Phác thảo những nền tảng cho một nền giáo dục nhân bản Kitô giáo - Phần 2 (Phần cuối)
Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa "dấn thân". Ngài "dính dáng" vào vận mạng của vũ trụ. Ngài như thể "liên lụy" vào vận mạng của con người. Thiên Chúa dấn thân trong việc tự do sáng tạo nên vũ trụ. Rồi Ngài dấn thân khi hứa với Adong Evà về một ơn cứu độ (St 3,15); Ngài hứa với Noe, rồi đi vào một giao ước với Abraham (Xc. St 17). Tiến trình đó dẫn dần đến một giao ước chính thức, đúng nghĩa, giữa Thiên Chúa với Dân riêng trên núi Sinai (Xh 24).
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
3. Khát vọng cứu độ
3.1 Đức Giêsu và Nước Thiên Chúa
Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa "dấn thân". Ngài "dính dáng" vào vận mạng của vũ trụ. Ngài như thể "liên lụy" vào vận mạng của con người. Thiên Chúa dấn thân trong việc tự do sáng tạo nên vũ trụ. Rồi Ngài dấn thân khi hứa với Adong Evà về một ơn cứu độ (St 3,15); Ngài hứa với Noe, rồi đi vào một giao ước với Abraham (Xc. St 17). Tiến trình đó dẫn dần đến một giao ước chính thức, đúng nghĩa, giữa Thiên Chúa với Dân riêng trên núi Sinai (Xh 24).
Đức Giêsu đã khai mạc Nước Trời với Bài Giảng Trên Núi. Nước Trời đã có mặt cùng với đức Giêsu. Tin Mừng Nhất Lãm và những thư đầu của thánh Phaolô cho thấy một niềm khao khát mãnh liệt về Nước Trời. Tin Mừng Thứ Tư và những thư sau của thánh Phaolô lại tập trung vào bản thân của đức Giêsu. Thực sự hai khía cạnh đó không ở bên cạnh nhau, không thể tách rời nhau, và chắc chắn không thể loại trừ nhau. Lịch sử Giáo hội đã nhiều lần chao đảo trong những lựa chọn, có khi người ta đấu tranh cho Giáo hội hoặc cho một thế giới công bằng mà hình như vắng bóng đức Giêsu, một đức Giêsu chiến thắng trước hết bằng chính cái chết tủi nhục trên thập giá; và cũng không hiếm khi người ta gắn bó với đức Giêsu, nhưng là một đức Giêsu không có bóng dáng Nước Trời, một thứ sinh hoạt đạo tách rời khỏi vận hành được cứu độ của thế giới và vũ trụ này.
Đức Giêsu là trung tâm của Nước Trời. Ở đâu có đức Giêsu thì cũng phải có Nước Trời xung quanh; và ở đâu là Nước Trời chân thật thì cũng có đức Giêsu ở trung tâm. Người Kitô hữu hướng đến Đức Giêsu Kitô với tất cả lòng tin-cậy-mến; và người Kitô hữu nhận ra Nước Trời của Đức Giêsu Kitô bao hàm tất cả giá trị chân-thiện-mỹ.
Nước Trời được đức Giêsu công bố như hạt cải nhỏ bé, như nắm men nhỏ bé... Điều đó có nghĩa là đường lối của Nước Trời, những giá trị của Nước Trời ra như yếu nhược và dễ thua cuộc trong thế giới của sức mạnh bạo tàn. Nhưng với đức Giêsu, với tình yêu liên lụy của đức Giêsu, chính những giá trị nhỏ bé ấy sẽ lớn lên, sẽ biến đổi bộ mặt thế giới. Hạt men hạt cải Nước Trời cần được được gieo vào trong lòng cuộc sống chứ không phải để cất dấu đi. Người Kitô hữu chính là người thương gia khám phá Nước Trời như viên ngọc đẹp, bán tất cả tài sản để mua lấy viên ngọc ấy. Nước Trời nhỏ bé ấy mời gọi người tín hữu nhận ra tất cả giá trị chân-thiện-mỹ đang ẩn tàng nhưng thật mạnh mẽ...
