Phác thảo những nền tảng cho một nền giáo dục nhân bản Kitô giáo - Phần 1
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OPGiáo dục là nhận lấy sứ mạng xây dựng và cải tạo xã hội từ nhân tố con người. Một nền giáo dục luôn nằm trong một thứ triết lý giáo dục, nghĩa là một “chân trời”, một viễn tượng bao quát nào đó; và triết lý giáo dục luôn dựa trên một nền tảng nhân học, nghĩa là một quan niệm tôn giáo hoặc triết học nào đó về bản chất của con người. Đây là một câu chuyện dài hoặc là một “cuộc chiến” miên man mà nhân loại khó lòng đi đến phần kết. Quả thật, đã bao lần người ta tưởng như đã nắm bắt được cái “bản chất người”, nhưng chính những lần quá chắc tâm như thế lại thường để lại những hậu quả đau lòng cho bao thế hệ con người.... và một nghề nghiệp cao quý như giáo dục biết đâu lại có thể trở thành một lực cản hoặc một liều thuốc độc cho sinh mệnh nhân loại !!!
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
(Bản phác thảo này còn rất nhiều sai sót... Anh chị dùng làm “tài liệu làm việc” cho buổi trao đổi ngày 31-5-2020. Xin đừng vội phổ biến, vì còn phải sửa chữa nhiều. Nguyễn Trọng Viễn)
Giáo dục là nhận lấy sứ mạng xây dựng và cải tạo xã hội từ nhân tố con người. Một nền giáo dục luôn nằm trong một thứ triết lý giáo dục, nghĩa là một “chân trời”, một viễn tượng bao quát nào đó; và triết lý giáo dục luôn dựa trên một nền tảng nhân học, nghĩa là một quan niệm tôn giáo hoặc triết học nào đó về bản chất của con người. Đây là một câu chuyện dài hoặc là một “cuộc chiến” miên man mà nhân loại khó lòng đi đến phần kết. Quả thật, đã bao lần người ta tưởng như đã nắm bắt được cái “bản chất người”, nhưng chính những lần quá chắc tâm như thế lại thường để lại những hậu quả đau lòng cho bao thế hệ con người.... và một nghề nghiệp cao quý như giáo dục biết đâu lại có thể trở thành một lực cản hoặc một liều thuốc độc cho sinh mệnh nhân loại !!!
Như thế, chắc chắc có sự khác biệt rất căn bản giữa những viễn tượng giáo dục khác nhau. Những khác biệt này nhiều khi ẩn sâu trong phương pháp, trong những giá trị trong mục tiêu của từng môn học, hoặc của một trường học... và chúng đưa đẩy việc giáo dục đến những thành quả khác biệt.
Hầu hết những “hiện tượng” xã hội đơn lẻ (chuyện hằng ngày trong nhật báo) xuất phát từ một “vấn đề” chung của xã hội (được trình bày trong các tạp chí); và các vấn đề xã hội, trong một không gian và thời gian cụ thể nào đó, lại luôn xuất phát từ một sự vấn đề muôn thuở của phận người (nền tảng triết học về con người). Vì vậy, người ta không thể khám phá gốc rễ của những hiện tượng xã hội, chẳng hạn vấn đề bạo lực xã hội, vấn đề khủng hoảng giáo dục,... mà không đụng đến những tư tưởng triết học về con người. Triết lý giáo dục liên quan sâu xa, hay đúng hơn, bắt nguồn từ triết lý về con người.
Triết lý giáo dục Kitô giáo đặt nền trên quan niệm của Kitô giáo về con người : con người là một ngôi vị cao quí, có "cứu cánh tại thân" và con người chỉ có thể thành toàn cuộc đời mình khi biết phục vụ trong yêu thương. "Con người là tạo vật duy nhất trên trần gian được Thiên Chúa sáng tạo vì chính họ; con người chỉ có thể tìm gặp chính mình nhờ thành thật hiến dâng" (MV 24).
1. Nhìn lại “chân trời” cho việc giáo dục
1.1 Khái quát về “chân trời giáo dục” dưới khía cạnh triết học
- Trong thời Thượng Cổ Hy – la, các ngành khoa học được bao bọc trong chân trời triết học. Triết học như một tầm nhìn bao quát và định hướng cho tất cả nhưng ngành khoa học.
- Trong thời Trung Cổ Kitô giáo, các ngành khoa học chẳng những được bao bọc trong lòng người “mẹ triết học”, nhưng còn được/bị bao trùm trong một người “bà thần học”, nghĩa là tất cả được bao bọc trong viễn tượng của đức Tin Kitô giáo.
- Từ khoảng thế kỷ XVI đến XVIII, khởi đầu là triết học muốn tách ra khỏi tôn giáo; rồi sau đó, các ngành khoa học cũng dần dần “ra riêng” với những phương pháp và mục tiêu riêng của mình, tách khỏi chân trời triết học.
Hệ quả là càng ngày con người càng đánh mất cái nhìn toàn thể. Thời Cận đại nói chung, hệ Descartes-Newton đã hiểu lầm “cái toàn thể” như là “cái tổng số”, nghĩa là người ta cho rằng con người có thể cộng các thành phần lại để làm nên cái toàn thể. Thật ra, từ thế kỷ XX, người ta hiểu rằng việc cộng các thành phần lại chỉ làm nên “cái tổng số” chứ không làm nên được cái toàn thể đích thực.
Và hệ quả ấy kéo theo một sự mù mờ, bát nháo về mục tiêu và ý nghĩa của mỗi ngành khoa học, cả khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội. Con người ngày nay đánh mất, hoặc bỏ quên, hoặc giảm nhẹ tầm nhìn về ý nghĩa của chính công việc mình làm; và cũng bỏ mất mối liên hệ sinh tử của cuộc đời con người với mục tiêu cánh chung....
Trong chiều hướng đó, việc giáo dục thường quá đề cao những kỹ năng, nhằm để giải quyết những vụ việc trước mắt, đạt được những thành công cụ thể...nhưng có nguy cơ đánh mất chân trời đích thực dính dáng đến toàn diện vận mạng con người.
1.2 Nhận xét khái quát về “chân trời giáo dục” dưới khía cạnh đức Tin Kitô giáo
Mặc dù không ai chối được nhiều vết đen trong thời Trung Cổ Tây phương Kitô giáo, nhưng người ta cũng cần nhìn lại một mô hình quan trọng mà thời kỳ này giới thiệu cho nhân loại : bước đi song hành của đức Tin và lý trí. Đức Gioan Phaolô II cho thấy tầm quan trọng của bước đi song hành này trong thông điệp Đức Tin và lý trí.
