Mắc nợ Nghĩa Tình

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Thế giới của sinh vật là thế giới “cá lớn nuốt cá bé”. Không có nguyên tắc nào chi phối bản năng sinh tồn của sinh vật ngoài nguyên tắc của sức mạnh, sức mạnh của bắp thịt, sức mạnh của hàm răng, sức mạnh từ những “thủ thuật” đánh lừa của nhửng con vật săn mồi. Mặc dù đôi khi chúng ta thấy cảm thương cho những con vật làm mồi, nhưng ta cũng hiểu rằng thế giới của sinh vật là như thế. Hơn nữa, trong trật tự của thế giới sinh vật, thường thường những con vật ăn thịt lại là yếu tố cần thiết để làm cho thế giới lành mạnh hơn, nghĩa là làm cho những con vật yếu đuối phải chết để cho con khỏe mạnh được sống và tạo điều kiện để giống loài mạnh mẽ hơn được phát triển.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

1. Bầu khí nhiễm độc tinh thần thực nghiệm

1.1. Những mô thức của thế giới

Thế giới của sinh vật là thế giới “cá lớn nuốt cá bé”. Không có nguyên tắc nào chi phối bản năng sinh tồn của sinh vật ngoài nguyên tắc của sức mạnh, sức mạnh của bắp thịt, sức mạnh của hàm răng, sức mạnh từ những “thủ thuật” đánh lừa của nhửng con vật săn mồi. Mặc dù đôi khi chúng ta thấy cảm thương cho những con vật làm mồi, nhưng ta cũng hiểu rằng thế giới của sinh vật là như thế. Hơn nữa, trong trật tự của thế giới sinh vật, thường thường những con vật ăn thịt lại là yếu tố cần thiết để làm cho thế giới lành mạnh hơn, nghĩa là làm cho những con vật yếu đuối phải chết để cho con khỏe mạnh được sống và tạo điều kiện để giống loài mạnh mẽ hơn được phát triển.

Qui luật cá lớn nuốt cá bé cũng có giá trị của nó, nhưng là có giá trị trong thế giới sinh vật mà thôi. Thế giới của sinh vật không phải là thế giới con người có thể sống được. Con người khao khát vuơn lên khỏi thế giới của sinh vật, nên ở đâu đâu, xã hội loài người cũng bắt đầu hình thành và phát triển dần dần những luật lệ và những chuẩn mực luân lý, nhằm ngăn chặn tình trạng cá lớn nuốt cá bé. Đó là nỗ lực xây dựng một xã hội công bằng hơn mà ta có thể gọi được là thế giới “thuận mua vừa bán”. Tuy vậy, trong cuộc sống xã hội, người ta thấy vẫn còn đầy tính chất của qui luật sinh vật, qui luật mạnh được yếu thua. Không phải đó chỉ là chuyện ngày xưa, khi chưa có luật pháp hay khi chưa có những giá trị luân lý; nhưng ngay trong thế giới văn minh hiện đại, người ta vẫn thấy hàm chứa bằng nhiều hình thức khác nhau của qui luật sức mạnh theo kiểu sinh vật. Qủa thật, qui luật “thuận mua vừa bán”cao hơn qui luật “cá lớn nuốt cá bé”; nhưng trớ trêu thay, trong thực tế, người ta vẫn thấy qui luật “cá lớn nuốt cá bé”như bóng ma luôn ẩn nấp đâu đó trong xã hội; bóng ma này, dù đã biết bao xoay sở, con người vẫn không thể nào thoát ra được. Trên bình diện thế giới, chẳng bao giờ nước nhỏ có thể tương giao về chính trị, kinh tế, văn hóa… một cách bình đẳng với nước lớn; trong từng xã hội, dù là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, dù là kinh tế thị trường hay kinh tế chỉ huy, ta vẫn thấy ẩn núp sâu xa bóng dáng qui luật “mạnh được yếu thua”. Dostoievsky đã từng nói rằng : chưa bao giờ con người đồng ý với nhau được về việc phân phối tài sản. Hình như con người không thể vượt được thế giới của sinh vật; và mặc dù có biết bao nỗ lực, các định chế xã hội vẫn để xổng ra con thú từ chính bản chất tội lỗi của con người.