3.2 Tin Mừng đỡ từ chân
Con người chỉ trở nên chính mình trong tương quan, và thái độ tương quan ấy làm nên phẩm cách của một con người. Con người như một ngã vị (persona) thiết yếu phải thể hiện chính mình trong nhân cách (personalitas). Bình thường, người ta nhận ra một người "có nhân cách" là người có đức độ hoặc tài năng. Thế nhưng, xét trên bình diện siêu hình, "nhân cách" hay "đức độ" hay "tài năng"... vẫn là điều con người "có" chứ không phải là điều con người "là". Tài năng, đức độ... vẫn có thể "bay đi mất" mà cái tôi trần trụi thì vẫn luôn ở lại đó. Trong khi triết học nói đến ngã vị như một cái tôi cá thể hiện hữu ấy (subsistens distinctum) thì các khoa tâm lý, xã hội lại chỉ có thể bàn đến nhân cách (personalitas) của con người. Trong đời sống xã hội, trong tương quan ngã vị của con người với nhau, người ta thường nhìn nhận một con người qua nhân cách của người ấy. Người ta kính kẻ đức độ, người ta phục người có tài năng, hoặc người ta xum xoe với người đẹp, người có tiền, có địa vị... Điều ấy nếu được đẩy xa một chút nữa thôi, người ta sẽ rớt vào tình trạng, hoặc chủ trương hoặc vô tình, nhìn nhận xã hội, hoặc nhà nước là chủ thể bạn tặng phẩm giá cho cá nhân con người...
Điều éo le của kiếp người là, trên bình diện nhân cách, ai cũng biết rằng con người không có điểm xuất phát bằng nhau, thế mà mỗi người lại cứ phải chạy đua trên cùng một đường đua, với những chuẩn mực của mức đến như nhau. Có người sinh ra đã nhận lãnh biết bao ưu thế, và có người, ngay khi sinh ra, đã chịu biết bao thiệt thòi..., mà thiệt thòi lớn nhất là chính ngã vị của họ không được tôn trọng xứng đáng.
Điều vô cùng khó khăn cho hành trình làm người, đó là "cho chân mình xuống đất", là hòa giải được với bản thân mình... Platon đã từng nói : chiến công lớn nhất của con người là chiến thắng chính mình. Không hòa giải được với chính mình, không dám thẳng thắn đối diện với cái tôi thực sự của mình, không dám cho chân mình xuống đất, người ta rớt vào căn bệnh giả hình. Giả hình là căn bệnh nguy hại, sâu xa nhất của hành trình làm người và cũng là thứ bệnh nguy hiểm nhất cản trở con người đón nhận ơn cứu độ. Không phải ngẫu nhiên thời đức Giêsu mới có nhiều người giả hình, nên đức Giêsu đã rất nặng lời với họ. Giả hình là thái độ không muốn cho chân mình xuống đất, đánh lừa chính mình về cái đầu cao trên mặt nước,... và không đón nhận ân huệ tặng không của Thiên Chúa : "Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).
Kitô giáo không phải là nẻo đường giải thoát mở ra "trên nóc nhà" để những ai "mạnh khỏe", đạo đức đầy mình có thể leo lên được... Kitô giáo là nẻo đường cứu độ được khai mở ở ngay dưới chân, đến độ những kẻ què, trẻ nít và những người yếu nhược nhất vẫn có thể đi được. Thiên Chúa cứu độ bằng cách "đỡ từ chân" chứ không phải "nắm tóc". Điều quan trọng nhất lại là nhìn nhận "chân" của mình, đưa chân ra cho Thiên Chúa nhìn thấy, đặt bàn chân mình lên đôi tay đầy lòng thương xót của Chúa... Chỉ người nào dám cúi xuống, nhìn ra bàn tay Chúa nơi chân của mình thì mới đi vào nẻo đường chân lý cứu độ của Tin Mừng, bởi vì "... Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta". (Rm 5,8)
Đừng tưởng rằng lòng thương xót là sự thương hại ngẫu hứng của Thiên Chúa. Lòng thương xót của Chúa khai mở con đường yêu thương chân chính nhất : không có sự trao đổi trong tình yêu mà chính là sự trao tặng "miễn phí". Tình yêu bao giờ cũng phải là một sự trao tặng, trao tặng lòng tôn trọng, trao tặng sự chấp nhận bản thân, trao tặng sự trung tín để cùng đồng hành, trao tặng thái độ dám liên lụy trong tội lụy và khổ đau cùng với nhau... Trở về với nền tảng bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu hiểu ra rằng nguồn mạch ơn phúc của mình được trào vọt từ chân, từ đôi chân trần ngập ngụa nhưng dám phó dâng cho Chúa chứ không phải từ "cái đầu có tóc", hoặc những cái đầu với mái tóc óng mượt...