Đức tin cho con người thấy cứu cánh của trọn vẹn đời người, lý trí giúp con người khám phá những nẻo đường chân thực để đi đến cứu cánh ấy. Lý trí thì có hai phần, lý trí triết học giúp con người tìm thấy ý nghĩa của mọi hành vi và lý trí khoa học giúp con người có được những phương pháp hiệu quả để cuộc sống con người được dễ dàng và thoải mái hơn.
Cụ thể, khi người ta bỏ mất đức Tin, con người không còn nhận ra được vận mạng đích thực của cuộc đời mình, đó là mong đạt được hạnh phúc trọn vẹn. Thế rồi, vào khoảng từ thế kỷ XVIII, con người cũng đánh mất luôn cả lý trí triết học, nên chỉ còn thứ lý trí khoa học, điều mà đức Gioan Phaolo II gọi là thứ “lý trí công cụ”.
Một ngành khoa học dừng lại trong lãnh vực thuần tuý khoa học, sẽ chỉ còn là một công cụ để đạt được một thành quả cụ thể và thực tế nào đó mà không làm thăng tiến phẩm giá con người. Một “con người khoa học” chỉ thuần tuý là khoa học cũng sẽ dễ trở thành công cụ cho những nhà chính trị, kinh tế... nhà khoa học ấy cũng trở thành công cụ. Người khác sẽ sử dụng kỹ năng của nhà khoa học cho mục tiêu của họ như người ta đã từng thấy trường hợp nhưng nhà khoa học và những bác sĩ trong Phát xít Đức và Nhật...
Nói chung, con người hiện đại chỉ tôn vinh lý trí khoa học, chỉ thấy “thứ cứu cánh” và “thứ ý nghĩa” cuộc đời trong những thành quả giúp con người sống dễ dàng hơn và sung sướng hơn. Con người hiện đại tìm sung sướng thay cho niềm vui đích thực của ý nghĩa, và thay cho niềm hạnh phúc chân chính vì thành đạt trọn cuộc đời mình trong cứu cánh... Đó cũng là một hình thức của chủ nghĩa tương đối...
Viêc giáo dục cần khơi dạy nơi người thụ huấn khả năng đọc ý nghĩa, khả năng nếm cảm ý nghĩa chân thực của đời người... và cũng nhạy bén để nối kết vui buồn của cuộc đời với cứu cánh trọn vẹn của vận mệnh con người.
1.3 Giới thiệu “chân trời” của Nước Thiên Chúa
Trong đời sống đức Tin Kitô giáo, mô hình Nước Thiên Chúa được trình bày qua Hiến chương Nước Trời. Một cách khái quát, ta có thể phát hoạ lịch sử đời sống xã hội của nhân loại trải qua ba giai đoạn :
+ cường bạo (cường) : con người sống với nhau bằng sức mạnh thống trị. Phương thức sống là giành giựt.
+ sòng phẳng (bình) : con người tím cách tổ chức xã hội có luật pháp, nhằm tìm sự công bằng. Phương thức sống là trao đổi.
+ ân nghĩa (phúc) : con người được mời gọi để sống với nhau bằng ân nghĩa. Phương thức sống là trao tặng.
Thật ra, từ căn bản, Kitô giáo xác định vũ trụ và con người được Thiên Chúa sáng tạo từ hư vô, nghĩa là tất cả hiện hữu và sự sống của thế giới này là ân phúc của Thiên Chúa. Thế nhưng, do tội lỗi, con người đã biến thế giới thành thế giới của cường bạo, mạnh được yếu thua...; rồi khá hơn một chút, con người xoay sở để tìm một thế giới công bằng hơn, theo nguyên tắc trao đổi, thuận mua vừa bán... Nhưng thật ra, không có một thứ thể chế công bằng nào của con người mà không hàm chứa sự bất công, không ngầm công nhận nguyên lý cường bạo như phương thức căn bản...
Nước Trời là giai đoạn Thiên Chúa lao vào cuộc cách dứt khoát, bắt đầu xác lập “nguyên lý phúc cho...” chứ không phải “nguyên lý sòng phẳng”. Chúa đón nhận thực tại của những người nghèo và bắt đầu lại với thể chế ân phúc. Giáo hội và người Kitô hữu, tin và gia nhập vào thể chế mới, cũng hãy làm phúc... Nước Trời tạo nên một “độ lệch” của tình yêu. Tình yêu không mua bán hay đổi chác được, dĩ nhiên là cũng không thể bằng đường lối cưỡng bức; Tình yêu chi có được do trao tặng và lãnh nhận với lòng tri ân. Nước Trời là nơi con người được mời gọi trở về với “căn tính ân phúc” của thế giới này, là ân sủng đi bước trước, là tình yêu hy sinh cho bạn hữu, là tình yêu tha thứ cho tội nhân, là thái độ cúi xuống những người bé mọn....
2. Hành trình nhân bản Kitô giáo
2.1 Xác tín về chữ “hoà”
Bản chất người trong sáng tạo vào trong cứu độ là một. Thiên Chúa sáng tạo mọi sự trong “Ngôi Lời Vĩnh Cửu”, và Ngài cứu độ con người trong “Ngôi Lời Nhập Thể”. Như thế, chúng ta có thể tìm thấy nơi đức Giêsu và sứ điệp Tin Mừng của Ngài những nền tảng chân thật nhất về bản chất con người.
Thánh Irênê nỏi rằng vinh quang Thiên Chúa là con người sống....Tôma để lại châm ngôn vàng : Siêu nhiên không phá huỷ nhưng kiện toàn tự nhiên...
Như thế, người Kitô hữu không thể sống một đời sống đức Tin một cách xa lạ hoặc trái ngược với khát vọng chân thật của chính mình. Không thể có một thứ đạo song song ở bên ngoài hoặc đối nghịch cách căn bản với những khát vọng chân thật trong cuộc sống trần thế. Đời sống đức Tin chính là sống lịch sử trần thế của mình trong ý nghĩa của lịch sử ơn cứu độ... Đời sống đức Tin, một cách căn bản, chính là sự dấn thân vào lịch sử và biến đổi trần gian thành Nước Thiên Chúa, chứ không phải nẻo đường siêu thoát và an nhàn trong cái tôi “đạo đức” hoặc trong một thế giới linh thánh đóng kín...