Tuy nhiên, trong cuộc sống thường ngày, ta cũng thấy được một mảnh đời siêu việt, nơi đó, người ta thực sự vượt qua được qui luật “mạnh được yếu thua” để sống một tình yêu dâng tặng tuyệt hảo, đó chính là gia đình. Chính trong gia đính, những con người yếu kém nhất lại được chăm sóc yêu thương nhiều nhất, chính trong gia đình những người khỏe mạnh nhất lại là những người hy sinh nhiều nhất cho người khác; và đó là hy sinh một cách tự nguyện, hy sinh mà vẫn cảm thấy hạnh phúc. Qui luật của đời sống gia đình là qui luật “tặng không và đón nhận với lòng tri ân”.Ta cứ thử tưởng tượng, nếu không còn nữa đời sống gia đình, để những đứa trẻ có thể nếm cảm được bầu khí yêu thương, thì sao xã hội có được những thái độ và những tâmtình cao đẹp của thế giới nghĩa tình ?

Quả thật người ta không thể chữa trị điều xấu bằng một điều “không xấu”, nhưng phải là một điều tốt. Cũng như người ta không thể diệt hết cỏ dại bằng việc nhổ cỏ, nhưng là bằng cách “trồng bông”, thì cũng vậy, để vươn lên khỏi thế giới của sinh vật, để thoát ra được qui luật “cá lớn nuốt cá bé” thì không phải chỉ cần áp dụng những định chế “thuận mua vừa bán”, nhưng cần thiết phải làm sống động tinh thần tặng không, thái độ mắc nợ nghĩa tình để sống trong thế giới của lòng tri ân.

1.2. Vượt trên nguyên tắc công bằng

Con người không ngừng đi tìm một thế giới công bằng hơn. Thế nhưng, nói cho cùng, xã hội con người không bao giờ có được một sự công bằng trọn vẹn. Hoặc đúng hơn, tất cả những bộ luật của nhân loại, tất cả những cuộc đấu tranh cho công bằng vĩ đại nhất trong lịch sử, thật ra cũng chỉ là một “chút đường” bỏ vào “bể muối” mênh mông của bất công. Một con người được cưu mang và được sinh ra, em bé ấy đã gánh chịu hoặc đã vô tình hưởng thụ nơi bản thân nó vô cùng những bất công của cuộc đời, bất công của lịch sử, bất công của dân tộc này với dân tộc kia, bất công của môi trường xã hội có từ thời ông bà tổ tiên của cháu bé, bất công của làng xóm, bất công của luật lệ xã hội, bất công ngay trong gia đình… Rồi trên hành trình cuộc đời, mỗi bước đi của em bé cũng đều được đan dệt trên những thành quả của bất công…

Dĩ nhiên là chúng ta không bao giờ được coi thường những nỗ lực đấu tranh cho công bằng, hoặc làm giảm nhẹ tầm quan trọng của những cuộc đấu tranh ấy. Nhận diện ra được đại dương của bất công là để không ai được quyền an thân trong hoàn cảnh may mắn nào đó của mình; không ai được quyền bào chữa cho mình khỏi chịu trách nhiệm trước những khổ đau của người khác; không ai được quyền sống theo kiểu “bàn tay sạch”, hoặc “đi cà khêu” giữa cuộc đời. Một ảo tưởng về sự công bằng cũng đã là một sự bất công; và cũng nguy hiểm chẳng kém gì chính sự bất công lu lù mà ai cũng thấy được.

Hơn nữa, còn có một ảo tưởng khác không kém nguy hiểm, tạm nói là ảo tưởng nhân danh sự công bằng để đấu tranh với bất công. Bởi vì tự “chính chỗ” đứng mà ta cho là công bằng để đấu tranh, thật ra cũng chẳng công bằng. Suy cho đến ngọn nguồn, thì chỗ đứng nào cũng đã bị muốm bùn của bất công. Trong thực tế, đấu tranh chống bất công nhân danh công bằng, dựa vào luật pháp hay quyền con người, là điều cần làm trước mắt; nhưng suy cho cùng của cuộc đời, muốn đấu tranh chống bất công tận gốc, phải nhân danh nguyên lý “mắc nợ nghĩa tình”. Do đó, tất cả những thứ cách mạng nhằm “chia đều lợi tức”, cào bằng… đều rơi vào một sự bất công khác. Cuộc đời, tự nó, đã đặt tất cả mọi người vào trong một tình trạng mắc nợ nhau quá nhiều. Trong cuộc sống ấy, người ta mà chỉ có thể trả nợ đời bằng một tâm tình mắc nợ nghĩa tình; và tâm tình ấy lại chính là một động lực căn bản cho hành trình vươn lên của xã hội con người, chứ không phải một thứ lý trí công bằng, được đề cao quá đáng từ những thế kỷ trước ở Tây phương.