Đức Gioan Phaolô nói mọi đường nét của đức Tin Kitô giáo không là gì khác hơn triển khai nền tảng của bí tích Rửa tội. Trở về với bí tích Rửa tội chính là trở về với một giao ước căn bản; nơi đó, người tín hữu chết đi cho con người cũ để thuộc trọn về Chúa, và Thiên Chúa cũng dùng chính cái chết của Con Ngài mà đón nhận trọn bản thân và cuộc đời người Kitô hữu. Giao ước nền tảng ấy thường bị quên trong cuộc so sánh hơn thua với ai khác...
3.3 Tìm lại cấu trúc sự sống : cuộc chơi và cuộc chiến
Từ đã quá quá lâu, con người như có ác cảm với mọi thứ chơi đùa. "Chơi đùa" thường đi với "lêu lỏng", và chơi đùa đồng nghĩa với sự vô trách nhiệm. Cuộc sống quá khó khăn, hành trình làm người quá gian nan mà những kẻ chơi đùa thường không thể nào hoàn thành tốt đẹp được.
Người ta sợ sự chơi đùa đến độ biến những trò chơi trở thành một trách nhiệm nghiêm nghị. Ngay cả những điều vốn là trò chơi, chẳng những cần phải tuân giữ luật chơi, mà còn phải lao động mệt nhọc gian khổ để có được một cuộc chơi thành đạt... Người ta chỉ được cười sau khi đã phải khóc, chỉ được quyền an nhàn sau khi đã lao động cật lực... Nhưng nếu cuộc "chơi trong lao nhọc" ấy thất bại thì sao ? Làm sao để có được cái "sau khi đã..." ? Cuộc chơi đã biến thành cuộc thi; và gay go hơn, trở thành một cuộc chiến... Cuộc thi thì có kẻ rớt người đậu; cuộc chiến thì có kẻ thắng người thua... Cuộc đời như thế vẫn là một bức tranh ảm đạm... như thế giới thời Trung Cổ Tây Âu. Thời Trung Cổ, tư tưởng khổ hạnh thấm đẫm vào đời sống đức Tin khiến cho trần gian này chỉ còn là "nhà tập của Nước Trời"...
Dù sao thì ta cũng phải công nhận rằng chơi là một khát vọng chân thật, sâu xa của con người. Mục tiêu cuối cùng của đời người chẳng phải là niềm vui sao ? và niềm vui được tỏ lộ rõ nét nhất trong cuộc chơi ? Nếu niềm vui dính dáng tới cứu cánh đời người thì cũng phải được bắt đầu một cách nào đó trong nguyên lý của hành trình đời người. Cuộc sống này, ngay từ lúc này và ngay ở trần gian này đã phải ít là có bóng dáng cuộc chơi, dù gian khổ, dù bi đát, dù đau thương vẫn luôn là điều không thể tránh né được. Khi người ta không biết đến chơi đùa, cuộc sống sẽ mang mầu sắc nghiêm nghị, thứ nghiêm nghị làm xấu đi bức tranh Nước Trời chân thực.
