng tạo con người từ hư vô; Ngài tự nguyện và yêu thương trong việc trao tặng lời hứa cứu độ cho con người sa ngã; Ngài tự nguyện và yêu thương để dấn thân vào giao ước, chọn một Dân riêng,..; cuối cùng Ngài tự nguyện và yêu thương trao tặng chinh Con Một của Ngài. Thiên Chúa tự nguyện và yêu thương thông ban sự sống của Ngài qua Cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, vì Ngài đi bước trước, tự nguyện và yêu thương trao tặng mạng sống của Ngài cho con người qua thập giá, trao tặng sự sống của Ngài qua bí tích Thánh Thể; Thiên Chúa tự nguyện và yêu thương trao ban Thần Khí của Ngài cho mọi Kitô hữu; để cuối cùng Ngài tự nguyện và yêu thương trao ban sự sống đời đời trong Vương Quốc yêu thương của Đức Giêsu Kitô.

Không có con đường nào khác để đi vào ơn cứu độ. Vận hành của đời sống tâm linh luôn luôn là đón nhận ân huệ tặng không của Chúa, sống tâm tình mắc nợ nghĩa tình; tìm được sức sống trong cách thức đáp trả tình yêu bằng chính tình yêu trao tặng lại bản thân mình. Vận hành của đời sống tâm linh luôn luôn được bắt đầu với thái độ nhận ra mình nghèo, được tha thứ nhiều nên yêu mến nhiều (Xc. Lc 7,47); đến độ nhận ra "khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh" (2 Cr 12,10).

Như thế, chúng ta cũng hiểu rằng mối nguy cơ lớn của đạo cứu độ không phải là chính tội lỗi mà là bệnh giả hình. Giả hình là không nhìn nhận thân phận hư vô, không nhìn nhận con người tội lỗi, không sống đúng với tư thế căn bản thụ tạo của mình. Giả hình ở mức độ sâu xa nhất chính là từ lừa dối chính mình bằng lớp mặt nạ giả. Không phải tình cờ thời đức Giêsu mới có nhiều người giả hình; và đức Giêsu cũng, tình cờ, lên án nặng nề những người giả hình. Giả hình là căn bệnh nguy hiểm nhất của con người trong đời sống đức Tin Kitô giáo. Con đường Biệt phái chẳng bao giờ có thể đạt đến tuyệt đối được, vì con đường đó không có đủ "nhiên liệu tình nghĩa" trên hành trình thăm thẳm của tình yêu.

3.3 Lãnh nhận với lòng tri ân

Nếu có điều kỳ diệu trong trao tặng, thì cũng có điều kỳ diệu trong lãnh nhận. Lãnh nhận trong lòng tri ân, là đón nhận món quà của người khác như là đón nhận chính tấm lòng. Người ta có thể mua bán đổi chác được mọi sự, đồng tiền mua lấy vật dụng và sự phục vụ, tài năng mua được một sự nể phục, đạo đức mua được sự kính trọng, địa vị mua được sự vâng phục… nhưng lòng quí mến chân thành của một người này dành cho một người khác thì không gì có thể mua bán được.Tấm lòng của con người là một huyền nhiệm vô giá mà không gì có thể tương xứng để đổi chác. Do đó cũng không ai có thể mua được tấm lòng của người khác. Người ta chỉ nhận tấm lòng khi được ban tặng mà thôi :

“Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh chê".(Dc 8,7)

Lãnh nhận trong lòng tri ân cũng là đón nhận tấm lòng người trao tặng bằng chính tấm lòng. Đó là dùng chính tấm lòng của mình để ấp ủ tấm lòng của người khác; đó là một chương trình “từ trái tim đến trái tim”; đó thật sự là hiệp thông, là “ở trong” nhau chứ không phải chiếm hữu hay mua bán đổi chác:

Khi người ta biết đón nhận từ tấm lòng chứ không so đo tính toán theo tương giao lễ nghĩa của công ước xã hội, thì chính tấm lòng tri ân ấy sẽ nối kết “từ bên trong” những thành viên gia đình với nhau, để người này có thể thông chia vui buồn với người kia; và để tiếp sức mạnh của tình nghĩa phát huy trọn sức mạnh trong cuộc đời mỗi người. Chính lòng tri ân như vậy trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những quyết tâm sống liêm chính hơn, sống hoàn thiện hơn. Đón nhận tấm lòng để biết tri ân nhau, chúng ta được bước vào một thế giới mới, thế giới đặc trưng của đời sống gia đình, thế giới của lòng tri ân.