Chỉ nguyên lý mắc nợ nghĩa tình mới có thể thôi thúc một tình yêu hy sinh, một yếu tố không thể nào thiếu cho tâm hồn con người và ngay cả cho vận hành của xã hội loài người. Người ta có thể thấy rõ điều ấy trong “vận hành” của đời sống gia đình.

1.3. “Dương Đức” và “Âm Đức”

Khi một thầy giáo dạy giỏi, nhà trường tặng cho thầy danh hiệu “thầy giáo ưu tú”; đồng thời người thầy đó cũng được hưởng nhiều quyền và nhiều lợi. Khi đó, việc dạy học tốt của thầy giáo là một việc làm có đức, nhưng cái đức ấy “lồ lộ”, “lù lù”, được cụ thể hóa bằng những bằng khen, bằng tuyên dương, tăng thu nhập, tăng uy tín trong ngành nghề của mình. Người ta tạm gọi đó là “dương đức”.

Nhưng cũng có những vị thầy tận tụy vì học trò, dám chấp nhận cả những khó khăn của cơ thể, của dư luận, để dám làm điều gì thực sự mang lại sự tiến bộ,về tài về đức cho học trò; người thầy giáo ấy không quan tâm đến những cái “dương đức” lồ lộ ra đó, mà chỉ mong cho học trò được nên người, được tiến bộ thực sự trong học tập. Rồi người học trò lớn lên, ra đời và dù thành đạt hay không thành đạt, vẫn nhớ ơn thầy, vẫn ghi khắc hình ảnh của thầy trong tâm hồn, và cố gắng đền đáp công ơn của thầy bằng một cách sống hay một công việc tốt nào đó…Người thầy giáo này cũng làm việc có đức, nhưng đây là “âm đức”; cái đức này không chỉ giới hạn trong những phần thưởng mà thầy được lãnh nhận,những thấm sâu vào lòng học trò, và trổ sinh hoa trái thực sự trong một tương lai lâu dài hơn.

Có người nhận xét rằng người thầy giáo xã hội chủ nghĩa của chúng ta có quá nhiều “dương đức” nên chẳng còn mấy “âm đức” để lại nơi học trò. Trong khi đó, nhiều nơi trên thế giới, chính những cựu học sinh đóng góp vào chi phí sinh hoạt của trường xuýt soát 50%; nghĩa là nhà trường tạo được “âm đức” nhiều hơn.

Ta có thể hiểu nét cao quí của đời sống gia đình theo sự phân biệt nêu trên. Gia đình, nói chung, được vận hành theo nguyên lý “âm đức” nhiều hơn tất cả mọi tổ chức xã hội nào khác; và gia đình nào càng có sự hy sinh của cha mẹ nhiều hơn, hy sinh vô vị lợi của cha mẹ cho con cái, thì gia đình ấy sẽ càng để lại nhiều “âm đức” cho con cái nhiều hơn. Nói cách khác, gia đình càng có nhiều mắc nợ nghĩa tình thì chức năng “giáo dục gia đình” càng được thể hiện trọn vẹn hơn.

2. Chân trời tâm linh Kitô giáo

2.1 Chân trời tâm linh

Chiều kích tâm linh là chân trời rộng mở cho mọi điều thiện hảo trong cuộc sống con người. Cuộc sống thực tế của con người luôn bị trói buộc trong những "giới hạn căn bản" của bản chất người. Con người là "nhân vô thập toàn", con người là "sinh lão bệnh tử", con người là "sinh vật có bệnh", con người là "hữu thể tương đối"….; những giới hạn căn bản như thế không phải chỉ là những khẳng định lý thuyết của các triết gia hay thần học gia, nhưng là những chuyện đời thường mà mỗi người đều cảm nhận thấy, đặc biệt là khi người ta bước qua tuổi mộng mơ để trở nên một con người trưởng thành. Như thế, cứ theo lẽ thường, để trưởng thành, người ta cần chấp nhận thực tế để sống "khôn ngoan" để tính toán cuộc đời, để biết dè dặt trong những mối tương quan tình nghĩa, để biết "liệu cơm gắp mắm" trong cách đối xử ở đời… Thế nhưng, trong thực tế, ta lại luôn thấy những mảnh đời đẹp của một lý tưởng dâng hiến trọn vẹn, của một sự phục vụ không tính toán, của một thứ tình yêu vượt qua mọi giới hạn… Đó chính là sự so le của thực tế đời thường và khát vọng tuyệt đối trong đời sống con người. Khát vọng tuyệt đối được biểu lộ trong các tôn giáo, và các tôn giáo đáp ứng khát vọng ấy khi khai mở chiều kích tâm linh của con người. Không có chiều kích tâm linh, người ta không thể tha thứ mãi, không thể bác ái trọn vẹn, không thể yêu thương vô điều kiện, không thể phục vụ vô vị lợi, không thể tìm thấy một tiêu chuẩn vững bền cho mệnh lệnh luân lý, không thể sống trọn niềm tin vào con người…