Qủa thật, không bao giờ có thể bỏ đi sự lao nhọc trong kiếp người, nhưng cũng không thể từ đó mà loại bỏ tính vui chơi trong cuộc đời. Không thể chống lại cuộc chơi chỉ bằng lao nhọc mà cũng không thể chống lại lao nhọc bằng sự chơi đùa. Chỉ khi lao nhọc con người mới có thể tiến bộ; nhưng chỉ khi vui chơi thì đời sống con người mới thỏa lòng. Trách nhiệm thì vẫn phải đảm nhận, nhưng cuộc đời một con người đâu phải chỉ là trách nhiệm. Ngược lại, cuộc chơi thì vui, nhưng đâu có thể là thứ chơi vô tâm, hời hợt, "trẻ con", như một kẻ ham chơi vô trách nhiệm.
Điều không thể tránh được trong kiếp người, đó là nỗi nỗi xao xuyến sâu xa về vận mạng của đời mình : Đời tôi cuối cùng thì sẽ ra sao ? Người nào giả vờ quên nỗi xao xuyến ấy, kẻ ấy tự mãn cách lố bịch về những gì mình có được. Kẻ nào đối mặt tay-đôi với nỗi xao xuyến căn bản ấy, kẻ ấy không còn đủ an vui thanh thản để sống và phát triển bản thân mình. Quả thật thách đố của kiếp người, trước khi đi đến chỗ có thể vùi dập con người trong sự thất bại, thách đố nặng nề ấy đã "thành công" khi biến phẩm tính đời người thành một cuộc thi, hoặc một cuộc chiến. Không lạ gì khi mà không ít người đã nỗ lực sống... đến độ trở thành một vị "đạo đức đáng kính...sợ".
Đức tin Kitô giáo trước khi đi đến một ơn cứu độ chung cuộc, đã phải bộc lộ tính giải thoát trong chính phẩm tính của hành trình cuộc đời. Đức Tin Kitô giáo có khả năng biến cuộc đời thành một cuộc chơi tình nghĩa, và chính tình nghĩa lại có thể vận dụng mọi năng lực của con người một cách trọn vẹn và sung mãn nhất để đảm nhận trách nhiệm. Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, Thiên Chúa chọn lựa mỗi người chúng ta ngay từ trong lòng mẹ; Thiên Chúa đón nhận chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân... : "Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy". (Rm 5,10).
Thang điểm thi cử được hạ xuống sát mặt đất và nấc thang tình nghĩa được nâng lên tới trời. Một khung trời bao la được mở ra cho cuộc chơi tình nghĩa. Từ nay, cuộc đời không còn phải là cuộc thi, mà chính là một thứ trả nợ nghĩa tình trong niềm vui, trong sự ngọt ngào của ân huệ. Làm gì để đáp lại tình nghĩa mà ta được tặng không, làm gì để vận hành yêu thương được đi vào quy luật đắp đổi mỗi ngày mỗi phong phú hơn... Từ "hòn đất ném đi, hòn chì ném lại"; đến chỗ "bánh ít cho đi, bánh quy cho lại",...và cứ thế mà vui, mà tăng thêm mãi niềm vui của tình nghĩa....
Đức tin thực sự là một cuộc chơi, nơi đó, người tín hữu càng xác tín vào lòng trung tín của Chúa, lại càng có khả năng buông bỏ để đi vào cuộc phiêu lưu tình nghĩa. Lòng xác tín ấy giúp người tín hữu thoát khỏi tình trạng so đo tính toán, cân nhắc được thua; nhưng như một người vừa nắm chắc một kết quả tốt đẹp nhờ tín thác vào lòng từ bi nhân hậu của Chúa, lại vừa huy động tất cả năng lực của mình để đáp đền tình yêu quá lớn lao của Chúa. Có một cuộc chơi trọn vẹn nhất, đức Tin chính là cuộc chơi ấy..
3.4. Tìm lại cấu trúc xã hội : Phòng khám và phòng thi
Ở tầm mức thế giới, người ta có thể nhận ra sự đảo ngược lớn, sự đảo ngược giữa "phòng thi" và "phòng khám". Thế giới có nhiều thứ phòng ban. Nhưng ta cũng có thể phác họa bức tranh thế giới trong hai thứ phòng : phòng thi và phòng khám.