2.2 Linh đạo sống với
Linh đạo Kitô giáo chính là linh đạo "sống-với-ai". Linh đạo ấy đặt tất cả ý nghĩa và động lực sống vào mối tương quan ngã vị; khác với linh đạo "sống thế nào", vốn đặt tầm quan trọng nơi thái độ tự ý thức và phong cách sống của chính mình. Linh đạo "sống-với-ai" chính là đường nét tinh thần căn bản của truyền thống Do Thái - Kitô giáo, hay nói chung là của cả truyền thống Xê-mít (Semitic). Truyền thống Xê-mít vốn coi trọng "tên gọi". "Tên" chính là danh từ toát lược toàn thể tính của một ngôi vị, là biểu lộ ngôi vị tính trong tính hiện sinh cụ thể. Tên chính là "người". Đồng thời, "tên" là để "gọi"; nên "tên" biểu lộ phẩm giá của một ngôi vị trong tương quan với một ngôi vị khác. Một ngôi vị cần phải có tên riêng, có "tên gọi". Trong chiều hướng ấy, nền văn hóa Xê-mít luôn đặt một con người trong tương quan ngã vị; luôn nhạy cảm với những phẩm tính của tương quan : danh dự, xấu hổ,...; và, trong khía cạnh tiêu cực, cũng dễ làm nẩy sinh thái độ "giả hình"... Chúng ta có thể thấy cả ba tôn giáo mạc khải (Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo), đặt tất cả ý nghĩa cuộc đời con người trong mối tương quan thờ phượng đối với Thượng Đế; cả ba tôn giáo ấy đều có cội nguồn trong văn hóa Xê-mít.
Trong Kitô giáo, ý nghĩa sống-với ấy được đưa lên tới mức độ như "bản chất siêu hình" của một ngôi vị. Kitô giáo khẳng định một Thiên Chúa có Ba Ngôi Vị và chính mối tương quan giữa Ba Ngôi làm nên Ngôi Vị của mỗi Ngôi. Nói theo kiểu của đức nguyên Giáo hoàng Benêdicto XVI, tương quan trong Ba Ngôi là "sóng" chứ không phải là "hạt"; nghĩa là : trong tương quan với Chúa Con thì Chúa Cha mới là Cha... Điều đó gần giống như thứ "siêu hình học" của người Việt : "sinh con rồi mới sinh cha; sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông"; hoặc nói theo kiểu tâm lý : con người là chính mình trong tương quan.
Ba Ngôi Vị Thiên Chúa là "mẫu thức" căn bản cho tất cả vũ trụ và xã hội con người. Một tương quan chân chính hình thành nên ngôi vị chân chính, tạo nên một bản ngã (cái tôi) đích thực, vừa là chính mình, phát triển bản thân mình; vừa có khả năng đi vào tương quan hiệp thông đích thực. Tín lý Kitô giáo luôn xác định tương quan trong Ba Ngôi Thiên Chúa là tương quan "bình đẳng" và "hiệp nhất". Đó phải là thứ bình đẳng để đi đến hiệp nhất đích thực trong tự nguyện; chứ không phải một thứ "hiệp nhất trong đối đầu" để thống trị (mất bình đẳng); hoặc một thứ "bình đẳng mạnh ai nấy sống" (mất hiệp nhất). Nói cách khác, "dung môi" của mối tương quan ngã vị ấy là tình yêu.
Nền nhân học Kitô giáo đặt nền trên khẳng định : Con người được sáng tạo “theo hình ảnh Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa” và Thiên Chúa sáng tạo con người “có nam có nữ” (x. St 1,26-27). Đó là khẳng định căn bản của khoa nhân học Công Giáo, theo đó, con người cũng là một ngôi vị trong tương quan, con người chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi sống-với Chúa và, trong Chúa, con người có thể sống-với nhau. Chỉ trong tình yêu chân chính con người ta mới thật sự là mình và mới có thể đi đến sự hiệp nhất thực sự với ai khác.
2.3 Yếu tố ngã vị
2.3.1 Phẩm giá con người
Ngã vị cũng là yếu tố đầu tiên trong việc giáo dục. Giáo dục là giúp cho cá nhân người thụ huấn được triển nở bản thân mình một cách chân thật và phong phú. Kitô giáo không gạt bỏ "cái tôi" một cách đơn thuần, chỉ vì thấy cái tôi thường là nguyên nhân của nhiều tham lam ích kỷ, sân si,... nhưng đón nhận, thanh lọc, nâng cấp và hoàn bị cái tôi. Kitô giáo chân nhận phẩm giá bất khả từ nhượng của mỗi con người, thứ phẩm giá được bảo đảm trong quyền năng Thiên Chúa :
“Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16.10).
Kitô giáo cho thấy Thiên Chúa tôn trọng mỗi cá nhân, Ngài cho mỗi con người có một "thiên thần bản mệnh". Ngày lễ kính các thiên thần bản mệnh (2-10) mang ý nghĩa sâu xa như một ngày lễ tôn vinh phẩm giá độc đáo và hết sức cao quý của mỗi con người. Do đó, mỗi một mạng người, dù là một bào thai, đều phải được tôn trọng; mỗi một vận mạng cần phải được chăm sóc để được thành toàn; mỗi một khát vọng chân chính đều kêu nài được Thiên Chúa và anh chị em đồng loại thỏa mãn...
Từ đó, Kitô giáo trân trọng khát vọng sâu xa và chân chính của con người là được thành toàn bản ngã của mình. Khát vọng được hạnh phúc chính là ý nghĩa chung cuộc (cứu cánh) của sự thành toàn ấy. Theo Kitô giáo, hạnh phúc không chỉ là một sự thỏa mãn ngắn hạn, thoáng qua, nhưng hệ tại sự thành toàn trọn vẹn vận mạng đời người, đó là được hiệp nhất trong tình yêu với ai-khác. Thứ hạnh phúc ấy, một cách nghịch lý, lại chỉ có thể đi tới trọn hảo nhờ yêu thương, và tình yêu hướng tới đỉnh cao là tự nguyện dâng tặng chính bản thân và cuộc đời của mình cho người mình yêu thương.
2.3.2 Chủ thể tính
Như thế, Thiên Chúa sáng tạo con người và cho con người được tự do. Bởi vì tình yêu chân chính, tình yêu dám chấp nhận hy sinh cho người mình yêu, chỉ có thể có được trong tự do. Nói cách khác, con người chỉ có thể thành toàn vận mạng của mình trong sự triển nở bản ngã như một "chủ thể". Giáo dục là góp phần dần dần hình thành đường nét "chủ thể tính" nơi con người.