Thực tế so le đó cho thấy chiều kích tâm linh là điều không thể thiếu đối với đời sống của mỗi cá nhân con người cũng như đối với toàn thể một xã hội. Con người vừa là "nhân sinh sơ tính bản thiện", nhưng lại cũng vừa là "nhân chi sơ tính bản ác"; con người tự nhiên vừa khát khao sự thiện, nhưng lại luôn bị cám dỗ làm điều ác. Hơn nữa, ranh giới của cám dỗ làm sự ác là vô bờ bến và niềm khát khao sự thiện cũng vô bờ bến. Nếu lòng khao khát sự thiện bị biến thành một hệ thống luân lý hợp lý, chiều kích tâm linh sẽ bị tiêu diệt, cuộc sống xã hội sẽ trở nên mất quân bình vì sự hoành hành của sự ác. Một xã hội vô thần sẽ không thể có đủ lực trong cuộc chiến đấu chống sự ác.

Chúng ta cũng có thể tìm thấy một nguyên tắc trong đời sống con người : muốn vượt lên khỏi cái xấu thì không thể chỉ dừng lại ở cái không xấu không tốt. Lựa chọn như thế sẽ làm cho con người “rớt lại” trong thế giới của cái xấu; vì bản thân của con người đã mang sẵn mầm mống của tội. Muốn diệt cỏ dại trên một mảnh đất, thì không thể dừng lại ở việc làm cỏ, nhưng phải trồng hoa trên mảnh đất ấy.

2.2 Diễm phúc được “mắc nợ nghĩa tình “

Sinh ra làm người, người đã mắc nợ nhau về rất nhiều điều : ngôn ngữ, văn hóa, những giá trị nhân bản… Nhưng nhất là con người được sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình.

Mắc nợ là điều có lẽ chẳng ai muốn. Khi mắc nợ tiền bạc, mắc nợ một sự vật nào đó, người ta tìm cách trả cho xong để có thể thảnh thơi tính toán công việc làm ăn cho riêng mình. Đó là khi mà sự trao đổi giữa người này với người kia hoàn toàn chỉ là một sự trao đổi đồ vật; và người ta muốn giới hạn mối tương quan con người với nhau trong mức độ “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, chẳng những mức độ “thuận mua vừa bán” không thể giải quyết rốt ráo tương giao con người với nhau, nhưng tự chính thâm tâm mỗi người cũng không thể tìm được sự an hòa bản thân trong xã hội công bằng mà không mở ra đến khung trời yêu thương. Con người khát vọng yêu thương và khung trời yêu thương không là gì khác hơn thế giới của mắc nợ nghĩa tình, thế giới vượt trên những trao đổi sòng phẳng, thế giới mà người ta biết trao tặng tấm lòng, trao tặng bản thân và biết đón nhận với lòng tri ân. Món nợ nghĩa tình là món nợ không bao giờ có thể trả hết. Khi người ta biết trao tặng cho nhau tấm lòng và trao tặng cho nhau chính bản thân, thì thái độ liêm chính nhất của người nhận lãnh là sống trong tâm tình mắc nợ nghĩa tình. Bởi vì tấm lòng con người và nhất là bản thân của mỗi con người đều là điều vô giá mà người lảnh nhận không thể lấy điều gì để bù đắp cho cân xứng.