Phòng thi thì tìm kiếm "nửa trên" của nhân loại. Thi sát hạch là cuộc thi lọc lựa những người trên điểm trung bình, đương nhiên cũng là gạt bỏ những thành phần yếu kém dưới trung bình. Cuộc thi tuyển lại còn cao cấp hơn nữa, thi tuyển là chọn những con người ưu tú nhất từ trên xuống mà cả nhiều người trên trung bình, hoặc ưu tú vừa phải cũng phải chịu số phận thi rớt. Nơi phòng thi, mỗi người phải tự mình khẳng định mình, và đảm nhận trách nhiệm về đời mình. Phòng thi đưa xã hội vào trật tự có tính thuyết phục, mỗi người phải ở đúng vị trí của mình, theo đúng như tài năng của mình. Phòng thi khẳng định một sự công bằng, đưa tới xã hội phân công hợp lý. Dĩ nhiên phòng thi bao giờ cũng cần thiết cho sự phát triển xã hội. Nhưng phòng thi cũng là nơi người ta làm toán cuộc đời, làm toán trên số phận con người. Phòng thi đưa con người và tình thế bắt buộc phải dấu đi cái dốt của mình, phải che mắt được giám khảo về khiếm khuyết của mình. Phòng thi luôn đặt con người vào nguy cơ phạm tội, nếu không phải là tội gian dối thì cũng thường lại là tội giả hình.
Phòng khám thì ôm lấy "nửa dưới" của nhân loại. Những người đến phòng khám là những người ít nhiều đã lãnh đủ đòn thù bầm dập của cuộc đời. Phòng khám là nơi gặp gỡ của những người đau yếu, những người kém cỏi, những người thất bại trong phòng thi. Những con người ấy cần tới người khác, cần được hiểu cho bệnh tình riêng biệt của mình. Nơi phòng khám, điều bí ẩn nhất cũng cần được bộc lộ, nơi kín đáo nhất cũng cần được mở ra, những triệu chứng phức tạp nhất cần được trân trọng xem xét. Phòng khám là nơi câu chuyện đời được chia sẻ trong lòng khao khát được hiểu, được đón nhận được cảm thông...
Nếu phòng thi là nơi cần thiết cho sự phát triển xã hội, thì phòng khám lại là nơi cần thiết cho con người được là người chân thật. Con người vốn là sinh vật có bệnh và người sống thật nhất là người dám sống với khuyết điểm của mình. Tự đáy tâm hồn, con người khát khao được sống trong phòng khám; nhưng bài toán xã hội lại bắt con người luôn phải bước vào phòng thi.
Xã hội con người chẳng bao giờ bỏ được phòng thi, nhưng đừng nên đặt tất cả cuộc sống con người vào cuộc thi cử. Ngược lại, điều đúng đắn hơn chính là, phòng thi thì cứ thi, nhưng trước cuộc thi, ngoài phòng thi, và sau cuộc thi, thế giới phải là phòng khám. Không phải ở phòng thi, nhưng là ở phòng khám mà người ta nhận ra được tình thương đẹp của con người với nhau, tình thương nâng đỡ từ chân để mọi người tìm được chỗ đứng thỏa lòng, cho dù là năng lực và đức độ không bằng ai.
Đức Giêsu tuyên bố : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn." (Lc 5,31-32). Sứ mệnh chính yếu của đức Giêsu là thực hiện điều đã được tiên báo trong sách ngôn sứ Isaia : "Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta". (Mt 8,17)
Sự so sánh hơn thua, nỗi lo không được đón nhận... đã biến thế giới này thành một phòng thi khắc nghiệt : môn thi tài năng, môn thi địa vị, môn thi sắc đẹp..., và môn khắc nghiệt nhất là môn thi nhân cách...