Có khi người mẹ cho con hai trăm ngàn đồng để đi chơi với bạn bè; đứa con lãnh nhận với lòng tri ân mẹ vì mẹ làm điều đó không phải vì “trả nợ quỉ thần”, nhưng chỉ do tấm lòng yêu thương của mẹ mà thôi. Rồi khi đứa con đi chơi về, nó cố tình để dành lại năm ngàn đồng để mua cho mẹ một cái bánh; bà mẹ đón nhận món quà của con cũng với lòng tri ân, vì đứa con đã tình nguyện và bằng tấm lòng của mình, dùng năm ngàn đồng mà nó đã nhận để diễn tả tình yêu đối với mẹ. Đó là thế giới của lòng tri ân chứ không phải là thế giới của sự mua bán đổi chác sòng phẳng. Đó là thế giới mà các sự vật, hai trăm ngàn đồng và năm ngàn đồng, không còn chỉ là giá trị đồng tiền theo ngân hàng nhà nước, nhưng là phương tiện để diễn tả nghĩa tình mẹ- con với nhau. Trong sự trao đổi ấy, chính tấm lòng con người là thực tại khiến người ta tri ân nhau chứ không phải là hai trăm ngàn hay năm ngàn đồng.

Điều quan trọng không phải là trị gía món quà bạn lãnh nhận, mà là chính tấm lòng. Con người cần vượt qua, nhẩy qua khỏi thế giới thuận mua vừa bán để thênh thang bước vào thế giới của lòng tri ân khi nhận ra dấu hiệu của nghĩa tình. Thế giới của lòng tri ân cũng diễn ra theo qui luật “đắp đổi” của cuộc sống, “bánh ít cho đi, bánh qui cho lại”. Nếu ta bắt đầu sống tình nghĩa thì sẽ được đáp lại bằng tình nghĩa; và cái tình nghĩa ấy sẽ đắp đổi để mỗi ngày một sâu đậm hơn. Nếu ta bắt đầu bằng thái độ tri ân, thì lòng tri ân cũng sẽ được đắp đổi để nhân lên nơi người thân. Ngược lại, nếu so đo, tính toán; nếu tiếp tục phàn nàn trách móc, người ta sẽ chẳng gieo mầm được cho thế giới nghĩa tình.

Chỉ nguyên lý mắc nợ nghĩa tình mới có thể thôi thúc một tình yêu hy sinh, một yếu tố không thể nào thiếu cho tâm hồn con người và ngay cả cho vận hành của xã hội loài người. Chỉ trong nguyên lý mắc nợ nghĩa tình người ta mới có thể dấn mình vượt qua mức độ “thuận mua vừa bán” để khai mở cho thế giới tình nghĩa, thế giới “tặng không” và “lãnh nhận với lòng tri ân”. Một thế giới phòng vệ, đối phó, tính toán…. thì không bao giờ có thể bắt đầu đi vào hành trình nghĩa tình. Một người Kitô hữu sống “đối phó” với Chúa, Chúa bắt làm tới đâu thì ta làm tới đó… thì chưa phải là một Kitô hữu đích thực. Một Kitô hữu chân chính là người đón nhận được tình yêu hy sinh của Đức Giêsu và nghe được tiếng thôi thúc cũng phải dâng lại cho Ngài chính mạng sống của mình.

Thật ra, khi sinh ra làm người, người đã mắc nợ nhau về rất nhiều điều, mắc nợ cha mẹ về sự sống, mắc nợ quê hương về ngôn ngữ và văn hóa, mắc nợ nhân loại về những giá trị nhân bản… Thế giới con người thật ra không phải là thế giới trao đổi sòng phẳng mà là thế giới mắc nợ nhau. Con vật cũng được lãnh nhận từ đồng loại của chúng, nhưng đó là quy luật hoàn toàn theo bản tính, không có phần trao ban trong tự do và lãnh nhận với lòng tri ân như trong thế giới con người.