Không phải ngẫu nhiên mà, bình thường, con người có tâm tình mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ của mình. Lòng hiếu thảo của con người đối với cha mẹ, thật ra, không phải là một sự trả nợ công lao của cha mẹ như một thứ công xá. Công xá, dù có lớn lao đến đâu vẫn là một thứ có thể trả được một cách sòng phẳng. Công xá cha mẹ là sự trao tặng của nghĩa tình, là sự trao tặng của cả một đời, của chính bản thân cha mẹ,và điều đó không bao giờ người con có thể đền đáp được. Con cái được ơn mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ, một sự mắc nợ cần thiết cho đời người, một món nợ ngọt ngào, một món nợ hồng phúc mà nhờ đó đứa con có thể sống cho ra người, sống trong lòng tri ân và sống trọn vẹn bản thân mình để đền đáp nghĩa tình mà mình đã được lãnh nhận. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình làm cho con người không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là sống cho tình yêu; món nợ nghĩa tình làm cho con người không còn chỉ an tâm sống trong thế giới sự vật nữa, nhưng được móc nối để có khả năng bước vào lĩnh vực tình người, lĩnh vực trao đổi bản thân của mình vời người khác. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình không phải là một sự bận lòng, phiền hà, mà là một tình cảm ngọt ngào của người được yêu.

“Anh em đừng mắc nợ gì cả, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8).

Sống trong mắc nợ nghĩa tình, con người như được hoán cải từ bên trong, để có thể vận dụng tất cả mọi năng lực của bản thân mình mà sống cho xứng đáng với ân nghĩa mà mình đã được lãnh nhận. Người ta nói rằng ; bình thường con người không mấy khi sử dụng hết năng lực của mình. Chỉ trong những hoàn cảnh bắt buộc, những tình huống nguy hiểm, người ta mới bỗng thấy mình làm được những điều mà chính mình cũng không ngờ. Khi đứa con biết sống trong tâm trạng mắc nợ nghĩa tình, thì nó có được một sức mạnh vô địch, nó sẽ không còn lợi dụng những khó khăn để chữa mình với cha mẹ, nhưng cương quết bằng chính tấm lòng để vượt qua những khó khăn và làm cho bằng được điều làm vui lòng cha mẹ. Hơn nữa, sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình, đứa con như được hướng dẫn từ lương tri để có thể sống tốt, sống xứng đáng với công lao của cha me.

Có những người cha, người mẹ cho con rất nhiều “sự vật”,nhà cửa, tiền bạc, phương tiện… và họ có thể nói với con rằng : “Tao lo cho mày còn thiếu điều gì nữa không?” Quả nhiên là cha mẹ nói chung là đã lo cho con quá nhiều. Tuy nhiên, có thể có một điều còn thiếu, mà lại là điều căn bản và cần thiết hơn cả cho hành trình một đứa con: đó là cho con nghĩa tình đến độ nào đó mà chúng biết sống trong thái độ mắc nợ nghĩa tình. Dĩ nhiên, điều ấy không phải chỉ là một phương pháp ứng xử, không phải chỉ là một bài học lý thuyết, nhưng chính là một hành trình sống lâu dài, trong đó, cha mẹ không ngừng trao tăng tấm lòng và trao tặng chính bản thân mình cho con cái.

2.3 Sống trong thế giới của lòng tri ân

* Sống dựa và bệnh sĩ

Khi đón nhận, người ta sẽ có thể rơi vào hai thái cực, thái cực hoặc bất cập . Nếu đứa con dựa dẫm, nó sẽ không biết đón nhận với lòng tri ân, nó không biết quí trọng món qùa nhận được như là món quà vô giá của chính tấm lòng, nó tiêu xài đồng tiền của cha mẹ một cách phung phí hoặc một cách dễ dãi, nó nghĩ thầm hết tiền thì lại xin mẹ, thi rớt thì bố cũng lo cho mình được học để thi lại thôi.,.. Ngược lại, cũng có những người sống theo kiểu bệnh sĩ, không muốn lảnh nhận điều gì của ai mặc dù mình rất cần đến nó; hoặc không muốn nhận tấm lòng của ai,nên chọn giải pháp làm một phép tính để qui đổi tấm lòng của người khác thành đồng tiền, thành sự vật, nhằm mong có thể trả lại sòng phẳng.

Bệnh sĩ và sống dựa, cả hai thái cực đó đều là những tình cảm xấu, đều là cách thức giản lược cuộc sống nghĩa tình của con người với nhau trở thành cuộc trao đổi sự vật, cuộc trao đổi bên ngoài bản thân, cuộc trao đổi có thể chấm dứt khi đã giải quyết sòng phẳng. Nhưng người ấy sẽ chẳng tìm được hạnh phúc và sức mạnh của kẻ được “mắc nợ tình nghĩa” và sống cả một cuộc đời với sự vật chứ không phải với con người. Ta có thể nói được rằng những thái độ ấy là một cách né tránh sống trọn kiếp người.