Con người dường như không thể bỏ đi bệnh "làm toán". Con người muốn chấm điểm bản thân mình và chấm điểm người khác, thứ chấm điểm chẳng bao giờ công bằng; vì người ta luôn rơi vào tình trạng nhân cách yếu : khoan dung cho mình mà lại đòi hỏi người khác. Khi người ta được lợi trong bài toán bất công, người ta muốn cuộc đời là một phòng thi. Đó là thái độ của người giầu, người ưu tuyển. Chỉ khi người ta rơi vào tình trạng bất lợi, bị vùi dập, bị chà đạp, bị loại bỏ... thì người ta mới dễ nhận ra nỗi khao khát về một "phòng khám bệnh trong cuộc đời"... Đây lại là tâm tình sâu xa của những thân phận nghèo.
Trong cuộc đua của cuộc đời, con người được/bị đặt vào thế cạnh tranh. Cuộc đời không còn là phòng khám, mà hình như cũng không còn là một cuộc thi sát hạch, mà là bầu khí của một cuộc thi tuyển. Sự tiến bộ của người khác luôn hàm chứa nguy cơ bản thân mình bị loại bỏ. Có một diễn viên sáng chói, tôi buộc phải đóng vai phụ; đội bóng mua được một cầu thủ xuất sắc, những cầu thủ khác có nguy cơ phải ngồi ghế dự bị... Công ty nào, tổ chức nào, hiệp hội nào, dòng tu nào, thì cũng luôn cần những con người xuất sắc và xuất sắc hơn nữa, luôn cần những con người tài năng và tài năng hơn nữa... Ở đỉnh cao cuộc đời, luôn là một cuộc chiến không khoan nhượng, cuộc chiến bi đát mà sự sống của người này phải kéo theo cái chết của người khác, sự thăng tiến của người này đòi buộc sự thụt lùi của người khác... Thế giới trên đỉnh cao cuộc đời y hệt cuộc ganh đua của các hoàng tử để được vua cha truyền ngôi...
Trong khi đó, cuộc sống ở đáy cuộc đời lại là một sự chia sẻ sớt chia thông thoáng hơn nhiều. Chị ngã em nâng, lá lành đùm lá rách, tối lửa tắt đèn...., nơi đó sự cảm thông dễ dàng hơn nhiều. Khi sự hiện diện của tha nhân không phải là một sự đe dọa, tha nhân không phải là "địa ngục", bao nhiêu nét dễ thương và đáng thương, của tha nhân lại tỏ lộ rõ ràng hơn bao giờ hết. Lạ lùng hơn nữa, thái độ cúi xuống những thân phận trần trụi lại thường làm nẩy sinh tâm tình thương cảm. Ở cùng đáy cuộc đời, con người bỗng bừng tỉnh khỏi cơn say thăng tiến để tìm khát vọng yêu thương, khát vọng được chấp nhận như một ơn huệ tặng-không.
Nhưng đừng tưởng lầm Kitô giáo là nơi ve vuốt ủy mị làm tiêu tan sức mạnh vươn lên. Đừng tưởng rằng Kitô giáo là thuốc phiện để quên đi nỗi khổ trước mắt và chạy trốn vào một thế giới giả tưởng. Để lặn được xuống tầng sâu của phòng khám, con người cần có, đúng hơn là cần được củng cố trong tình yêu Thiên Chúa, để có một nhân cách mạnh. Nhân cách mạnh chính là : đòi hỏi mình và khoan dung cho người khác. Ngược lại nhân cách yếu là kẻ khoan dung cho mình mà lại đòi hỏi người khác. Người nhân cách mạnh luôn hiểu ra chính mình đã không trung tín làm lời cho đúng với đồng vốn mà mình được lãnh nhận; đồng thời người nhân cách mạnh cũng luôn nhận ra trách nhiệm của mình nơi gánh nặng lịch sử mà anh chị em của mình phải mang vác...
3.5 Thánh hoá và nhân hoá vũ trụ
Đời sống thánh hiến không phải là lối sống xa lạ và riêng biệt trong Giáo hội và trong thế giới con người. Ngược lại, đời sống thánh hiến chính là lời chứng, là công bố một lời mời gọi cụ thể về “giải pháp Nước Trời” cho thế giới.