Chỉ trong tính chủ thể, con người mới có thể đón nhận kiến thức một cách phong phú, sắp xếp kho kiến thức, nối kết các chi tiết rời rạc, hình thành nên "cái toàn thể" chứ không phải "cái tổng số". Chỉ trong tính chủ thể, mỗi con người mới hình thành được "cái dáng", "cái hồn", "cái thần", "cái duyên" của một ngôi vị. Chỉ trong tính chủ thể, con người mới có thể thâu tóm toàn thể cuộc đời mình vào một ý nghĩa mang tính cách một "yêu sách tuyệt đối" và mới có thể, - hoặc ngay lập tức, hoặc từng ngày - dâng tặng trọn vẹn bản thân và cuộc đời mình cho ai khác.
Nhân học Kitô giáo chống lại thứ chủ nghĩa tập thể phi nhân vì biến cá nhân mỗi người (một ai) thành phương tiện để phục vụ cho một sự vật nào đó (một cái gì), cho dù đó là một lý tưởng, một chính sách hay một lợi ích tập thể. Giáo dục Kitô kêu mời ý thức tự nguyện dâng tặng và không bao giờ được quyền bỏ qua yếu tố tự do ấy trong hành trình làm người : trả lại cho mỗi người quyền quyết định cuộc đời của mình.
Như thế, nhân học Kitô giáo khẳng định con người cần tìm được bản ngã đích thực của mình trong một sự tôn trọng. Một môi trường xã hội lành mạnh là một môi trường có sự tôn trọng, tôn trọng ngã vị trong phẩm giá căn bản chứ không phải chỉ vì địa vị, hay đức độ, hay tài năng... Giáo dục là mang một sản phẩm đến trước "căn phòng" của ai đó, gõ cửa và mời người đó ra xem có thể sử dụng sản phẩm ấy không. Giáo dục không phải "đạp cửa", "quăng" sản phẩm của mình vào, bắt buộc và đe dọa phải sử dụng sản phẩm ấy (giáo dục nhồi sọ). Sự hiệp nhất xã hội phải được hình thành bằng nguyên tắc "bình đẳng trong tình yêu tự nguyện".
Dĩ nhiên, một xã hội, trong thực tiễn của lịch sử, thì không thể không có tính cưỡng bách của luật pháp, không thể không có sự điều hành của quyền bính. Tuy nhiên, luật pháp chỉ là một tầng nền tối thiểu. Khi một xã hội không bảo đảm được "miếng cơm manh áo", bảo đảm nhu cầu sinh học như tầng nền tối thiểu cho người dân, thì xã hội sẽ loạn. Nhưng mục tiêu của xã hội và của cá nhân không phải chỉ là "cơm áo gạo tiền"; giản lược vóc dáng toàn thể tính của một ngôi vị con người vào nhu cầu cơm áo gạo tiền là điều khó có thể chấp nhận. Cũng thế, một khi không có luật pháp thì xã hội sẽ loạn. Nhưng giản lược mọi tương quan xã hội của con người với nhau theo luật phát thì cũng quá kỳ dị, ngay cả đối với một trại lính. Cái tối thiểu của con người về nhu cầu sinh học và cái tối thiểu của xã hội về kỷ cương luật pháp chỉ là những mức độ cần được bảo đảm cho số đông, cho tập thể, để tránh một sự đổ vỡ, bạo loạn. Còn dáng dấp mang tính toàn thể của một xã hội là văn hóa; và dáng dấp mang tính toàn thể của cá nhân là phẩm giá của một nhân vị, cho dù đó là một phạm nhân... Điều gần như hiển nhiên đối với nhân loại là : ý nghĩa của sự sống quan trọng hơn chính sự sống đơn thuần : thà chết vinh còn hơn sống nhục; đói cho sạch, rách cho thơm;...
Sự biến đổi lượng tính về cơm áo gạo tiền chỉ có thể làm gia tăng sự sung sướng (lượng tính) chứ không thể nào tạo nên được hạnh phúc (phẩm tính), nếu như mỗi người không có được một sự tổng hợp của chính mình, để khám phá ý nghĩa bản thân và cứu cánh cuộc đời mình. "Văn hóa", "phẩm giá" không phải là phản ảnh tùy phù của hạ tầng cơ sở vật chất, nhưng chính là sự thành toàn của đẳng cấp người.
Chỉ trong một dung môi tôn trọng, con người mới có thể đạt đến tình yêu. Phẩm giá người là một giá trị mà không sự vật nào có thể giành giựt hoặc trao đổi được. Những gì mang tính cách "bạo lực" hoặc "áp bức", hoặc "mua bán" đều xúc phạm đến phẩm giá của ngã vị và không bao giờ có thể đi đến tình yêu chân chính. Như thế ngã vị chỉ có thể phát triển trong môi sinh tôn trọng, trong nền "văn hóa tự nguyện", trong thái độ biết trao tặng và biết lãnh nhận với lòng tri ân.
2.3.3 Tương quan ngã vị
Đỉnh cao của ngã vị là tình yêu. Tình yêu Kitô giáo không phải chỉ là một tình cảm thất thường trong tâm hồn, nhưng hướng tới một thực-tại, một cộng đồng ngôi vị, nơi đó mọi thành phần đều "trao thân gửi phận" cho nhau, đón nhận và trao tặng trọn vẹn "bản thân" và "cuộc đời" của nhau.
Một "cộng đồng chức năng" là nơi người ta đóng góp tiền bạc, tài năng, sức lực, nhưng không đóng góp chính bản thân và cuộc đời mình. Một xí nghiệp, một câu lạc bộ, một phong trào... là những "cộng đồng chức năng". Ngược lại, gia đình là một "cộng đồng ngôi vị", nơi đó mỗi thành viên đóng góp và đón nhận trọn vẹn bản thân và cuộc đời cho nhau.
Một người đơn độc sẽ dễ rơi vào tình trạng bao bọc bản thân mình bằng sự vật, bằng nếp sống..., và cũng khó có thể đạt đến mức độ hy sinh "bản thân - cuộc đời" cho ai. Chỉ khi ai đó được sống trong một "cộng đồng ngôi vị", được "thuộc về" nhau thì người ấy mới có thể xóa được nỗi xao xuyến sâu xa của phận người (angst). Kitô giáo cho rằng khát vọng yêu thương là khát vọng lớn nhất của con người chứ không phải khát vọng sống "an nhiên tự tại".