* Lãnh nhận trong lòng tri ân

Nếu có điều kỳ diệu trong trao tặng, thì cũng có điều kỳ diệu trong lãnh nhận. Lảnh nhận trong lòng tri ân, là đón nhận món quà của người khác như là đón nhận chính tấm lòng. Người ta có thể mua bán đổi chác được mọi sự, đồng tiền mua lấy vật dụng và sự phục vụ , tài năng mua được một sự nể phục, đạo đức mua được sự kính trọng, địa vị mua được sự vâng phục… nhưng lòng quí mến chân thành của một người này dành cho một người khác thì không gì có thể mua bán được.Tấm lòng của con người là một huyền nhiệm vô giá mà không gì có thể tương xứng để đổi chác. Do đó cũng không ai có thể mua được tấm lòng của người khác. Người ta chỉ nhận tấm lòng khi được ban tặng mà thôi :

“Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh chê.(Dc 8,7)

Lãnh nhận trong lòng tri ân cũng làđón nhận tấm lòng người trao tặng bằng chính tấm lòng. Đó là dùng chính tấm lòng của mình để ấp ủ tấm lòng của người khác; đó là một chương trình “từ trái tim đến trái tim”; đó thật sự là hiệp thông, là “ở trong” nhau chứ không phải chiếm hữu hay mua bán đổi chác:

“…để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con.” (Ga 17,21).

Khi người ta biết đón nhận từ tấm lòng chứ không so đo tính toán theo tương giao lễ nghĩa của công ước xã hội, thì chính tấm lòng tri ân ấy sẽ nối kết “từ bên trong” những thành viên gia đình với nhau, để người này có thể thông chia vui buồn với người kia; và để tiếp sức mạnh của tình nghĩa phát huy trọn sức mạnh trong cuộc đời mỗi người .Chính lòng tri ân như vậy trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những quyết tâm sống liêm chính hơn, sống hoàn thiện hơn. Đón nhận tấm lòng để biết tri ân nhau, chúng ta được bước vào một thế giới mới, thế giới đặc trưng của đời sống gia đình, thế giới của lòng tri ân.

Có khi người mẹ cho con hai trăm ngàn đồng để đi chơi với bạn bè; đứa con llãnh nhận với lòng tri ân mẹ vì mẹ làm điều đó không phải vì “trả nợ quỉ thần”, nhưng chỉ do tấm lòng yêu thương của mẹ mà thôi. Rồi khi đứa con đi chơi về, nó cố tình để dành lại năm ngàn đồng để mua cho mẹ một cái bánh; bà mẹ đón nhận món quà của con cũng với lòng tri ân, vì đứa con đã tình nguyện và bằng tấm lòng của mình, dùng năm ngàn đồng mà nó đã nhận để diễn tả tình yêu đối với mẹ. Đó là thế giới của lòng tri ân chứ không phải là thế giới của sự mua bán đổi chác sòng phẳng. Đó là thế giới mà các sự vật, hai trăm ngàn đồng và năm ngàn đồng, không còn chỉ là giátrị đồng tiền theo ngân hàng nhà nước, nhưng là phương tiện để diễn tả nghĩa tình mẹ- con với nhau. Trong sự trao đổi ấy, chính tấm lòng con người là thực tại khiến người ta tri ân nhau chứ không phải là hai trăm ngàn hay năm ngàn đồng.

Điều quan trọng không phải là trị gía món quà bạn lãnh nhận, mà là chính tấm lòng. Bạn cần vượt qua, nhẩy qua khỏi thế giới thuận mua vừa bán để thênh thang bước vào thế giới của lòng tri ân khi nhận ra dấu hiệu của nghĩa tình. Thế giới của lòng tri ân cũng diễn ra theo qui luật “đắp đổi” của cuộc sống, “bánh ít cho đi, bánh qui cho lại”. Nếu bạn bắt đầu sống tình nghĩa thì bạn sẽ được đáp lại bằng tình nghĩa; và cái tình nghĩa ấy sẽ đắp đổi để mỗi ngày một sâu đậm hơn. Nếu bạn bắt đầu được bằng thái độ tri ân, thì lòng tri ân cũng sẽ được đắp đổi để nhân lên nơi người thân của bạn. Ngược lại, nếu bạn so đo, tính toán; nếu bạn tiếp tục phàn nàn trách móc bạn sẽ chẳng gieo mầm được cho thế giới nghĩa tình. Trong cuộc sống, đặc biệt là trong gia đình, điều hết sức cần thiết là bạn hãy dám tin vào tình yêu, tin vào sự thiện, tin vào tấm lòng,tin vào lòng tri ân… và tin vào sức mạnh của những điều ấy củng có nghĩa là cần một lòng kiên vững và trung tín. Lòng kiên vững ấy sẽ được mạnh mẽ thêm nhiều khi bạn biết gắn những thiện hảo ấy vào niền tin nơi Chúa. Khi gieo tình thương, Chúa đã chẳng gặt được ngay hoa trái của tình thương, nhưng là sự trả thù bằng chính bản án tử hình. Nhưng dù thế nào đi nữa, tình yêu không thể thua cuộc; và dù hai ngàn năm qua, tình yêu của Chúa vẫn tiếp tục sống động để gây dựng vương quốc tình yêu của Ngài. “Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.(Ga 16,33).