Lời khấn "vâng phục" nghĩa là tự nguyện vâng phục ý Chúa qua bề trên. Điều đó không bao giờ có ý nghĩa giản lược ý Chúa vào ý bề trên, nhưng ngược lại, là chuyển nghĩa hành động vâng ý bê trên trở nên vâng ý Chúa. Điều đó hàm ý nghĩa muốn thánh hóa toàn bộ cuộc đời trong mối tương quan ngã vị với Chúa. Người tu sĩ muốn công bố phẩm tính siêu hình của chính trị (theo nghĩa nguyên thuỷ Polis : đô thị; politic : chuyện đời sống đô thị), tức là công nhận quyền lãnh đạo của Chúa trên cuộc sống con người với nhau. Lời khấn ấy chủ đích nhằm chuyển toàn bộ đời sống trần thế vào ý nghĩa đức Tin và thánh hóa đời sống ấy theo quy luật tự nguyện và yêu thương của Nước Trời.
Lời khấn "khiết tịnh" : hàm ý nghĩa nhân hóa toàn bộ tương quan con người với nhau. Khiết tịnh nghĩa là tôn trọng phẩm giá một con người và không bao giờ được giản lược một ngã vị vào thân xác hoặc phái tính; không bao giờ được đối xử với ai đó như một công cụ mua vui cho mình, và cũng không bao giờ được sử dụng thân xác hoặc phái tính như một công cụ thuần túy mà không mở ra để gặp gỡ ngôi vị. Khấn khiết tịnh nghĩa là cam kết thực hiện "phẩm tính siêu hình" của thân xác và phái tính (nói cụ thể : tính dục là để diễn tả tình yêu, tính dục không tình yêu là lỗi khiết tịnh), như nẻo đường nối kết mọi tương quan con người với nhau thực sự đúng với phẩm giá người (vấn đề này được trình bày cách tiêu biểu trong lãnh vực tính dục, nhưng không chỉ đóng khung trong lãnh vực tính dục mà thôi).
Lời khấn "khó nghèo" hàm nghĩa lời công bố quy luật nghĩa tình với Chúa và với nhau qua việc sử dụng của cải (cũng thế, Lời khấn này được trình bày cách tiêu biểu trong lãnh vực của cải, nhưng không chỉ đóng khung trong lãnh vực của cải mà thôi). Qui luật đó có nghĩa là không bao giờ được sử dụng của cải (gồm cả tài năng, địa vị, đức độ...) như thế-mạnh để giành giựt hoặc đổi chác lấy tình nghĩa. Tương quan ngã vị chỉ có thể diễn tiến theo quy luật nghèo, nghĩa là được tặng không, mắc nợ nghĩa tình, lãnh nhận với lòng tri ân... Chỉ như thế của cải (gồm mọi thứ sự vật) mới thể hiện được phẩm tính siêu hình của nó, tức là nhịp cầu nối kết con người với Chúa và với tha nhân trong tình nghĩa.
Tạm Kết
Nếu triết lý giáo dục hiện nay nhằm xây dựng năng lực qua ba khía cạnh : "thần thái" (attitudes) - kiến thức (knowledges) - và kỹ năng (skills), thì Kitô giáo cho rằng chính "thần thái" là nền tảng và là yếu tố mang lại ý nghĩa cho toàn bộ triết lý giáo dục, định hướng cho kiến thức và kỹ năng. Thần thái ấy, dĩ nhiên, không chỉ dừng lại ở phong cách học tập, nhưng gồm gói linh đạo chân thực của cả một vận mạng con người.
Chú thích:
[7] Xc. Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân.
[8] Trong mỗi câu tục ngữ, người ta hiểu là sự trao đổi sòng phẳng, có qua có lại; nhưng ở đây, xin tạm ráp nối hai câu để diễn tả tính đắp đổi thăng tiến lên dần...