Trong đức Tin, mọi người Kitô hữu được thuộc về Chúa trong một "giao ước bản thân" (bí tích Rửa tội), và cũng thuộc về nhau trong một cộng đồng ngôi vị là Giáo hội. Nhưng Giáo hội cũng không phải là nơi người Kitô dừng lại, không phải nơi trú ẩn để tìm an toàn cho chính mình. Giáo hội có trách nhiệm với con người, Giáo hội là nơi ươm mầm và gieo vãi hạt giống Nước Trời, để thế giới được trở nên anh em một nhà.
Vận hành của yêu thương là : từ kinh nghiệm về tình yêu trong gia đình, kinh nghiệm về luật “cho không” cũng như lòng “kính trọng phẩm giá con người”, mỗi được “khích lệ bước vào các mối tương quan cộng động mở rộng”...để “gia đình làm nên cái nôi và là phương tiện hữu hiệu nhất để nhân bản hóa và ngôi vị hóa xã hội”. Chiều hướng ấy có nghĩa : lý tưởng của đời sống nhân loại là biến thế giới nên một "gia đình lớn", tứ hải giai huynh đệ; chứ không phải biến gia đình thành một "xí nghiệp nhỏ".
2.3.4 Sức mạnh “âm tính” của mắc nợ nghĩa tình
Sinh ra làm người, người đã mắc nợ nhau về rất nhiều điều : ngôn ngữ, văn hóa, những giá trị nhân bản… Nhưng nhất là con người được sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình.
Mắc nợ là điều có lẽ chẳng ai muốn. Khi mắc nợ tiền bạc, mắc nợ một sự vật nào đó, người ta tìm cách trả cho xong để có thể thảnh thơi tính toán công việc làm ăn cho riêng mình. Đó là khi mà sự trao đổi giữa người này với người kia hoàn toàn chỉ là một sự trao đổi đồ vật; và người ta muốn giới hạn mối tương quan con người với nhau trong mức độ “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, chẳng những mức độ “thuận mua vừa bán” không thể giải quyết rốt ráo tương giao con người với nhau, nhưng tự chính thâm tâm mỗi người cũng không thể tìm được sự an hòa bản thân trong xã hội công bằng mà không mở ra đến khung trời yêu thương. Con người khát vọng yêu thương và khung trời yêu thương không là gì khác hơn thế giới của mắc nợ nghĩa tình, thế giới vượt trên những trao đổi sòng phẳng, thế giới mà người ta biết trao tặng tấm lòng, trao tặng bản thân và biết đón nhận với lòng tri ân. Món nợ nghĩa tình là món nợ không bao giờ có thể trả hết. Khi người ta biết trao tặng cho nhau tấm lòng và trao tặng cho nhau chính bản thân, thì thái độ liêm chính nhất của người nhận lãnh là sống trong tâm tình mắc nợ nghĩa tình. Bởi vì tấm lòng con người và nhất là bản thân của mỗi con người đều là điều vô giá mà người lảnh nhận không thể lấy điều gì để bù đắp cho cân xứng.
Không phải ngẫu nhiên mà, bình thường, con người có tâm tình mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ của mình. Lòng hiếu thảo của con người đối với cha mẹ, thật ra, không phải là một sự trả nợ công lao của cha mẹ như một thứ công xá. Công xá, dù có lớn lao đến đâu vẫn là một thứ có thể trả được một cách sòng phẳng. Công xá cha mẹ là sự trao tặng của nghĩa tình, là sự trao tặng của cả một đời, của chính bản thân cha mẹ,và điều đó không bao giờ người con có thể đền đáp được. Con cái được ơn mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ, một sự mắc nợ cần thiết cho đời người, một món nợ ngọt ngào, một món nợ hồng phúc mà nhờ đó đứa con có thể sống cho ra người, sống trong lòng tri ân và sống trọn vẹn bản thân mình để đền đáp nghĩa tình mà mình đã được lãnh nhận. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình làm cho con người không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là sống cho tình yêu; món nợ nghĩa tình làm cho con người không còn chỉ an tâm sống trong thế giới sự vật nữa, nhưng được móc nối để có khả năng bước vào lĩnh vực tình người, lĩnh vực trao đổi bản thân của mình vời người khác. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình không phải là một sự bận lòng, phiền hà, mà là một tình cảm ngọt ngào của người được yêu.
“Anh em đừng mắc nợ gì cả, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8).
Sống trong mắc nợ nghĩa tình, con người như được hoán cải từ bên trong, để có thể vận dụng tất cả mọi năng lực của bản thân mình mà sống cho xứng đáng với ân nghĩa mà mình đã được lãnh nhận. Người ta nói rằng ; bình thường con người không mấy khi sử dụng hết năng lực của mình. Chỉ trong những hoàn cảnh bắt buộc, những tình huống nguy hiểm, người ta mới bỗng thấy mình làm được những điều mà chính mình cũng không ngờ. Khi đứa con biết sống trong tâm trạng mắc nợ nghĩa tình, thì nó có được một sức mạnh vô địch, nó sẽ không còn lợi dụng những khó khăn để chữa mình với cha mẹ, nhưng cương quết bằng chính tấm lòng để vượt qua những khó khăn và làm cho bằng được điều làm vui lòng cha mẹ. Hơn nữa, sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình, đứa con như được hướng dẫn từ lương tri để có thể sống tốt, sống xứng đáng với công lao của cha me.
Có những người cha, người mẹ cho con rất nhiều “sự vật”,nhà cửa, tiền bạc, phương tiện… và họ có thể nói với con rằng : “Tao lo cho mày còn thiếu điều gì nữa không?” Quả nhiên là cha mẹ nói chung là đã lo cho con quá nhiều. Tuy nhiên, có thể có một điều còn thiếu, mà lại là điều căn bản và cần thiết hơn cả cho hành trình một đứa con: đó là cho con nghĩa tình đến độ nào đó mà chúng biết sống trong thái độ mắc nợ nghĩa tình. Dĩ nhiên, điều ấy không phải chỉ là một phương pháp ứng xử, không phải chỉ là một bài học lý thuyết, nhưng chính là một hành trình sống lâu dài, trong đó, cha mẹ không ngừng trao tăng tấm lòng và trao tặng chính bản thân mình cho con cái.