Trong bình diện đời sống nghĩa tình, người ta luôn luôn biết tri ân nhau vì những tình cảm tốt đẹp mà người này dành cho người kia. Tâm tình đó xóa mờ những thứ mà ở nơi khác người ta có thể cho là bất công.

Kết

Tất cả những đường nét của thế giới nghĩa tình mà chúng ta nói về đời sống gia đình, thật ra cũng chính là những đường nét của đạo yêu thương, của Kitô giáo. Nếu như đa thần giáo là một thế giới tôn giáo “mạnh được yếu thua”, thì tôn giáo độc thần của Cựu ước là tôn giáo “thuận mua vừa bán” và Nước Trời công bố trong Tân ước chính là tôn giáo “tăng không để biết đón nhận với lòng tri ân”. Đường lối cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Kitô- Giê su là một đường lối diễn tả tình yêu nhân hậu của Chúa Cha, trong đó, Thiên Chúa đổ tràn dư “âm đức” một cách sung mãn, để chờ đợi người tín hữu đáp trả bằng niềm tin từ chính tấm lòng. Thiên Chúa không muốn chinh phục con người bằng sức mạnh của “bánh mì”, bằng “sự lạ”, và bằng “quyền lực” (Xc. Trình thuật Cám dỗ Mt 4, 1-11), nhưng bằng con đường chịu chết cho chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (X. Rm 5,8)(1) để mong con người tìm được diễm phúc “mắc nợ nghĩa tình”; và khi người Kitô hữu không sống được trong thế giới của lòng tri ân, thì đó là vì không lãnh nhận Thần Khí Nghĩa Tử để sống như con cái trong nhà Cha (X. Rm 8,15) (2).

Nguyễn Trọng Viễn O.P.

Sinh hoạt :

1/ Hãy viết tên tất cả những người mà bạn thấy mình mắc nợ nghĩa tình.

2/ Hãy ghi nhận những hoàn cảnh trong gia đình mà bạn nghĩ rằng có thể khởi sự cho bước hành trình vào “thế giới của lòng tri ân”.

GỢI Ý TRAO ĐỔI

1/ Bạn có cảm thấy mắc nợ nghĩa tình với cha mẹ…của mình không? Trong một tình huống đặc biệt nào?

2/ Chia sẻ những tình huống mà bạn có thể gợi lên tâm tình tri ân cho những người trong gia đình của mình.

(1): Rm 5,8: Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

(2): Rm 8,15: Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : “Ap-ba! Cha ơi!”.

2.4. Thể hiện một tình yêu đi bước trước

Chỉ trong nguyên lý mắc nợ nghĩa tình người ta mới có thể dấn mình vượt qua mức độ “thuận mua vừa bán” để khai mở cho thế giới tình nghĩa, thế giới “tặng không” và “lãnh nhận với lòng tri ân”. Một thế giới phòng vệ, đối phó, tính toán…. thì không bao giờ có thể bắt đầu đi vào hành trình nghĩa tình. Như thế, người ngôn sứ của tình yêu hy sinh thật sự là người dám đi bước trước, dám bắt đầu một trách nhiệm với tinh thần tự nguyện, dám chấp nhận “nắm đằng lưỡi” trong cuộc đổi trao… ; và có lẽ điều đó, trước tiên cần thể hiện trong đời sống đức tin của người Kitô hữu. Một người Kitô hữu sống “đối phó” với Chúa, Chúa bắt làm tới đâu thì ta làm tới đó… thì thật ra người đó chưa phải là một Kitô hữu đích thực, một Kitô hữu đón nhận chính tình yêu hy sinh của Đức Giêsu và sống theo bước chân của Ngài.