Mắc nợ là điều có lẽ chẳng ai muốn. Khi mắc nợ tiền bạc, mắc nợ một sự vật nào đó, người ta tìm cách trả cho xong để có thể thảnh thơi tính toán công việc làm ăn cho riêng mình. Nhưng cảm giác ấy là kết quả của sự trao đổi đồ vật; đó là khi người ta muốn giới hạn mối tương quan con người với nhau trong mức độ công bằng xã hội, theo quy luật “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, chẳng những mức độ “thuận mua vừa bán” không thể giải quyết rốt ráo tương giao con người với nhau, nhưng tự chính thâm tâm mỗi người cũng không thể tìm được sự an hòa bản thân trong xã hội công bằng mà không mở ra đến khung trời yêu thương.

Khung trời yêu thương chỉ có thể diễn ra trong quy luật trao tặng chứ không phải trao đổi. Khát vọng yêu thương thôi thúc, hướng tới sự trao tặng bản thân cho nhau, chấp nhận bản thân của nhau. Bản thân, hay cái tôi của mỗi con người, là điều vô giá, là phẩm giá tuyệt đối; cái tôi ấy không bao giờ có thể biến thành đồ vật để trao đổi, mà chỉ có thể là trao tặng và lãnh nhận trong lòng tri ân. Hành trình yêu thương chỉ được khởi đầu khi ai đó biết trân trọng món quà của tấm lòng, nhận ra giá trị vô giá của "món quà bản thân" của ai khác. Hành trình yêu thương được tăng triển khi ai đó nhận ra mình không thể lấy gì để bù đắp cho cân xứng. Chính sự bất cân xứng vượt trên quy luật trao đổi như thế làm rung động cõi lòng, biến tình trạng mắc nợ trở nên ngọt ngào trong tình yêu...

Tình yêu thật ra là nhận ra diễm phúc được mắc nợ nghĩa tình. Không phải ngẫu nhiên mà, bình thường, con người có tâm tình mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ của mình. Lòng hiếu thảo của con người đối với cha mẹ, thật ra, không phải là một sự trả nợ công lao của cha mẹ như một thứ công xá. Công xá, dù có lớn lao đến đâu vẫn là một thứ có thể trả được một cách sòng phẳng. Công ơn cha mẹ là sự trao tặng của nghĩa tình, là sự trao tặng của cả một đời, của chính bản thân cha mẹ,và điều đó không bao giờ người con có thể đền đáp được. Con cái được ơn mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ, một sự mắc nợ cần thiết cho đời người, một món nợ ngọt ngào, một món nợ hồng phúc mà nhờ đó đứa con có thể sống cho ra người, sống trong lòng tri ân và sống trọn vẹn bản thân mình để đền đáp nghĩa tình mà mình đã được lãnh nhận. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình làm cho con người không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là sống cho tình yêu; món nợ nghĩa tình làm cho con người không còn chỉ an tâm sống trong thế giới sự vật nữa, nhưng được móc nối để có khả năng bước vào lĩnh vực tình người, lĩnh vực trao đổi bản thân của mình vời người khác. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình không phải là một sự bận lòng, phiền hà, mà là một tình cảm ngọt ngào của người được yêu.

“Anh em đừng mắc nợ gì cả, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8).

Sống trong mắc nợ nghĩa tình, con người mới có thể được hoán cải từ bên trong, để có thể vận dụng tất cả mọi năng lực của bản thân mình mà sống cho xứng đáng với ân nghĩa mà mình đã được lãnh nhận. Người ta nói rằng ; bình thường con người không mấy khi sử dụng hết năng lực của mình. Chỉ trong những hoàn cảnh bắt buộc, những tình huống nguy hiểm, người ta mới bỗng thấy mình làm được những điều mà chính mình cũng không ngờ. Khi đứa con biết sống trong tâm trạng mắc nợ nghĩa tình, thì nó có được một sức mạnh vô địch, nó sẽ không còn lợi dụng những khó khăn để chữa mình với cha mẹ, nhưng cương quết bằng chính tấm lòng để vượt qua những khó khăn và làm cho bằng được điều làm vui lòng cha mẹ. Hơn nữa, sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình, đứa con như được hướng dẫn từ lương tri để có thể sống tốt, sống xứng đáng với công lao của cha me.