Ghi nhận vài hệ luận về triết lý giáo dục từ nền tảng nhân bản Kitô giáo :
a/ Giáo dục để làm người. Mục tiêu đầu tiên của giáo dục là hình thành nên những cá nhân tự chủ và phát triển tròn đầy. Đó là một con người thể hiện được "chủ thể tính" trong hành trình trình cuộc đời; có đủ "bản lãnh cá nhân" để xử lý những tình huống, những biến động, những xu hướng xã hội. Trong lãnh vực học hành, đó là một con người có "bản lãnh học hành" để có thể thâu hóa thêm những tri thức đa dạng đa chiều vào triết lý sống của mình. Trong lãnh vực đạo đức, đó là người có "bản lãnh đạo đức" để có thể có lập trường thống nhất và vững bền trước những cám dỗ của thời đại.... Đó là những con người có đủ lương tâm, đủ đạo đức cá nhân để sống trong nền kinh tế thị trường; có đủ trách nhiệm để biết lo cho gia đình, có đủ cảm thức sự thiện để đi vào lãnh vực nghệ thuật,.... Giáo dục không bao giờ được biến con người thành công cụ, thành một thứ "thiên lôi" chỉ đâu đánh đó.
b/ Phẩm giá người là giá trị căn bản và là nền tảng của mọi sự phát triển. Không bao giờ được đánh đồng phẩm giá cao quý và bất khả tương nhượng của phẩm giá bằng nhân cách hay những "sự vật" khác : địa vị, tài năng, tiền bạc... Do đó, điều đầu tiên, hãy cư xử với con người như một ngôi vị. Bầu không khí giáo dục để hình thành nhân cách đích thực chính là sự tôn trọng chứ không phải là những áp lực bên ngoài. Đất nước chúng ta đã có quá nhiều bằng chứng tiêu cực của việc giáo dục trẻ em bằng áp lực bên ngoài. Áp lực bên ngoài làm nên sự xao xuyến (angst) sâu xa bên trong, tạo nên một thứ "bản lãnh đối phó" đối với những nỗi sợ bên ngoài. Bản lãnh đối phó là sự biến tướng bản năng phòng vệ, là căn nguyên của biết bao nhiêu căn bệnh tâm hồn. Nỗi sợ là nguyên nhân của hầu hết tật dối trá. Áp lực bên ngoài và thái độ đối phó khiến cho con người ít có khả năng phản tỉnh, không biết quay về với lương tri chân thật. Giáo dục bằng áp lực nhồi nặn nhân cách con người nên một "hình tượng không xương sống", tạo nên những con người khôn vặt, có thể giải quyết khéo léo những vụ việc nhưng lại không giải gỡ được sự bất an giữa mình với chính mình. Trong bầu không khí ấy, ta có thể thấy nhiều thái độ lố bịch : lố bịch trước những hiện tượng lớn của thế giới : vui mừng tòa tháp đôi của Mỹ bị sụp đổi, vui mừng vì dích Covid 19 lan tới Mỹ...; thái độ lố bịch đầy tính hãnh tiến trước những “thành công” của “quân ta”; lố bịch trong sự khoe mẽ thanh thế, địa vị, tiền bạc; lố bịch trong sự chạy theo những thị hiếu rẻ tiền một cách đoàn lũ... (Ngôn ngữ nhà đạo gọi đó là tình trạng thiếu đời sống nội tâm)
Ngược lại, một sự tôn trọng sẽ tạo được một mối tương tác quân bình giữa bên ngoài và bên trong, tạo nên tương quan hiệp thông, lành mạnh để mỗi người được là mình, tạo điều kiện để hình thành được "bản lãnh sáng tạo", sáng tạo con người mình như một "hình tượng nghệ thuật độc đáo", mang dáng dấp cái toàn thể của bản thân...
c/ Cuộc sống con người đến bao giờ mới đạt đến giai đoạn "lợi ích của mỗi người cũng là lợi ích của mọi người", để có được nền tảng của đạo đức như học thuyết Mác-xít chủ trương ? Đối với Kitô giáo, thế giới ấy là hình ảnh của Thiên Đàng mai sau. Thiên đàng ấy đã bắt đầu ở trần gian dưới một hình thức khác : tình yêu hy sinh.
Giáo dục Kitô giáo nhằm phát triển một khả năng nhạy bén đối với tha nhân, "vui với người vui, khóc với người khóc", giúp con người di chuyển một cách tự nguyện từ thái độ lấy bản thân mình làm trung tâm, để đi đến chỗ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời, tìm thấy niềm vui và hạnh phúc khi được phục vụ cho tha nhân. Con người chỉ có thể tìm được chính mình một cách chân chính khi biết thành thật hiến dâng. Đức Giêsu nói : "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu" (Ga 13,15). Hơn nữa, Đức Giêsu kêu gọi môn đệ vượt qua thái độ "bạn ra bạn, thù ra thù". Nhờ xác tín một Thiên Chúa là Cha chung, người môn đệ đức Giêsu được kêu gọi để đón nhận mọi người là anh chị em của mình.
“Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” .(Mt 5, 44-45)
Chính thái độ ấy là cánh cửa rộng mở, là đôi tay rộng mở để nhân loại đi chiều hướng đối thoại, hợp tác, xây dựng thế giới hòa bình và xã hội nhân ái.
2.4 Chiều kích lịch sử
2.4.1 Tôn trọng mạch ngầm chân-thiện-mỹ
Lịch sử văn hóa nhân loại đã trải qua hàng ngàn năm, với biết bao nhiêu tâm hồn chân thật và trí tuệ siêu việt, để tạo nên một bề dày lịch sử, không phải chỉ là thứ lịch sử của những sự kiện mà còn là lịch sử của những cảm thức về chân thiện mỹ. Bề dày của cảm thức chân thiện mỹ ấy được ghi nhớ trong ngôn ngữ, trong văn hóa, trong văn hiến của một dân tộc và của cả nhân loại. Chẳng hạn trong ngôn ngữ, người ta sẽ tìm thấy những cảm thức về chân lý rất đáng quí trọng khi tìm về ngữ căn (etymology) của từng từ ngữ; hoặc trong văn hóa, người ta có thể tìm thấy những giá trị nhân văn ẩn sâu dưới những hình thức lễ hội, nguyên tắc giao tế, tổ chức cộng đồng hoặc gia đình...; trong những chuyện cổ tích mang dáng vẻ như huyền-hoặc, không-tưởng lại thường hàm chứa một nguồn mạch tinh thần căn bản (văn hiến) xuyên suốt của một dân tộc...