2.5. Dám dấn thân liên lụy với đời

Có những người Kitô hữu tâm sự rằng, từ khi vào hội đoàn, tôi thấy mình càng thêm tội, tranh cãi nhiều, buồn bực nhiều, nói xấu nhiều… Đó là một thực tế khó có thể chỗi cãi. Tuy nhiên, thái độ rút lui, an thân thì lại chẳng khác gì tuyên bố rằng : tay tôi đã sạch, ai lao vào bếp để dọn bàn tiệc Nước Trời thì cứ việc làm; khi nào dọn bàn xong, nhớ gọi tôi vào ăn với…

Thái độ an thân như thế thực ra đã là kẻ bẩn từ bên trong. Đó là thái độ của những người không dám liên lụy với ai, không dám chịu phiền hà vì ai, không dám cho đi chính bản thân và không dám đi vào hành trình của hạt lúa, chết đi mới sinh nhiều bông hạt…

* Tội lỗi và ơn cứu độ

Chính từ nẻo đường của mối tương quan ngôi vị do tội lỗi đặt ra mà người Kitô hữu được mời gọi để đi vào ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Chính người tội lỗi lại là những người có nhiều cơ may nhất để nhận ra trách nhiệm của mình với Chúa và nhận ra mình cần tới Chúa. Nhận ra mức độ trầm trọng của tội lỗi để có thể nhận ra lòng khao khát ơn cứu độ; nhận ra sự bất trung để nhận ra nẻo đường của ơn cứu độ bằng tình yêu thương. Đó là một trong muôn vàn nét “đảo ngược” kỳ lạ của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô :

“Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).

“Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”. (Lc 15,7).

* Cứu độ và nên thánh

Các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là những con người ưu tuyển, cả về phương diện trí thức cũng như về phương diện đời sống luân lý; các thính giả của Chúa Giêsu cũng không phải là những người có văn hóa cao hoặc là những người lành thánh nào cả. Ngược lại, những người chung quanh Chúa, hầu hết là những con người bình thường, hoặc có thể nói là tầm thường, hoặc rất tầm thường nữa. Dĩ nhiên, với những người như thế, Chúa Giêsu thường dùng những dụ ngôn, với những hình ảnh và những chuyện đời thường để tỏ bầy những chân lý cao siêu; và dĩ nhiên Chúa Giêsu cũng không thể một lúc trình bày được hết những mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa. Thế nhưng, về phương diện đạo đức, Chúa lại không ngần ngại đặt ra những lý tưởng cao vời của đời sống luân lý. Chúa không giảm nhẹ chút nào đòi hỏi của lý tưởng Tin Mừng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong toàn bộ giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu, đặc biệt trong bài giảng trên núi :

“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48)

Nẻo đường mà Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ bước vào là một nẻo đường mà ngay cả những bậc thánh hiền cao cả nhất của nhân loại cũng không dám nghĩ đến :

"Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó”. (Mt 7,12).

Điều mình không muốn người khác làm cho mình, như đức Khổng Tử dạy, thì chỉ giới hạn trong một số điều thôi; nhưng điều mình muốn người khác làm cho mình thì lại vô cùng, không có giới hạn, đó mới chính là điều đức Giêsu dạy.

Chúng ta có thể thấy rõ, nẻo đường đi vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là bình bình, vừa vừa phai phải, nhưng là một bước nhẩy trọn vẹn và quyết liệt vào con đường nên thánh, vào con đường hun hút đến trời mà tự thân nhân loại không dám bước vào. Con đường ấy dĩ nhiên chỉ khả thi trong ơn cứu độ của Đức Giêsu, chỉ khả thi khi người Kitô hữu nhẩy vào thế giới của Nước Trời và đón nhận được sự sống mới trong ơn sủng của Chúa Thánh Thần.

Quả thật tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo chỉ có thể hình thành được từ con đường của tình yêu; từ sự nhận ra những giới hạn của cuộc sống, nhận ra cái ác như là một sự từ chối tình yêu; đồng thời khai mở hành trình của tình yêu như nẻo đường khả dĩ để vươn lên đến tuyệt đối. Thiếu vắng tình yêu, đời sống con người chỉ còn là những tính toán hợp lý; thiếu vắng tình yêu Thiên Chúa, con đường tâm linh của con người vẫn chỉ là những nỗ lực giới hạn của sức người và con đường ấy đương nhiên loại trừ những người bé mọn.

Tình yêu Thiên Chúa chính là chân trời mở rộng cho đời sống con người, đồng thời cũng chính là động lực căn bản cho hành trình tâm linh của nhân loại.