Có những người cha, người mẹ cho con rất nhiều “sự vật”, nhà cửa, tiền bạc, phương tiện… và họ có thể nói với con rằng : “Tao lo cho mày còn thiếu điều gì nữa không?”. Quả nhiên là cha mẹ nói chung là đã lo cho con quá nhiều. Tuy nhiên, người cha/mẹ cần hiểu ra rằng có một điều, mà lại là điều căn bản và cần thiết hơn cả cho hành trình một đứa con : đó là cho con nghĩa tình, điều không bao giờ là đã đủ hay quá nhiều. Món quà ấy mới có cơ may giúp đứa con biết sống trong thái độ mắc nợ nghĩa tình. Dĩ nhiên, điều ấy không phải chỉ là một phương pháp ứng xử, không phải chỉ là một bài học lý thuyết, nhưng chính là một hành trình sống lâu dài, trong đó, cha mẹ không ngừng trao tăng tấm lòng và trao tặng chính bản thân mình cho con cái.

Kẻ "ở trên" mới dám đi vào thế giới trao đổi. Kẻ ở trên có "vốn", có công đức và tài năng của mình để trao đổi. Kẻ mắc nợ là kẻ "ở dưới"; thế mà động lực chân chính nhất của cuộc sống con người hóa ra lại là hạ mình xuống để lãnh nhận và lãnh nhận với lòng tri ân, và để sống trong tâm trạng mắc nợ nghĩa tình.

Tạm kết

Tìm lại mạch nguồn đời sống tâm linh Kitô giáo chính là tìm lại thế đứng căn bản của con người trước mặt Chúa; đó là lãnh nhận Thần Khí để hiểu ra mình "nghèo", để tìm lại hồng phúc của những người anawim được Chúa yêu thương trong suốt dòng lịch sử ơn cứu độ.

Mạch nguồn ấy không là gì khác hơn xác tín và lòng thương xót của Chúa !

Nguyễn Trọng Viễn OP

Gợi ý chia sẻ bài 2

1/ Ta có khám phá được nét đẹp nhân bản của tín lý Kitô giáo khi xác định con người là "thụ tạo", được sáng tạo từ hư vô không ? Nhất là khi ta phải nói chuyện với những người vô thần và những người thuộc các tôn giáo khác ?

2/ Có phải bầu khí Giáo hội ngày nay vẫn chưa bộc lộ được đường lối cứu độ đảo ngược của Chúa không ?

3/ Thử chia sẻ những cảm nghiệm về lòng thương xót của Chúa trong đời sống cộng đoàn cụ thể của bạn.

4/ Cộng đoàn của bạn đang là một "phòng khám" hay là một "phòng thi" ?

5/ Căn bệnh giả hình trong đời sống Giáo hội và cộng đoàn tu trì hiện nay thế nào ?

6/ Bạn có kinh nghiệm nào về nguyên lý mắc nợ nghĩa tình trong đời sống tâm linh ?

Vài gợi ý trao đổi

Bài 1

1/ Có sự lầm lẫn nào giữa thái độ "thanh thản" (ataraxia) và thái độ "thương xót" (misericordia) trong đời sống tâm linh Kitô giáo, đặc biệt trong đời sống đan tu, không ?

2/ Trong đời sống đức tin Kitô giáo hiện nay, "linh đạo sống thế nào" và linh đạo "sống với ai" có bị lẫn lộn không ?

3/ Ngã vị của tôi có được rõ nét hơn trong cuộc chơi với một Thiên Chúa ngã vị không ? Thử chia sẻ kinh nghiệm tâm linh cụ thể của mình cho nhau.

4/ Ta phải phân biệt thế nào giữa "lòng thương xót" và "lòng thương hại" ?

5/ Thử chia sẻ những kinh nghiệm tâm linh cụ thể về niềm vui được sống trong "cộng đoàn ngôi vị"

6/ Có bao giờ bạn đụng chạm đến được một ngã vị "trần trụi mà cao cả" của tha nhân không?