Lịch sử tính là chiều kích căn bản làm nên căn tính con người. Thế nhưng con người hiện đại thường không nắm bắt được "vóc dáng" của dòng chảy sinh mệnh ấy, đã quá vội vàng phê phán, hoặc phá bỏ truyền thống bao đời bằng cách so chiếu với vấn đề của một thời điểm của lịch sử; biến những nền tảng nhân bản của văn hóa thành chủ nghĩa anh hùng; đánh mất lương tri để chạy theo "hệ quả lịch sử" (vô độc bất trượng phu...)
Nguy cơ phá hỏng mạch ngầm chân thiện mỹ ấy chính là thái độ thực dụng, duy tiện lợi; thái độ liều lĩnh, hoặc thái độ "ngựa non háu đá": người ta dùng chữ giản thể thay vì phồn thể trong tiếng Trung; người ta dễ dàng phá bỏ những di tích lịch sử để xây những công trình hiện đại; người ta thay thế hình tượng những danh nhân văn hóa dân tộc bằng những vị anh hùng của một ý thức hệ; người ta chính trị hóa mọi hành động của nhân tính (người lính đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị khi xây dựng được bệnh viện dã chiến; người trẻ đã phá hỏng cấu trúc ngữ nghĩa khi tạo từ cho vui tai (sát thủ đầu mưng mủ...)... Những điều ấy là dấu hiệu ấy đáng báo động về một sự khoét rỗng mạch ngầm chân thiện mỹ...
2.4.2 Bản chất sự sống là một lịch sử
Sách thánh mặc khải cho chúng ta một thứ tôn giáo của tương quan hiện sinh; không phải thứ tôn giáo hướng tới một giá trị luân lý cao cả, và cũng không phải tìm một sự hoà đồng trong bản tính, đưa đến một sự hoà tan vào nhau. Tương quan hiện sinh chân chính không do ngất trí, không do xuất thần, không do sự bộc phát của tình cảm, nhưng được hình thành do quá trình lịch sử, được đan bện do những sự kiện cụ thể. Kitô giáo và đạo Sách thánh nói chung là đạo của những sự kiện, những sự kiện cụ thể đan bện lại thành nên một bề dày nghĩa tình.
Nói một cách khái quát, sống đức Tin là sống cuộc đời mình như một lịch sử ơn cứu độ; trong đó, bản thân của mỗi người tín hữu được trao ban cho Chúa trong một quá trình lịch sử, và cũng đón nhận được chính bản thân Chúa trong một quá trình. Thực sự con người chỉ là chính mình trong dòng lịch sử, và Chúa cũng xuất hiện cho con người như thế, nghĩa là trong dòng lịch sử. Như thế, tương quan ngã vị như là nét đặc trưng của Sách Thánh không thể thành hình trên một sự ngẫu hứng hay một thứ “cú sét ái tình” mà là một hành trình thực sự, đặt nền trên những sự kiện thực của đời sống con người.
Truyền thống Kinh Thánh vốn mang nét căn bản là tính lịch sử, nghĩa là một thái độ của niềm tin được thể hiện trong chính chiều kích lịch sử của cuộc đời. Do Thái Kitô giáo là tôn giáo mặc khải, nghĩa là đón nhận giáo lý từ trời cao, nhưng lại được thể hiện trong cuộc sống đời thường, làm nên một thứ hoa trái riêng biệt là “lịch sử ơn cứu độ”.
Do đó, thái độ căn bản của người Dân, không phải là một lòng đạo đức tự nó là tốt, cũng không phải là một tư cách hay một trình độ tôn giáo cao vời, mà là lòng trung tín với Chúa, trung tín với các giải pháp của Chúa trong dòng lịch sử, để hướng tới việc đón nhận Đấng Mêsia.
Sách Thánh nói Dân Do Thái là một dân cứng lòng. Điều đó có lẽ không phải tâm tính của một dân tộc vốn ngang ngạnh, nhưng đúng hơn là do họ đứng trước một sứ mệnh “không giống ai”, sứ mệnh sống niềm tin, đón nhận những chỉ dẫn của niềm tin trái ngược với lối suy nghĩ khôn ngoan đời thường. Sống niềm tin là cả một cuộc phiêu lưu, cả về mặt chính trị và quân sự chứ không phải chỉ là một thái độ đạo đức. Truờng hợp vua Achaz là một ví dụ điển hình (x. Is 7, 1-14). Chính vì vậy mà Dân đã thường giết các ngôn sứ...
2.4.3 Bản chất con người là một “câu chuyện”
Bình thường, một bài toán đúng chỉ có một kết quả. Trong bài toán, khi có những dữ kiện, thì kết quả gần như đã có rồi. Những cách giải toán dù có biến thiên hay khác biệt nhau thế nào, thì cũng vẫn chỉ là một lô-gíc cố định, đưa tới đáp số đã có và chỉ có thể đi đến đáp số ấy mà thôi.
Câu chuyện khác. Câu chuyện luôn bất ngờ. Người ta tò mò hoặc say sưa đọc truyện, nghe chuyện vì muốn biết được kết cục của câu chuyện, vì muốn nhìn thấy một kết cục theo ý mình.... Khi mà tác giả tìm thấy những tình tiết vừa chân thực, vừa "hợp lý" lại vừa tạo nên một sự chuyển hóa thật ly kỳ thì câu chuyện trở nên hấp dẫn và có giá trị...
Cuộc đời con người không phải là một bài toán đúng nghĩa, nhưng là một câu chuyện đúng nghĩa. Một con người là một huyền nhiệm và một cuộc đời luôn hàm chứa những bất ngờ, luôn ẩn chứa một hoặc nhiều khả năng "sáng tạo". Sự có mặt của một con người nào đó chính là dấu chỉ xuất hiện một cái mới, một bắt đầu mới và luôn có thể trở nên mới...
Hơn nữa, cách làm mới của Chúa thật là kỳ diệu, không phải là cắt bỏ cái cũ, không phải là cắt đục, đẽo gọt, hoặc uốn nặn ngẫu hứng. Thiên Chúa làm mới cuộc đời con người bằng cách đi vào lịch sử con người, đón nhận những dữ kiện đã hình thành trong cuộc đời mỗi con người. Thiên Chúa đi vào bài toán cuộc đời con người để biến bài toán ấy nên một câu chuyện mới, câu chuyện hấp dẫn với những chuyển biến vừa "hợp lý", vừa kỳ diệu, vừa tôn trọng tự do con người, vừa bộc lộ quyền năng của tình yêu, hàm chứa sự khôn ngoan vượt bậc trong quyền năng và thấm nhuần thứ tình yêu đày lòng thương xót trong quyền năng vô biên của Ngài...
Cái mới ấy không phải từ trên trời rơi xuống, nó nẩy sinh từ chính những dữ kiện cụ thể của lịch sử. Câu chuyện đời luôn đón nhận nguồn cội trong dòng lịch sử thật, nhưng lại luôn hàm chứa những yếu tố, những cách lý giải có thể khác, luôn có thể vượt qua thứ lô-gíc toán học để bay lượn trong bầu trời của tự do. Con người ta có tự do. Với tự do, phương thức giải toán trở nên thiếu sót; đáp án đời người trở thành một tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo với tất cả tài năng của người nghệ sĩ chứ không phải là một thành quả kỹ thuật được xếp hạng cao thấp...
Con người khoa học kỹ thuật thì luôn chắc tâm về đáp án của mình; nhưng bản chất con người có tự do lại luôn tò mò, bị lôi cuốn như một khao khát khám phá kết cuộc còn ẩn dấu của câu chuyện.
Mỗi con người chính là người kể chuyện đời mình. Mỗi người là một đạo diễn, là một tiểu thuyết gia, là người nghệ sĩ đích thực trên chất liệu cuộc đời mình. Thiên nhiên và xã hội cung cấp cho con người những dữ kiện, nhưng chính con người mới là kẻ cấu trúc nên câu chuyện đời mình. Người ta thường nói "xấu nhưng cấu trúc đẹp", đó cũng là cách nói thay cho kiểu nói "nhất dáng nhì da".... và cách nói chơi đùa ấy cũng có thể hàm một ý nghĩa "triết lý" sâu xa. Chất liệu làm nên bức tranh hoặc pho tượng nào đó có thể không tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là người ta không thể tạo nên được một tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo. Với con người, điều đó càng đúng hơn rất nhiều, nếu người ta bỏ đi được cách nhìn so sánh thô thiển, nếu người ta đừng đánh giá được thua theo tiêu chuẩn của một thứ thành đạt xã hội nào đó.
Cuộc đời con người là một câu chuyện, một câu chuyện có thể mở ra vô cùng kết quả khác biệt. Câu chuyện đời của mỗi con người quả là một huyền nhiệm, vì chính bản thân mỗi con người đã là một huyền nhiệm, và kế hoạch của Thiên Chúa trên cuộc đời con người lại là một huyền nhiệm gấp đôi. Câu chuyện đời người có thể "diễn ra" trong bối cảnh một làng quê hoặc bối cảnh những đại gia giầu có. Vai chính của câu chuyện có thể là một bác sĩ mà cũng có thể là một bệnh nhân, có thể là một vị tổng thống hoặc một người mẹ đau nặng... Điều quan trọng hơn là câu chuyện ấy lạt lẽo nhàm chám hoặc đầy kịch tính; đầy ý nghĩa nhân văn hoặc là những thứ câu khách rẻ tiền; hé mở được thực tại huyền nhiệm của đời người hoặc chỉ là sự nối kết những sự kiện lòe loẹt..; và điều quan trọng hơn hết là câu chuyện của một người lại có thể "gợi hứng" như một lời chứng chân thật cho những câu chuyện đời phong phú muôn mặt của mỗi người. Giá trị câu chuyện cuộc đời được "đo" bằng những khúc quanh bất ngờ đầy ý vị...
Hãy đọc một câu chuyện để đừng đóng khung đời mình theo một thang điểm nghèo nàn; hãy nghe một câu chuyện để tìm thấy những chân trời mới lạ nơi cuộc đời mình. Hãy chiêm ngắm câu chuyện một vị thánh để gia tăng lòng trông cậy vào Chúa... Đứng trước câu chuyện đời mình, mỗi người cần nghe được mời gọi sáng tạo, cần nhận ra một năng lực thôi thúc sáng tạo mãnh liệt nhất, để vượt thắng cái lô-gích máy móc của khoa học thực nghiệm.
2.4.4 Niềm hy vọng Cánh chung
Đối với Vatican II, cánh chung là một nét căn bản của mọi suy tư thần học, mọi sinh hoạt trong đời sống Giáo Hội. Tất cả mọi khía cạnh của đời sống Giáo Hội đều chỉ được sáng ra trong chiều hướng cánh chung, nghĩa là đặt vào trong dòng thời gian, trong niềm tin vững chắc vào mầu nhiệm Nước Trời nhe men, như hạt, đồng thời luôn trông chờ ngày quang lâm của Chúa.
Sống chiều kích cánh chung nghĩa là luôn nhận ra những dấu chỉ của Nước Trời, và luôn tha thiết mong chờ ngày Chúa hoàn tất trong ngày Quang Lâm. Sống cánh chung trong nghĩa cạnh hiệp thông, nghĩa là xác tín tất cả những giới hạn sai sót sẽ được trở nên đẹp, sẽ được hoàn tất trong nhiệm cục Nước Trời. Trong ý nghĩa đó, tất cả những đóng góp, những chia sẻ, những nỗ lực của ta không bị tan biến vào hư vô; nét đẹp ta đưa vào thế giới không trở thành vô nghĩa. Tất cả đều là những nét phác họa mầu nhiệm Nước Trời đang trên hành trình đi đến hoàn tất tốt đẹp.
Điều chính yếu trong ý thức cánh chung, đó là mọi sự đều được dính vào, kết nối vào, ướm vào mầu nhiệm Đức Giêsu Kito.
Chú thích:
[1] Joseph Ratzinger, Đức Tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay, bản dịch của Athanasio Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Lam, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội – 2009, trang 191.
[2] Tiếng Hy lạp là prosopon (hàm nghĩa : nhìn về), hoặc tiếng La tinh persona (hàm nghĩa : lời vang xuyên qua), cả hai ý nghĩa đều hàm ý một ngã vị cần có tương quan. Trong bài, từ “ngôi vị” hoặc “ngã vị” được sử dụng đồng nghĩa, theo thói quen êm tai.
[3] Xc. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ, số 26.
[4] Gioan Phaolo II : “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người mất ý nghĩa nếu không nhận lấy mặc khải về tình yêu, nếu không có kinh nghiệm về tình yêu và nếu không nhận lấy kinh nghiệm ấy làm của mình và hăng say dự phần vào đó”, thông điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người, số 10.
[5] Gần giống trường hợp người ta nói về sự khó tính của những người độc thân, "giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng".
[6] Đức Gioan Phaolo II, Tông Huấn Gia Đình, số 43.